Tài liệu Kỹ thuật nuôi cá trong ao - Pdf 30

KỸ THUẬT NUÔI CÁ AO
Ts. Bùi Minh Tâm, Ts. Lam Mỹ Lan
Bộ môn Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy sản, Đại học Cần ThơLời tựa
Mùa lũ năm 2000, mùa lũ lớn nhất trong
40 năm qua ở vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long, đã gây thiệt hại nghiêm trọng
ảnh hưởng nhiều đến đời sống của gần
5 triệu dân trong vùng, trong đó, đáng
kể nhất là thiệt hại về nông nghiệp và rất
nhiều nông hộ đang phải đương đầu với
những khó khăn trong các hoạt động
canh tác sau lũ, đặc biệt là sự thất thu
của các hộ nuôi thủy sản.
Đáp ứng lời kêu gọi giúp đỡ khắc phục
lũ của Chính phú Việt Nam và Ủy Ban
Nhân Dân các tỉnh An Giang, Cần Thơ
và Đồng Tháp, Tổ chức Lương - Nông
(FAO) đã hỗ trợ kịp thời cho các hộ
nông dân nghèo và bị thiệt hại nặng nhất
ở 3 tỉnh nêu trên. Hoạt động chính của
chương trình cứu trợ khắc phục sau lũ
của FAO là cung cấp lượng cá giống
cho các nông hộ bị thiệt hại nhằm giúp
họ nhanh chóng phục hồi công ăn việc
làm.
Trong khuôn khổ hoạt động của chương
trình hỗ trợ khắc phục sau lũ của FAO ở
tỉnh An Giang (có tên gọi là “chương

Thuật ngữ
Nuôi đơn: chỉ nuôi một loài cá trong ao
Nuôi ghép: nuôi từ hai loài cá trở lên trong ao
Cá ăn tạp: cá ăn nhiều loài thức ăn tự nhiên
Cá ăn động vật: cá ăn các động vật nhỏ trong nước
Đối với các nông hộ vừa và nhỏ ít có khả năng đầu tư cho ao cá, thì nuôi ghép cá có nhiều
lợi ích hơn so với nuôi đơn. Vì thế, tài liệu này chủ yếu giới thiệu về kỹ thuật nuôi nhiều loài
cá khác nhau trong cùng một ao. Cụ thể là:
- Một số loài cá có thể thả nuôi ghép.
- Tỉ lệ các loài cá trong các ao nuôi ghép khác nhau.
- Cách bón phân cho ao và cho cá ăn.
- Cách cải tạo ao để thả cá
- Cách thu hoạch cá
Một số điểm cần lưu ý khi thiết kế một ao mới.
2. Các loài cá thả nuôi ghép
Nhiều loài cá có thể thả trong ao nuôi ghép như cá rô phi, cá chép, cá mè trắng, cá trôi Ấn Độ, cá hường, cá tai tượng, cá sặc rằn
và cá tra. Có thể thả các loài cá này với tỉ lệ khác nhau để tận dụng nhiều loại thức ăn tự nhiên sẵn có trong ao. Khi thả loài cá ăn
động vật, nên ghép thêm một hoặc vài loài cá ăn tạp nhằm tận dụng triệt để thức ăn dư thừa cũng như thức ăn tự nhiên có trong
ao.
Cá Rô phi
Cá rô phi là loài cá ăn tạp, có thể sống, sinh trưởng và sinh sản trong vùng nước ngọt và lợ.
Cá lớn nhanh trong điều kiện ao có bón phân, chất thải hoặc cho ăn phụ phẩm nông nghiệp
như cám gạo. Tùy thuộc vào điều kiện ao nuôi và nguồn thức ăn sẵn có, cá có thể đạt trọng
lượng 0,4-0,6 kg/con/năm.
Cá Mè trắng
Trong ao nuôi, cá mè trắng sống ở tầng mặt và tầng giữa. Cá lớn nhanh khi ăn thức ăn tự
nhiên hay thức ăn bổ sung bằng phụ phẩm nông nghiệp. Sau một năm, cá có thể đạt trọng
lượng 1 kg/con.
Cá Hường
Cá hường thuộc loại ăn tạp, cá sử dụng tốt phân gia cầm và phân heo. Khi nuôi, cho cá ăn

