Luận văn: Hành vi gây hấn của học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 30

Luận văn: Hành vi gây hấn của học sinh Trung học cơ sở
trên địa bàn thành phố Hà Nội
MỤC LỤC
22

DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gây hấn là một hiện tượng xã hội diễn ra khắp mọi nơi, mọi nền văn
hóa, và được các nhà tâm lý học xã hội đặc biệt quan tâm. Gây hấn là hành vi
cố tình làm tổn hại về thể chất hay tinh thần người khác hoặc bản thân. Kết
quả nghiên cứu khẳng định, hiện tượng tâm lí này xuất hiện thường xuyên
trong các tương tác xã hội và sự ảnh hưởng tiêu cực của hành vi này là khó
lường trước được. Gây hấn không chỉ thể hiện đơn giản ở việc khích bác, cố
tình thêu dệt câu chuyện làm tổn thương người khác hay giải quyết tình huống
bằng cách đấm đá nhau giữa các cá nhân và các nhóm. Những chuyện thanh
toán lẫn nhau, thuê mướn giết người, hay khủng bố, chiến tranh đều là biểu
hiện của gây hấn ở cấp cá nhân, nhóm, quốc gia hay quốc tế. Gây hấn có mặt
ở khắp nơi, từ các chuyện xích mích nho nhỏ giữa những đứa trẻ trong gia
đình, chuyện bố mẹ đánh mắng con hay bạo lực vợ - chồng, đến chuyện bắt
nạt học đường, nơi công sở hay công cộng; từ việc công kích lẫn nhau giữa
các quốc gia đến những cuộc ném bom xâm lược , tất cả đều nhằm mục đích
làm tổn thương nhau về mặt tâm lí, thể chất hay huỷ hoại tài sản.
Học sinh THCS là giai đoạn phát triển không cân đối cả thể chất và tâm
lý. Đặc điểm nổi bật của độ tuổi này là sự phát triển mạnh mẽ của tự ý thức
thể hiện ở xu hướng khẳng định “tính người lớn” của bản thân. Tuy nhiên lứa
tuổi học sinh THCS còn hạn chế về nhiều mặt: 1) Nhận thức: Đây là lứa tuổi
ham hiểu biết, dễ tò mò và thích khám phá, tiếp thu rất nhanh cả cái tốt lẫn cái
xấu, tuy nhiên các em lại chưa nhận thức được cái gì nên làm, cái gì không
nên làm, vì vậy rất dễ tập nhiễm những hành vi xấu. 2) Khả năng kiểm soát
cảm xúc: Các em rất nhạy cảm, dễ xúc động nhưng lại không chế ngự được

THCS. Việc nghiên cứu hành vi gây hấn của học sinh THCS sẽ giúp các nhà
giáo dục, các bậc phụ huynh nhận diện hành vi gây hấn và các yếu tố ảnh
hưởng tới hành vi gây hấn của học sinh THCS, để từ đó có những biện pháp tác
động phù hợp và kịp thời nhằm giảm thiểu những hành vi gây hấn của các em.
Xuất phát từ những lý do trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Hành vi
gây hấn của học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội ”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng hành vi gây hấn của học sinh THCS, các yếu tố
ảnh hưởng tới thực trạng. Từ đó, đề xuất một số biện pháp nhằm giảm thiểu
hành vi gây hấn của học sinh THCS
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện hành vi gây hấn của học sinh THCS
3.2. Khách thế nghiên cứu
202 HS thuộc 3 khối 6,7,8 của trường THCS Tân Hội và THCS
Nguyễn Bỉnh Khiêm
4. Giả thuyết khoa học
Hành vi gây hấn của học sinh THCS có biểu hiện ở 4 nhóm: gây hấn
tinh thần, gây hấn thể chất, gây hấn kinh tế và gây hấn tình dục. Trong đó gây
hấn tinh thần có biểu hiện nhiều nhất
Có sự khác nhau về mức độ hành vi gây hấn giữa học sinh nam và nữ,
giữa học sinh các khối lớp và các trường với nhau.
Hành vi gây hấn của học sinh THCS chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
trong đó bản thân học sinh là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số lý luận về hành vi gây hấn, hành vi gây hấn của học
sinh THCS, các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng hành vi gây hấn của học sinh.
77
- Khảo sát thực trạng hành vi gây hấn và các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi
gây hấn của học sinh THCS Tân Hội và THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm.

