Luận văn: Nghiên cứu thực trạng tài nguyên nước phục
vụ phát triển bền vững tỉnh Thanh Hoá
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn
Thục Nhu. Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn,
người đã có đóng góp to lớn cho sự thành công của luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn khoa Địa lý và phòng Sau đại học
trường ĐHSP Hà Nội đã mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình
thực hiện luận văn.
Trong thời gian nghiên cứu, thực hiện luận văn, tác giả thường xuyên
nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong tổ Địa lý Tự nhiên –
khoa Địa lý – trường ĐHSP Hà Nội.
Góp phần quan trọng trong sự thành công của luận văn là sự giúp đỡ
nhiệt tình của các cán bộ khoa học đang công tác tại Sở tài nguyên và môi
trường Thanh Hóa, sở Khoa học công nghệ Thanh Hóa, trung tâm Khí tượng
– thủy văn Thanh Hóa, cục thống kê Thanh Hóa… Tác giả cũng đã được tạo
điều kiện khi đi khảo sát thực tế địa phương, tham khảo tài liệu, được phép sử
dụng một số kết quả nghiên cứu về tài nguyên nước để phục vụ luận văn.
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các cơ quan,
các thầy cô giáo, gia dình, bạn bè đã cổ vũ, động viên và giúp đỡ tác giả hoàn
thành luận văn.
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 GDP Tổng sản phẩm quốc nội
2 GNP Tổng sản phẩm quốc gia
3 KT – XH Kinh té xã hội
4 MT & PTBV Môi trường và phát triển bền vững
5 TNTN Tài nguyên thiên nhiên
6 TNN Tài nguyên nước
48
9 Bảng II.8 Phân cấp tài nguyên nước mặt ở Việt Nam 49
10 Bảng II.9 Modul dòng chảy trung bình nhiều năm tại một
số sông ở Thanh Hóa
49
11 Bảng II.10 Tổng hợp kết quả tính trữ lượng nước động tự
nhiên các tầng chứa nước khe nứt karst
75
12 Bảng II.11 Tổng hợp kết quả tính trữ lượng nước động tự
nhiên các tầng chứa nước lỗ hổng
76
13 Bảng II.12 Tổng hợp kết quả tính trữ lượng tĩnh trọng lực
các tầng chứa nước lỗ hổng
77
14 Bảng II.13 Trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất
các tầng chứa nước lỗ hổng
77
15 Bảng II.14 Trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất
các tầng chứa nước khe nứt karst
78
16 Bảng III.1 Các công trình khai thác nước mặt 81
17 Bảng III.2 Các công trình khai thác nước mặt phục vụ cho
sản xuất công nghiệp, làng nghề, dịch vụ
83
18 Bảng III.3 Tổng hợp sử dụng nước mặt phục vụ các hoạt 84
động kinh tế, sinh hoạt của các huyện tỉnh
Thanh Hóa
19 Bảng III.4 Các công trình khai thác nước dưới đất 87
20 Bảng III.5 Lượng nước và các loại đất khai thác ở một số
lưu vực trong tỉnh Thanh Hóa
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT Số hiệu Tên hình Trang
1 Hình II.1 Biều đồ lượng mưa trung bình tại một
số trạm khí tượng thủy văn tỉnh Thanh
Hóa
34
2 Hình II.2 Biểu đồ phân bố lượng mưa trung bình
qua các năm tại một số trạm khí tượng
thủy văn tỉnh Thanh Hóa.
36
3 Hình III.1 Biểu đồ diễn biến lượng mưa ở Thanh
Hóa
91
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Nhiệm vụ 2
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Khái niệm về tài nguyên 7
1.1.2 Khái niệm về tài nguyên nước 9
1.1.3 Ô nhiễm nước 11
1.1.4 Đánh giá tài nguyên nước 13
1.1.5 Phát triển bền vững 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1 Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến tài nguyên nước tỉnh Thanh Hóa.23
1.2.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tài nguyên nước tỉnh Thanh
Hóa 29
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TỈNH THANH
HÓA 31
2.1 Tài nguyên nước mưa 31
3
, khoảng 97,4% là nước mặn, 2,6% là nước
ngọt. Nước ngọt chiếm một tỷ lệ rất nhỏ và tồn tại dưới dạng lỏng trong tự
nhiên dưới dạng nước mặt, nước ngầm, sông hồ, băng tuyết.