cùng cỡ để có thể thu hoạch được cá lớn đều nhau.
Thời gian thả cá
Tránh thả cá vào lúc nắng nóng, tốt nhất là vào lúc sáng sớm hay chiều mát. Nếu mua cá từ
trại giống đựng bằng bao ny lông, nên ngâm bao cá trong ao khoảng 15-30 phút. Sau đó mở
bao, tát một ít nước ao vào bao và từ từ thả cá ra.
Mặc dù có thể thả cá quanh năm nhưng người nuôi thường thả vào mùa mưa và thu hoạch
vào mùa khô. Tuy nhiên, nếu nông hộ ở trong vùng đất thấp thuộc Đồng bằng sông Cửu
Long (vùng lũ), cần thiết kế bờ bao quanh ao chắc chắn hoặc rào lưới trước khi thả cá nuôi.
Đối với vùng đất ngập sâu vào mùa lũ, tránh thời gian mưa gió bằng cách thả cá sau mùa lũ
lớn.
Tỉ lệ cá thả nuôi như thế nào?
Việc chọn thành phần cá thả tùy thuộc vào nguồn cá giống và loại thức ăn nông hộ có khả
năng cung cấp trong quá trình nuôi (như bón phân cho ao, sử dụng thức ăn bổ sung...), sở
thích của người nuôi và thị trường tiêu thụ cá.
4. Nuôi cá trong ao có bón phân
Các loài cá ăn tạp có thể được nuôi trong ao bón phân chuồng hoặc phân vô cơ. Tùy thuộc
vào nguồn chất dinh dưỡng cung cấp cho ao, người nuôi có thể thả cá với tỉ lệ khác nhau.
Nếu ao nuôi sử dụng phân gà, vịt hay phân heo, thành phần cá thả như Bảng 1:
Bảng 1. Thành phần cá thả nuôi trong ao không bón phân chuồng
Loài cá Tỉ lệ thả (%)
Rô phi 40
Cá chép 15
Cá tra 15
Cá hường
10
Cá trôi 10
Cá mè trắng 5
5. Nuôi cá có tính ăn thực vật mềm
Thực vật mềm bao gồm rau muống, lá khoai lang, bèo cám, lá chuối, cỏ và các rau cải khác.
Nếu nguồn thức ăn này có sẵn và phong phú nên chọn nuôi cá tai tượng. Mật độ cá thả từ

thống ao nuôi.
Nếu muốn nuôi cá có tính ăn động vật như cá lóc, có thể ghép thêm các loài cá khác như
Bảng 3. Và nếu nuôi ghép cá rô đồng, có thể áp dụng tỉ lệ thả ghép theo Bảng 4.
Trong ao nuôi cá lóc và cá rô, mật độ cá thả thường từ 10 - 15 con/ m2. Thức ăn cho cá có
thể dùng cá tạp, phụ phế phẩm từ lò mổ hoặc đầu, da cá, đầu tôm trộn với cám. Lượng
thức ăn cho cá như trong Bảng 5.
Vỏ và đầu tôm
Cám
Bảng 3, 4
Loài cá Tỉ lệ thả (%)

Loài cá
Tỉ lệ thả (%)
Cá lóc 80

Cá rô 80
Cá rô phi 15

Cá sặc rằn hay cá hường 15
Cá tra 5

Cá chép 5
Bảng 5:
Tháng nuôi Kg thức ăn cho 100 kg cá/ngày
1 8
2 8
3 7
4 6
5 5
6 5

và chất lượng thức ăn và chất lượng nước ao. Thường các nông hộ thu được 280 - 600 kg
cá từ 100 m
2
ao sau một vụ nuôi từ 6 đến 8 tháng.
9. Bạn muốn bắt đầu nuôi cá?
Trước khi bắt đầu nuôi cá, cần phải xem xét 3 yếu tố quan trọng:
Khả năng cung cấp giống?
Vị trí có thích hợp để đào ao không?
Xây dựng mô hình nuôi nào cho thích hợp ?
Khả năng cung cấp giống
Cá giống có thể dễ dàng đánh bắt ngoài tự nhiên hoặc có thể mua được từ các trại sản xuất
cá giống.
Chọn vị trí xây dựng ao
Phải chọn nơi có điều kiện thuận tiện cho việc trao đổi nước, ít nhất là trong mùa
mưa, tránh những nơi dễ bị ngập lũ sâu.
Tránh những vùng đất phèn vì độ chua của nước có thể làm chết cá. Không nên đào
ao ở những vùng bị nhiễm mặn, vùng bị ảnh hưởng của chất thải công nghiệp.
Ao phải được thiết kế gần nhà ở để tiện cho việc chăm sóc và phòng mất trộm.
Ánh sáng cho ao rất quan trọng vì nó giúp cho thức ăn tự nhiên phát triển trong ao do
đó để xung quanh ao thoáng cần chặt bỏ những cây lớn.
Giao thông thuận lợi cho việc chuyên chở thức ăn và bán sản phẩm.
Thiết kế ao
Để thuận tiện cho việc quản lý, ao nên thiết kế có diện tích từ 200-1000 m2. Ao có dạng
hình chữ nhật sẽ giúp cho việc thu hoạch bằng lưới dễ dàng hơn. Thông thường chiều dài ao
được thiết kế lớn hơn chiều rộng từ 3-4 lần. Độ sâu của ao dao động từ 1-1,5m, tuy nhiên,
ở những vùng bị nhiễm phèn thì không nên đào sâu. Thay vào đó, nên đắp bờ cao khoảng
1,5 m. Bờ phải đủ rộng để tránh nước rò rỉ và nhất thiết phải cao hơn đỉnh lũ.
Ao phải được thiết kế có cống cấp và thoát nước. Có thể lợi dụng độ nghiêng tự nhiên của
địa hình để chọn vị trí đặt cống cấp và thoát nước. Cống có thể được làm bằng ống nhựa
PVC, xi măng hoặc ống sành với đường kính từ 15 - 20 cm. Cũng có thể xây cửa cống bằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status