nghiên cứu trên thế giới. Những công trình nghiên cứu hiện có tập chung chủ
yếu theo 2 hướng cơ bản sau:
Một là: Nghiên cứu thực trạng hành vi gây hấn
Mặc dù hầu hết các trường học trên thế giới bằng cách này hay cách
khác đều có những quy định cấm trừng phạt học sinh, tuy nhiên, tình trạng
gây hấn học đường vẫn không ngừng gia tăng và đạt đến mức báo động cấp
quốc gia.
Ở Nhật Bản, báo cáo của chính phủ cho thấy tình hình bắt nạt hiện rất
phổ biến trong trường học mà hầu hết học sinh từng trải qua - hoặc là nạn
nhân hoặc là thủ phạm. Báo cáo cho biết tình trạng bắt nạt xảy ra hầu hết ở
mọi học sinh bất kể thành phần gia đình xuất thân và đặc trưng cá nhân [8].
Theo Bộ GD Nhật Bản, trong năm 2007 con số những vụ bắt nạt trong học
đường ở nước này là 124.898 vụ. Trong cùng năm, con số HS tự tử ở Nhật
Bản là 171 vụ, trong số này có 6 HS do bị bắt nạt mà tự tử. [9]
Ở Hàn Quốc, theo thống kê cho thấy gần 13,2% HS nam và 5,8% HS
nữ từ lớp 4 tới lớp 12 bị các bạn cùng lớp đánh hoặc làm tổn thương. Theo kết
quả khảo sát của Quỹ phòng chống bạo lực thanh niên Hàn Quốc tháng 11 và
12 năm 2009, trong số 4.073 HS tại 64 trường Tiểu học và Trung học, 20%
thừa nhận từng bị bắt nạt ở trường, 63% nạn nhân phải chịu đòn bạo lực ngay
khi mới học Tiểu học. Con số này cao hơn 6 - 7% so với số liệu thống kê năm
99
2007 (56,1%) và năm 2008 (56,8%), tệ nạn này xảy ra nghiêm trọng đối với
HS nữ hơn HS nam. Khoảng 36% HS Hàn Quốc coi việt bắt nạt như một trò
đùa, 20% thừa nhận hành vi bắt nạt bạn là không có lý do đặc biệt. [13]
Ở Úc, tháng 7/2009 người đứng đầu cơ quan GD Bang Queensland cho
biết tình trạng gây hấn học đường ở nước này đang gia tăng một cách đáng
sợ. Riêng trong năm 2008 có 55.000 HS trong đó gần một nửa là nữ bị đình
chỉ học tập vì vấn đề gây hấn. Còn ở miền nam nước Úc, trong năm 2008 có
175 vụ gây hấn nghiêm trọng đã xảy ra liên quan tới HS. Cụ thể là năm 2008,
những xung đột do các nam sinh gây ra chiếm 76%. [28]

đạo quốc tế thì có 20% - 65% trẻ em trên thế giới liên quan tới bạo lực. [9]
Hai là: Các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi gây hấn của học sinh
Những tranh cãi xung quanh chủ đề trừng phạt trẻ em ở trường học
luôn mang tính quốc tế. Ở Thụy Điển, người ta đã tranh luận một cách rộng
rãi và sôi nổi về dự thảo luật cấm đánh đập trẻ em và nghiêm cấm cha mẹ
lăng mạ hoặc ngược đãi dẫn đến mức trẻ rối loạn tinh thần. Trong khi đó, ở
Hoa Kỳ, hiện nay mới chỉ có 8 bang ban hành luật tuyệt đối cấm trừng phạt
thân thể trong trường học. [8]
Ở Hàn Quốc,theo điều tra, số HS thường xuyên bắt nạt các bạn HS
khác thường hay xem phim bạo lực, hoặc do hoàn cảnh gia đình, 51,5% người
được hỏi thừa nhận, thường xuyên chơi, xem phim và game bạo lực. [9]
Ở Đức: Từ sau vụ tấn công ở thành phố Erfurt năm 2002, độ tuổi được
phép sử dụng súng cho các mục đích giải trí, thể thao…tăng thêm 3 năm nữa, lên
mức 21 tuổi. Các nhà sản xuất trò chơi máy tính cũng được yêu cầu giới hạn các
nhóm tuổi cho mỗi trò chơi. Các chuyên gia tâm lý của Đức cho rằng, nguyên
nhân là các em bị ức chế tâm lý do sức ép phải đạt kết quả cao trong học tập và
phải tham gia một khối lượng lớn các hoạt động ngoại khóa. [8]
1111
Ở Pháp: Nghiên cứu của tiến sĩ Catherine Blaya thuộc đại học
Bordeaux 2 khoảng 20% - 40% nạn nhân của những vụ bạo lực tái diễn chính
những hành động bạo lực mà các em đã từng phải chịu đựng nhằm vào các
nạn nhân khác. [28]
Như vậy, trên thế giới hành vi gây hấn của học sinh đã và đang diễn ra với
mức báo động ở hầu hết các quốc gia. Những nghiên cứu trên đây cho thấy vấn
đề HVGH được bàn đến thường lồng ghép trong chủ đề bạo lực học đường. Các
nhà khoa học cũng chỉ ra rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến HVGH của trẻ
em: giáo dục gia đình, truyền thông (phim ảnh/trò chơi/game…), kiểm soát của
xã hội đối với các HVGH… Đây chính là tiền đề cho những nghiên cứu tiếp
theo đi sâu vào các khía cạnh của HVGH nhằm giảm thiểu hành vi gây hấn tạo
nên một môi trường an toàn, thân thiện cho con người.