Nước có vai trò rất quan trọng đối với con người và các loài sinh vật
trên Trái đất. Nó là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá nhưng không phải là vô
tận. Nước cần cho mọi sự sống và phát triển, nước vừa là môi trường vừa là
đầu vào cho các quá trình sản xuất nông nghiệp và sản xuất công nghiệp, các
ngành kinh tế khác, y tế, du lịch và cả an ninh quốc phòng.
Thanh Hóa nằm ở vĩ tuyến 19°18' Bắc đến 20°40' Bắc, kinh tuyến
104°22' Đông đến 106°05' Đông. Trên địa bản tỉnh có một hệ thống sông lớn
là sông Mã, và phía Đông giáp biển với đường bờ biển dài 102km, nên tài
nguyên nước của tỉnh khá phong phú cả về nước ngầm, nước mặt và nước
mưa. Hiện nay, do tốc độ phát triển công nghiệp mạnh mẽ, cùng với việc
thiếu ý thức trong sử dụng tài nguyên nước của người dân làm cho tài nguyên
nước của tỉnh đang đứng trước nguy cơ suy giảm nghiêm trọng về chất lượng.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của tài nguyên nước và thực trạng tỉnh
Thanh Hóa việc nghiên cứu đánh giá tài nguyên nước phục vụ muc đích phát
triển bền vững là việc làm quan trọng và có ý nghĩa thiết thực lớn. Kết quả
nghiên cứu thực trạng tài nguyên nước là cơ sở quan trọng cho việc quản lý
tài nguyên nước, quy hoạch quản lý sử dụng và bảo vệ nguồn nước, cảnh báo
dự đoán nguy cơ nhiễm bẩn, cạn kiệt tài nguyên nước và phòng tránh những
tác động tiêu cực do khai thác quá mức nguồn tài nguyên nước. Chính vì vậy,
em quyết định chọn đề tài : "Nghiên cứu thực trạng tài nguyên nước phục
vụ phát triển bền vững tỉnh Thanh Hoá"
1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu
Dựa trên sự phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước
và thực trạng nguồn tài nguyên nước tỉnh Thanh Hóa, tiến hành nhận xét sơ
2
trong mối quan hệ biện chứng tương hỗ với nhau. Đối với tài nguyên nước, đề
tài nghiên cứu một cách tổng hợp và đầy đủ nhất cần phải đặt nó trong mối
quan hệ biện chứng với các hợp phần tự nhiên và các hợp phần kinh tế - xã
hội khác.
Trong đề tài, quan điểm tổng hợp được thể hiện trong cả nội dung và
phương pháp nghiên cứu, làm cơ sở cho việc đánh giá tổng hợp và dự báo
những thay đổi của nguồn tài nguyên nước tỉnh Thanh Hóa trong tương lai.
4.1.2 Quan điểm hệ thống
Khi tiến hành nghiên cứu bất kì một lãnh thổ nào đều phải đặt nó trong
một hệ thống thống nhất và hoàn chỉnh cả về mặt tự nhiên và xã hội. Tính hệ
thống giúp cho các nội dung nghiên cứu của đề tài có sự thống nhất và có mối
quan hệ biện chứng với nhau.
Trong đề tài, khi tiến hành đánh giá tài nguyên nước, ngoài việc chỉ rõ ra
mối quan hệ giữa nguồn tài nguyên này với các hoạt động kinh tế - xã hội ở
địa phương, còn cần nhận thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa các thành phần.
4.1.3 Quan điểm lãnh thổ
Bất kỳ một đối tượng địa lý nào đều gắn với một không gian cụ thể.
Trong không gian đó các đối tượng địa lý phản ánh những đối tượng đặc
trưng của lãnh thổ, phận biệt lãnh thổ này với lãnh thổ khác. Trong mỗi lãnh
thổ luôn có sự phân hóa nội tại, đồng thời lại có mối quan hệ chặt chẽ với các
lãnh thổ xung quanh cả về tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội.