động thiết thực và tích cực để ngăn chặn các hình thức bạo lực ở học sinh,
trong đó chú ý đến những khác biệt về giới trong HVGH [7]
Khảo sát về thực trạng HVGH của học sinh THCS của Th.S phạm Văn
Tư, Khoa Công tác xã hội, trường ĐH Sư phạm Hà Nội, đối với 200 học sinh
của trường THCS Trung Chính (huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh) (năm 2010)
cho thấy: Các em tụ tập gây gổ có thể do bản thân làm “đầu tàu” của vụ việc
hay là những người có liên quan trong sự việc gây mâu thuẫn, xích mích.
Cũng có thể do bị lôi kéo, hùa theo số đông, hoặc bị ép buộc tham gia tụ tập
nếu không cũng sẽ bị liên lụy. Để tránh nguy cơ trở thành nạn nhân thì những
người chỉ ở góc độ chứng kiến cũng rất có thể trở thành kẻ đi gây hấn. [5]
Ba là, Các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu hành vi gây hấn
PGS.TS Lê Văn Anh trong bài viết “Nguyên nhân và giải pháp ngăn
ngừa hành vi đánh nhau ở học sinh trong nhà trường phổ thông” trong Tạp
chí Giáo dục số 307, tr 25 – 27/2013. Tác giả đã nêu ra 5 dấu hiệu nguy cơ
gây ra hành vi đánh nhau: cách cư sử “nội tâm” hay “biểu lộ”, một số yếu tố
tâm lý cá nhân, yếu tố môi trường gia đình, yếu tố môi trường xung quanh
1313
hay cộng đồng. Ông cũng đưa ra 4 hình thức hành vi đánh nhau: Bạo lực thân
thể, bạo lực tình dục, bạo lực xã hội và bạo lực tình cảm, lời nói. Từ đó tác giả
đưa ra các nguyên nhân và giải pháp. [9]
Tác giả Nguyễn Hữu Hợp, “Một số vấn đề về xây dựng và sử dụng bài
tập nhận xét hành vi trong dạy học môn đạo đức theo chương trình mới”, tạp
chí Giáo dục, (2006). Với công trình này, tác giả đã đưa ra một cách khám
phá mới đối với hành vi của trẻ. Từ đó, để chúng ta nhìn nhận xem hành vi ấy
của trẻ có phù hợp với chuẩn mực đạo đức hay không và có biện pháp tác
động kịp thời. [1]
Tác giả Trần Quốc Thành, “ Các biểu hiện của văn hóa học đường ở trường
phổ thông”, Hội thảo toàn quốc, Hội khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam, Tiền
Giang, 39 – 43/ 2009. Công trình này góp phần nhận biết, đánh giá được hành vi
của trẻ đồng thời để chúng ta đối chiếu hành vi của trẻ xem nó có phù hợp với văn

trong môi trường kích thích, các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp
thành một tình huống và tiến trình của ứng xử là để thích ứng có định hướng
nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh. Khi nhấn mạnh về tính khách quan,
tức là các yếu tố bên ngoài kích thích cũng như phản ứng đều là những hiện
tượng có thể quan sát được chứ không như các hiện tượng bên trong thì nói là
ứng xử. Khi nhấn mạnh mặt định hướng mục tiêu thì gọi đó là hành vi. [11]
Quan điểm của trường phái phân tâm cho rằng: hành vi là sự thỏa hiệp
bắt nguồn từ sự xung đột trong nguyên tắc khoái cảm, nguyên tắc thực tế và
nguyên tắc lý tưởng là những xung lực của “cái ấy” và những cấm kị của “cái
siêu tôi” được thống nhất trong bản thân “cái tôi”. [10]
L.X.Vưgôtxki khẳng định, hành vi người và hành vi động vật có cấu trúc
hoàn toàn khác nhau. Theo ông cấu trúc hành vi của con người bao gồm kinh
nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm kép. Các kinh nghiệm này
1515
có điểm chung là nội dung của chúng đều xuất phát từ lao động, từ quá trình
truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ người này tới người
khác và từ việc lĩnh hội kinh nghiệm của cá nhân mỗi người. [10]
Theo X.L.Rubinstein tập hợp các hành vi ứng xử hay các thao tác ít
nhiều có ý thức tạo thành hoạt động của con người. Trong đó điểm đặc trưng
của thao tác là có sự tham gia của ý thức vào điều chỉnh hành động. Đối với
hành vi ứng xử thì cần có sự tham gia của tự ý thức vào điều chỉnh cách hành
động. Như vậy, trong cấu trúc của hoạt động, ngoài các phản ứng sinh lý hay
vận động được xem như là những trả lời máy móc đối với các kích thích bên
ngoài, còn có các thao tác có ý thức và hành vi ứng xử có ý thức. [28]
Theo A.N.Lêônchev “hành vi không phải những phản ứng máy móc
của một cơ thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động”. [9]
Theo GS.VS. Phạm Minh Hạc: “Hành vi là những biểu hiện bên ngoài của
hoạt động và bao giờ cũng gắn liền với động cơ, mục đích, phương tiện”. [10]
Theo từ điển tiếng việt: “Hành vi là toàn bộ nói chung những phản
ứng, cách cư sử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh

nhà tâm lý học Sigmund Freud; của Konrad Lorenz…
Bàn về chủ đề hành vi gây hấn, các nhà tâm lý học xã hội đặt ra các câu
hỏi xung quanh nguồn gốc của nó: Liệu hành vi gây hấn là do bẩm sinh hay do
học hỏi từ xã hội mà có? Hành vi gây hấn có nguồn gốc từ những căng thẳng
tâm lý nội tại hay do bên ngoài? Khuynh hướng chung khi đi phân tích vấn đề
này hiện nay tập trung vào các quan điểm: Nguồn gốc sinh học của hành vi gây
hấn; nguồn gốc tâm lý và sự tập nhiễm xã hội của hành vi gây hấn.
- Thuyết bản năng về gây hấn:
Gây hấn có nguồn gốc là bẩm sinh? Quan điểm tự nhiên về hành vi gây
hấn được Darwin đưa ra trong thuyết tiến hóa của loài người, căn cứ trên
1717
nguyên lý chọn lọc tự nhiên. Đấu tranh sinh tồn theo sự chọn lọc tự nhiên sẽ
theo xu hướng kẻ mạnh lấn át kẻ yếu, khi xảy ra các tình trạng đói khát, khan
hiếm thức ăn. [7]
Thuyết bản năng của Sigmund Freud (1920) và Konrad Lorenz đã xem
gây hấn như là một bản năng bẩm sinh của con người. S. Freud cho rằng con
người bị thúc đẩy bởi hai bản năng chính yếu nhất: bản năng chết (Thanatos) và
bản năng sống (Eros). Với bản năng sống, cá nhân có những nhu cầu cần thiết
cho hoạt động sống của mình như ăn uống, tình dục, được bảo vệ, được yêu
thương…con người sẽ tìm các cách thức khác nhau nhằm thỏa mãn những ham
muốn này, sẽ có xu hướng gây hấn một khi những nhu cầu này bị cản trở thỏa
mãn, bị đe dọa…; ngược lại, với bản năng chết được xem như khát vọng vô thức
mong muốn thoát ra khỏi những lo lắng, thất vọng, căng thẳng của cuộc sống
đem lại, của nội giới phát ra…để đi tới sự chấm dứt cuộc sống, khi đó cá nhân sẽ
được giải thoát, bản năng này trước hết hướng vào sự tự hủy hoại bản thân, sau
đó là hướng tới, phóng chiếu ra những đối tượng khác. [7]
- Thuyết động lực về gây hấn:
Các thuyết động lực (drive theories) quan tâm đến động cơ gây tổn hại
cho người khác nhấn mạnh rằng nguồn gốc của gây hấn không phải do bản
năng sống, do gen hay do đặc điểm giải phẫu cơ thể quy định. Thuyết này loại