Vận dụng quan điểm lãnh thổ sẽ giúp tác giả đưa ra những phân tích và
kết luận chính xác, khách quan về bản chất, đặc trưng của nguồn tài nguyên
nước cũng như việc khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên ở địa phương.
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Đối với đề tài này thì quan điểm phát triển bền vững có ý nghĩa quan trọng,
là cơ sở cho việc đánh giá một cách hợp lý, chính xác và có tính khách quan. Do
đó, khi khai thác, sử dụng cần tránh làm cạn kiệt, suy giảm nguồn nước và phải
đảm bảo cân bằng sinh thái.
chủ yếu là kiểm kê các nguồn nước cả về lượng và chất, tuy nhiên chưa tổng
hợp thành hệ thống.
Ở nước ta lịch sử nghiên cứu tài nguyên nước đã có từ lâu. Những tài
liệu đầu tiên ghi lại được từ thời nhà Trần (Trần Thái Tông, 1248) cho thấy
4
ông cha ta đã chú trọng nghiên cứu sử dụng các nguồn nước phục vụ quai đê
lấn biển, khai khẩn đất đai miền duyên hải. Tiếp theo là các tài liệu của Lê
Quý Đôn, Nguyễn Công Trứ đã đề cập đến các trận lũ lớn và vấn đề sử
dụng nước mưa, nước mặt, lợi dụng thuỷ triều. Từ năm 1975 đến nay, một
khối lượng lớn các công trình nghiên cứu và đề tài nguyên nước đã được công
bố. Hàng loạt các chương trình, đề tài, dự án có ý nghĩa to lớn cả về khoa học
và thực tiễn, góp phần định hướng phát triển kinh tế - xã hội của các địa
phương trong cả nước. Đáng chú ý nhất là các công trình nghiên cứu của Ngô
Đình Tuấn, Nguyễn Viết Phổ, Nguyễn Đức Nhật, Nguyễn Văn Cư, Nguyễn
Thanh Sơn
TNN ở Thanh Hóa khá đa dạng và phong phú, các chương trình, đề tài
nghiên cứu có nội dung chủ yêu là đánh giá TNN sông và nước ngầm. Việc
nghiên cứu đánh giá chú trọng từ khâu thu thập số liệu, xử lý số liệu, tính toán
các đặc trưng, phân tích, nhận xét các kết quả, thể hiện kết quả tính toán trên
bảng biểu. Các tài liệu còn phân tán, đang trong quá trình tập hợp. Công tác
điều tra cơ bản về nguồn TNN được thực hiện từ cuối những năm 70 được
tiến hành bởi các cơ quan như Liên đoàn Quy hoạch và điều tra tài nguyên
nước miền Bắc; Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia; Đoàn Quy hoạch và
điều tra tài nguyên nước 2F; Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa; Sở
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hóa, các có quan này đã thực
hiện được các kết quả như sau chủ yếu thể hiện dưới dạng văn ban báo cáo:
Thăm dò nước dưới đất vùng Bỉm Sơn, Thanh Hóa (1975). Thăm dò nước
dưới đất vùng Sầm Sơn, Thanh Hóa (1982). Thăm dò nước dưới đất vùng
Hàm Rồng, Thanh Hóa (1983). Tìm kiếm nước dưới đất vùng Tĩnh Gia,
Thanh Hóa (1983). Báo cáo điều tra nước dưới đất vùng Thường Xuân,
lượng mỗi loại tài nguyên được con người khai thác ngày càng tăng.
Người ta phân loại tài nguyên như sau:
- Theo quan hệ với con người: tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội.
- Theo phương thức và khả năng tái tạo: Tài nguyên tái tạo, tài nguyên
không tái tạo.