mạnh mẽ, sôi nổi, quyết đoán, còn việc có thuộc gây hấn hay không lại phụ
thuộc vào cách thức và đối tượng mà chủ thể xuất tâm những năng lực hay
phẩm chất của mình vào. Những người có xu hướng gây hấn thường do trạng
thái tâm lý gây ra dễ có vẻ “bốc đồng”. Trong giai đoạn trước các nhà tâm lý
học sử dụng khái niệm xâm kích là chủ yếu [7]
1919
Theo nhà tâm lý học S. Freud, xâm kích là sự phóng chiếu một cách có ý
thức của bản năng về cái chết. Điều đó có nghĩa là tính xâm kích bị chi phối hoàn
toàn bởi ý thức của con người. Hành vi đó làm tổn hại đến người khác. [28]
Theo J.P.Chaplin, xâm kích là sự tấn công, là hành động không thân
thiện chống lại một cách trực tiếp hoặc gián tiếp lên một đồ vật hay một con
người nào đó. [28]
Theo nhà tâm lí học Mỹ A.H. Muray, xâm kích là một nhu cầu của con
người. Bản chất của nó là nhằm tấn công hoặc xúc phạm, nhằm hạ thấp, làm
tổn thương, nhạo báng hay buộc tội của người khác một cách có chủ ý. [7]
Theo A.Adler Bandura, những hành vi đem lại hậu quả tiêu cực được
gọi là sự xâm kích. Theo ông xâm kích phụ thuộc một số yếu tố như: Giới,
tuổi, địa vị xã hội của người thực hiện hành vi xâm kích. Với cách hiểu như
vậy, ông đã mở rộng khái niệm xâm kích. Ông coi bất kể hành vi tiêu cực nào
cũng được gọi là xâm kích[7]
Theo Từ điển Tâm lí học, xâm kích là những hành vi của cá nhân hay
tập thể gây thiệt hại về tâm lí hoặc thể chất, thậm chí trừ diệt người khác hay
nhóm khác [30].
Trong cuốn Tâm lí học xã hội của tác giả K.nud. Larsen & Lê Văn Hảo
“xâm kích được định nghĩa là hành vi cố ý gây hại về mặt thể chất hoặc cảm
xúc. Hay nói cách khác, đó là hành vi mang tính tàn phá hoặc trừng phạt
hướng tới người hoặc vật” [28]
Trong đề tài nghiên cứu “ Hành vi gây hấn của học sinh trong trường
trung học phổ thông”, PGS.TS Trần Thị Minh Đức (năm 2010) cho rằng “Gây
hấn/xâm kích là hành vi làm tổn thương đến người khác, làm tổn thương