- Theo bản chất tự nhiên: Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên
rừng, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài
nguyên khí hậu cảnh quan, di sản văn hoá kiến trúc, tri thức khoa học và
thông tin
Tài nguyên con người (tài nguyên xã hội) là một dạng tài nguyên tái tạo
đặc biệt, thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế
độ xã hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đang làm thay đổi giá trị
7
của nhiều loại tài nguyên. Nhiều tài nguyên cạn kiệt trở nên quý hiếm; nhiều
loại tài nguyên giá trị cao trước đây nay trở thành phổ biến, giá rẻ do tìm
được phương pháp chế biến hiệu quả hơn, hoặc được thay thế bằng loại khác.
Vai trò và giá trị của tài nguyên thông tin, văn hoá lịch sử đang tăng lên.
Tài nguyên thiên nhiên là những giá trị hữu ích của môi trường tự nhiên
có thể thỏa mãn các nhu cầu khác của con người bằng sự tham gia trực tiếp
của chúng vào các quá trình kinh tế xã hội. Tài nguyên là tất cả các dạng vật
chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử
dụng mới của con người. Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người. Xã
hội loài người càng phát triển, số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài
nguyên được con người khai thác ngày càng tăng.
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều các phân loài TNTN dựa trên những
đặc điểm, tính chất và mục đích sử dụng của chúng. Ta có thể tổng quát bằng
sơ đồ sau:
Mặc dù, TNTN rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên với tốc độ khai thác
8
Tài nguyên
nước
Tài nguyên đất
Sinh vật
của con người như hiện nay thì đến một lúc nào đó sẽ vượt qua khả năng tự
phục hồi và tái tạo của các nguồn tài nguyên có thể phục hồi, và sự cạn kiệt
nhanh chóng của các nguồn tài nguyên không phục hồi. Vì vậy, vấn đề bảo vệ
và sử dụng hợp lý TNTN có ý nghĩa KT- XH to lớn, chỉ có như vậy mới đảm
bảo sự PTBV.
1.1.2 Khái niệm về tài nguyên nước
Nước là dạng tài nguyên đặc biệt. Nó vừa là thành phần thiết yếu của sự
sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội, vừa có thể
mang tai họa đến cho con người. Nước có khả năng tự tái tạo về lượng, về chất
và về năng lượng.
J.A.Jonnes chia tài nguyên nước thành ba loại :
- Tài nguyên tiềm năng tương lai, là toàn bộ lượng nước có trên Trái
Đất mà trong điều kiện hiện nay loài người hầu như chưa có khả năng khai
thác, như nước ngầm nằm rất sâu, nước trong băng tuyết hai cực, nước biển
và đại dương…
- Tài nguyên tiềm năng thực tại, là lượng nước có trong lãnh thổ, nhưng
ở trạng thái tự nhiên con người khó khai thác và có nguy cơ bị nó gây hại,
hoặc xảy ra rủi ro, ví dụ như nước lũ, nước ngầm nằm sâu…
- Tài nguyên hiện thực của một vùng, là khái niệm trùng với quan điểm
truyền thống hiện nay, chỉ toàn bộ lượng nước có trong các thuỷ vực mặt và
ngầm mà con người dễ dàng khai thác sử dụng.
Theo “Thuật ngữ thủy văn và môi trường nước”, tài nguyên nước là một
lượng nước trên một vùng đã cho hoặc lưu vực, biều diễn ở dạng nước có thể
khai thác (nước mặt và nước dưới đất). Điều 2 Luật Tài nguyên nước Việt
Nam (1998) quy định “ Tài nguyên nước (của Việt Nam) bao gồm các nguồn
nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ Việt Nam”. Rõ
10
đối tượng sử dụng nước.
Động thái của nước: được đánh giá bỏi sự thay đổi của các đặc trưng
nước theo thời gian và không gian. Đánh giá TNN là nhằm mục đích làm rõ
các đặc trưng đã nêu đối với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể.