Trong trường hợp trên nếu N dừng lại ở mức độ hạ thấp đối với H mà
chưa có một sự cưỡng bức nào thì đó là biểu hiện của hành vi gây hấn, nhưng
nếu N sử dụng sức mạnh vũ lực; Ví dụ dùng nắm đấm, gậy gộc đánh H, gây
tổn thương về cơ thể cho H thì đó lại là biểu hiện của hành vi bạo lực
Trong gây hấn có thể có hành vi bạo lực, trong bạo lực cũng có thể biểu
hiện rõ thái độ gây hấn. Tuy nhiên chúng không phải là một. Bạo lực chủ yếu
mổ xẻ hành vi ở góc độ đối tượng bị hại, kết quả của hành động, cụ thể là số
thương vong, số thiệt hại về của cải và vật chất… nếu chưa gây hậu quả
“đáng tiếc” thì chưa gọi là hành vi bạo lực. Còn hành vi gây hấn xem xét ở
bản chất hành động, tức là hành động đó có phải là sự cố ý của cá nhân không
và cố ý đó bao gồm cử chỉ, hành động, lời nói có thể chỉ có nguy cơ đe dọa sự
an toàn của một cá nhân hoặc đã làm tổn thương cá nhân khác. Với ý nghĩa
này thì hành vi gây hấn có ý nghĩa rộng hơn hành vi bạo lực [7]
Như vậy theo nghĩa hẹp, bạo lực là gây hấn theo hình thức cực đoan
nhất và khó chấp nhận nhất. Xét ở một khía cạnh nào đó gây hấn chính là
động lực, là nguyên nhân chính dẫn đến bạo lực
Từ sự phân tích trên chúng tôi cho rằng: “Hành vi gây hấn là hành vi
có chủ đích gây nên những tổn thương về thể chất và tâm lý cho người
khác, dù mục đích có đạt được hay không”
Gâyhấn thể hiện như một xu hướng tính cách của con người. Ở những
người có biểu hiện gây hấn thì lời nói và hành động của họ luôn luôn có xu
hướng tấn công ngưới khác. Khi gây hấn trở thành một xu hướng của nhân
cách thì người đó luôn không đủ kiên trì để lắng nghe, không đủ kiên trì để
thảo luận và thượng lượng và cũng không có kỹ năng điều chỉnh cơn tức giận
của mình.
Hành vi gây hấn thể hiện rõ nhất khi làm tổn hại bản thân hoặc người
khác về mặt thể chất. Người thường xuyên có hành vi gây hấn luôn có tâm thế
2222
giải quyết mâu thuẫn của mình bằng bạo lực một cách dữ dội, còn gọi là hiếu
chiến. Chủ thể có trạng thái gây hấn thường có xu hướng dùng sức mạnh cơ

trên cơ thể, nhiều hành vi bạo lực đã gây ra án mạng, làm mất đi vĩnh viễn cơ
hội được sống, được học tập, được lao động của chính mình và người khác.
Những hành vi phổ biến là đánh đập, tát, đấm, đá, cấu, véo. Những hành vi
này thường để lại hậu quả là những dấu vết trên cơ thể nạn nhân.
Tổn thương về mặt tinh thần: Con người luôn tồn tại với hai mặt rõ
ràng là thể chất và tinh thần. Người ta có thể đo đếm được những tổn thương
về mặt thể chất, còn tổn thương về mặt tinh thần thì không ai có thể thống kê
được. Người có hành vi gây hấn luôn đe dọa đến sự bình yên của người khác.
Đối tượng tham gia vào các hành vi gây hấn, đặc biệt là người bị hại thường
có những biểu hiện rối nhiễu hành vi, ảnh hưởng đến cuộc sống, học tập, lao
động, năng khiếu, ước mơ, sở thích của bản thân. Họ rất tự ti khi ra ngoài xã
hội, trở thành lầm lì, ít nói, luôn ở trong trạng thái lo lắng, việc ăn ngủ cũng
gặp khó khăn, có thể suy nhược. Thậm chí có thể trở nên trầm cảm, tự ti, lo sợ
và có những trường hợp đã tìm tới cái chết để giải thoát cho mình. Những
người có hành vi gây hấn nếu lặp lại hành vi đó một cách thường xuyên sẽ bị
người khác xa lánh, mất sự cân bằng, hòa nhập trong đời sống cộng đồng, có
thể sẽ tạo ra những hành vi sai lệch nhiều hơn trong tương lai. Còn đối với
người người chứng kiến hành vi gây hấn của người khác sẽ gây hoang mang
về mặt tâm lí, lo lắng, ảnh hưởng đến cuộc sống, có cách nhìn không tin cậy
trong mối quan hệ xã hội, lâu dần sẽ mất niềm tin tạo nên sự không ổn định
của niềm tin về cuộc sống này.
Sự phân loại về hành vi gây hấn làm tổn thương về mặt tinh thần và thể
chất như trên chỉ mang tính tương đối vì thực chất chúng có liên quan chặt
2424
chẽ với nhau. Gây hấn về thể xác luôn kèm theo sự đau đớn về mặt tinh thần
cho đối tượng là nạn nhân của hành vi đó, làm tổn hại về mặt tinh thần lâu
dần có thể sẽ dẫn đến gây hấn về thể chất của người đó với chủ thể khác hoặc
người đó tự bạo hành với chính bản thân mình. Tiêu biểu cho hành vi gây hấn
cả thể xác lẫn tinh thần là bạo lực tình dục (cưỡng dâm, bạo dâm) nó làm cho
đối tượng tổn thương tinh thần khủng hoảng tâm lí và đau đớn về mặt thể xác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status