1.1.3 Ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá
học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho
nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng
sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô
nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất. Ô nhiễm nước xảy ra khi
nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, rác công nghiệp, các chất ô nhiễm
trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm. Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi
các loại hoá chất độc hại, các loại vi khuẩn gây bệnh, virut, kí sinh trùng phát
sinh từ các nguồn thải khác nhau như chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản
xuất, các loại rác thải của các bệnh viện, các loại rác thải sinh hoạt bình thường
của con người hay hoá chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ sử dụng trong
sản xuất nông nghiệp được đẩy ra các ao, hồ, sông, suối hoặc ngấm xuống
nước dưới đất mà không qua xử lí hoặc với khối lượng quá lớn vượt quá khả
năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các loại ao, hồ, sông, suối.
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến
đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và
gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật
nuôi và các loài hoang dã."
Luật Tài nguyên nước số 08/1998/QH10 của Quốc Hội nước CHXHCN
Việt Nam chỉ rõ “ Ô nhiễm nguồn nước là sự thay đổi tính chất vật lý, tính
chất hóa học, thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép”.
Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp
ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có
11
- Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô
nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô
nhiễm bởi các tác nhân vật lý.
- Ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm nước ngầm và biển.
Như vậy, mức độ ô nhiễm nước ở các khu vực khác nhau và phụ thuộc
vào nguồn gây ô nhiễm. Chính vì vậy, khi đánh giá chất lượng nước cần dựa
trên các chỉ số cơ bản để đánh giá mức độ ô nhiễm nước so với tiêu chuẩn đã
có, từ đó có cách nhìn chính xác về chất lượng từng loại nước. Theo Luật tài
nguyên nước, nước sạch là nước đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng nước
sạch của tiêu chuẩn Việt Nam. Nếu các chỉ số được đo vượt quá ngưỡng cho
phép sẽ được xem là nước bẩn và khi đó ta sẽ có thể chỉ rõ tác nhân chính gây
ra tình trạng đó đồng thời sẽ có những định hướng khai thác, sử dụng hợp lý
hơn tùy vào mục đích sử dụng.
1.1.4 Đánh giá tài nguyên nước
Đánh giá TNN thường bắt đầu từ việc xác định trữ lượng, đánh giá chất
lượng, đến việc khai thác sử dụng chúng phục vụ phát triển KT – XH một
cách hiệu quả nhất. Đánh giá tài nguyên nước gồm 2 nội dung chính là đánh
giá theo yếu tố và đánh giá theo lãnh thổ
a.Đánh giá tài nguyên nước theo yếu tố
Cơ sở để đánh giá TNN theo yếu tố là mối quan hệ tương hỗ của sự thống
nhất tự nhiên và xã hội. Nội dung đánh giá TNN theo yếu tố gồm 3 giai đoạn:
- Đánh giá TNN nước về mặt tự nhiên: kiểm kê toàn bộ các loại và các
nguồn nước của lãnh thổ một cách hệ thống, gồm các chỉ tiêu: trữ lượng, chất
lượng, đặc điểm phân bố, mức độ tập trung, sự biến động theo không gian và
thời gian của từng nguồn nước. Phân tích các điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng
đến TNN và khả năng khai thác sử dụng chúng như: vị trí địa lý, địa hình địa
13
chất, khí hậu thổ nhưỡng… Từ đó xác định được tiềm năng và khả năng khai
thác thực tế của các nguồn nước nhằm phát triển KT- XH trong vùng.
- Đánh giá TNN về mặt kỹ thuật: là đánh giá hiện trạng khai thác cũng
- Đề xuất phương hướng khai thác và sử dụng tổng hợp TNN phù hợp
với cơ cấu tài nguyên, mục tiêu phát triển KT – XH của vùng nghiên cứu nói
riêng và của cả nước nói chung trong từng giai đoạn cụ thể.
1.1.5 Phát triển bền vững
a. Khái niệm
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát
triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển
trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc
gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa
lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào
năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội
Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội
dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới
phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và
sự tác động đến môi trường sinh thái học".
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo
Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường
và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi
rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu
cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu
cầu của các thế hệ tương lai ". Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo
đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được
bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội,
15
nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục
đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường.
Sau khi báo cáo Brundtland được phổ biến (1987), Liên Hơp Quốc đã
triệu tập hai hội nghị quan trọng dành cho vấn đề PTBV đó là, năm 1992: Rio
de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất,