ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THAY THẾ ARTEMIA BẰNG THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP
TRONG ƯƠNG NUÔI ẤU TRÙNG CÁ CHẼM Lates calcarifer Bloch 1790
Trương Hà Phương, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Khắc Đạt
Trung Tâm Quốc Gia giống Hải Sản Miền Trung-Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III
TÓM TẮT
Sử dụng thức ăn tươi sống (rotifer, artemia, copepoda) trong ương nuôi ấu trùng là mắt xích quan trọng
nhất, quyết định đến sự thành công trong sản xuất giống cá biển. Tuy nhiên, sản xuất thức ăn tươi sống tốn kém, đòi
hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật cao, diện tích cơ sở lớn, giá trị dinh dưỡng không ổn định và phụ thuộc nhiều vào thời tiết.
Tập cho ấu trùng cá biển ăn sớm bằng thức ăn nhân tạo là hướng nghiên cứu mới cho các nhà khoa học và sản xuất
thức ăn, nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào thức ăn tươi sống. Nghiên cứu này tập trung vào việc thay thế artemia
bằng một số loại thức ăn công nghiệp chất lượng cao hiện có trên thị trường (Instar, UP). Thí nghiệm thực hiện
trên ấu trùng cá chẽm (Lates calcarifer) 12 ngày tuổi (khi cá bắt đầu sử dụng artemia) đến 32 ngày tuổi, nhằm đánh
giá so sánh tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và sự phân đàn. Thí nghiệm được thực hiện với 3 nghiệm thức sử dụng
thức ăn InStar (Sketting), UP (Uni-President) và artemia. Kết quả cho thấy có sự sai khác có ý nghĩa thống kê về
tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và mức độ phân đàn khi sử dụng 3 loại thức ăn (p<0,05). Nghiệm thức sử dụng thức
ăn công nghiệp Instar cho tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống cao, mức độ phân đàn và tỷ lệ dị hình thấp và không có sự
khác biệt so với nghiệm thức sử dung thức ăn artemia (p>0,05). Nghiệm thức sử dụng thức ăn công nghiệp UP cho
kết quả thấp nhất và sai khác có ý nghĩa thống kê so với Instar và artemia (p<0,05). Kết quả cho thấy thức ăn công
nghiệp Instar có thể thay thế một phần hoặc hoàn toàn artemia trong ương nuôi cá vược.
Từ khóa: Cá vược, thức ăn công nghiệp, artemia, ương ấu trùng.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá vược Lates calcarifer (Bloch,1790) là loài có giá trị kinh tế và hiện đang có nhu cầu
cao ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Châu Á và Thái Bình Dương. Trong những năm
70 các nhà khoa học Thái Lan đã nghiên cứu sản xuất thành công con giống cá vược. Sau đó,
nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cho đối tượng này ở giai đoạn ấu
trùng và giống. Hiện nay, cá vược được nuôi thương phẩm ở các nước như Thái Lan, Malaysia,
Indonesia, Singapore, Hong Kong, Đài Loan, Australia, Trung Quốc, Việt Nam (Đào Văn Trí,
Nguyễn Văn Dũng, 2006).
Riêng ở Việt Nam, cá vược đã được nuôi trong lồng và ao từ lâu với con giống đánh bắt
từ tự nhiên nên sản lượng không đáng kể. Từ năm 2000 đến nay sản lượng cá vược thương phẩm
tăng nhanh do chủ động được con giống bằng phương pháp sinh sản nhân tạo và kỹ thuật ương
giống Hải sản miền Trung (Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III). Ấu trùng cá chẽm 12 ngày
tuổi khoẻ mạnh, đồng đều kích cỡ và bơi lội nhanh nhẹn, sau đó phân bố ngẫu nhiên sang 3 lô thí
nghiệm. Trong đó Lô thí nghiệm 1(NT1) thử nghiệm với thức ăn tổng hợp InStar (Sketting); Lô thí
nghiệm 2 (NT2) sử dụng thức ăn tổng hợp UP (Uni-President); Lô thí nghiệm 3 (NT3) là lô đối
chứng sử dụng thức ăn artemia. Mỗi lô thí nghiệm được lặp lại 3 lần.
Mật độ ương: Toàn bộ ấu trùng cá vược thí đều được ương nuôi trong các bể composite
300L với mật độ 30 con/ lít.
Nghiệm thức 1: Thức ăn InStar #1 cho ăn từ khi bắt đầu thí nghiệm đến khi đạt 19 ngày
tuổi, thức ăn InStar #2 cho ăn từ ngày thứ 19 sau khi nở đến ngày 26 sau khi nở, từ ngày 26 sau
khi nở đến khi kết thúc thí nghiệm cho ăn thức ăn InStar #3.
Nghiệm thức 2: Thức ăn UP #0 cho ăn từ khi bắt đầu thí nghiệm đến khi đạt 19 ngày tuổi,
thức ăn UP #1 cho ăn từ ngày thứ 19 sau khi nở đến ngày 26 sau khi nở, từ ngày 26 sau khi nở
đến khi kết thúc thí nghiệm cho ăn thức ăn UP #2.
Nghiệm thức 3: Thức ăn tươi sống artemia cho ăn từ khi bắt đầu thí nghiệm đến khi kết
thúc thí nghiệm với mật độ tăng dần theo khả năng bắt mồi của cá.
Chế độ cho ăn và quản lý bể ương nuôi:
Duy trì các yếu tố môi trường trong bể ương bảo đảm nhiệt độ nước 28-30
0
C, pH 8.2-8.6,
độ mặn 28-32‰, hàm lượng oxy hoà tan trong nước trên 5mg/lít trong suốt quá trình ương nuôi.
Chế độ siphon thay nước cho bể ương nuôi còn tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của ấu
trùng, chất lượng nước trong bể ương mà có chế độ siphon thay nước hợp lý. Hàng ngày theo dõi
các yếu tố môi trường, hoạt động bắt mồi, tình trạng sức khoẻ của ấu trùng để kịp thời điều chỉnh
lượng thức ăn và kịp thời xử lý khi có dấu hiệu bất thường xảy ra.
Chế độ cho ăn: 3 lần/ ngày; đối với thức ăn công nghiệp thì cho ăn theo nhu cầu của cá
(đến khi cá no), đối với thức ăn artemia (tăng dần theo thời gian; từ 1 cá thể đến 10 cá thể/ml).
2.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Xác định các chỉ tiêu tăng trưởng và tỉ lệ sống:
- Chiều dài: Đo bằng máy đo điện tử với độ phóng đại 10, độ chính xác đến µm.
- Khối lượng cá: đo bằng cân điện tử, độ chính xác đến 0,0001g.
, W’
1
là khối lượng cá ban đầu và cuối.
- Tỉ lệ sống (%):
Số cá thu cuối đợt + số cá lấy mẫu
SR = × 100%
Số cá ban đầu
- Mức độ phân đàn (%):
C
V
=
%100
×
X
S
Trong đó: S là độ lệch chuẩn và
X
là chiều dài trung bình của cá.
- Tỷ lệ dị hình (%):
Tỷ lê cá dị hình thu cuối đợt
Tỷ lệ dị hình = × 100%
Số cá ban đầu
Xác định các yếu tố môi trường:
- Nhiệt độ, DO (Oxy hoà tan) được đo bằng máy điện tử Oxy Guard (R), độ chính xác đến
0,1
o
C và 0,01 mgO
2
/L.
- pH đo bằng máy điện tử cầm tay, độ chính xác đến 0,01.
nhau trong suôt thời gian thí nghiệm.
Bảng 1: Các yếu tố môi trường trong các lô thí nghiệm sử dụng các loại thức ăn khác nhau
Các chỉ tiêu
Nghiệm thức
InStar UP Artemia
Nhiệt độ (
o
C)
28,59 ± 0,95 28,59 ± 0,95 28,59 ± 0,95
DO (mg/L) 4,31 ± 0,07 4,31 ± 0,07 4,31 ± 0,05
pH 7,8± 0.4 7,8± 0.4 7,8± 0.4
Độ kiềm (mgCaCO
3
/L) 148.24± 1,42 148.24± 1,42 148.24± 1,42
NO
2
-
(mg/L) 0,21± 0.04 0,21± 0.04 0,21± 0,02
NH
4
+
(mg/L) 0,42± 0.02 0,42± 0.03 0,40± 0.02
Độ mặn (ppt) 33,0±1,0 33,0±1,0 33,0±1,0
3.2 Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của các loại thức ăn trong ương nuôi cá vược
Kết quả ảnh hưởng của thức ăn công nghiệp thay thế artemia trong giai đoạn cá bắt đầu ăn
artemia ở các lô thí nghiệm được trình bày ở Bảng 2. Kết quả ương nuôi cá vược từ 12 – 32 ngày
tuổi cho thấy, thức ăn có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá (p<0,05). Thức ăn
Instar và thức ăn artemia cho tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, giai đoạn này khi sử dụng thức ăn
khác nhau thì chiều dài trung bình có sự sai khác và đã có cá lớn vượt đàn. Ở lô thí nghiệm sử
dụng thức ăn InStar cá đạt kích thước trung bình (21,22 mm) và khối lượng 125,5 mg, lô thí
0,55 ± 0,09
b
0,59 ± 0,15
a
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối khối
lượng (mg/ngày)
42,14 ± 3,21
a
40,12 ± 2,82
b
42,20 ± 2,46
a
Tỷ lệ sống (%) 75,83
a
64,62
b
78,11
a
Tỷ lệ phân đàn theo chiều dài (%)
8,7 10,06 15,5
Tỷ lệ phân đàn theo trọng lượng (%)
26,1 24,5 37,4
Tỷ lệ dị hình (%)
3,5 ± 1,2
a
4,2 ± 2,0
b
3,2 ± 1,4
a
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trên cùng dòng thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
nghiệm sử dụng thức ăn là InStar và UP có sự sai khác không có ý nghĩa (p<0,05). So sánh với
kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Dũng (2009) trên cá mú thì sự phân đàn của ấu trùng cá ăn
artemia cao hơn.
Thức ăn đã ảnh hưởng đến mức độ phân đàn của cá chẽm 32 ngày tuổi (p<0,05). Mức độ
phân đàn khá lớn chứng tỏ cá chẽm 32 ngày tuổi ương nuôi bằng các loại thức ăn tổng hợp phát
triển đồng đều hơn cá ương nuôi bằng thức ăn artemia.
Như vậy, ương nuôi cá vược bằng các loại thức ăn khác nhau ảnh hưởng rất nhiều đến tốc
độ sinh trưởng, mức độ phân đàn và tỉ lệ sống (do cá ăn thịt nhau làm giảm tỉ lệ sống) của cá
vược từ 12 – 32 ngày tuổi. Kết quả thí nghiệm cho thấy, cá nuôi bằng thức ăn công nghiệp có tốc
độ sinh trưởng trung bình cao nhất, tỉ lệ sống cao, mức độ phân đàn thấp nhất.
Tỷ lệ dị hình của cá ương trong các lô thí đều có sự khác nhau, cá sử dụng thức ăn UP tỷ lệ dị
hình cao nhất (4,2%), thấp nhất là lô thí nghiệm sử dụng thức ăn InStar và artemia (p<0,05). Kết quả
nghiên cứu cũng trùng khớp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Dũng (2009) trên đối tượng cá
mú. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Nguyễn Trọng Bích và cộng tác viên nghiên cứu trên cá vược thì
nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả thấp hơn. Điều này chứng tỏ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn
đến sự hình thành và phát triển của cơ thể cá giai đoạn ấu trùng.
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Sau 30 ngày ương cá vược bằng các loại thức ăn trong giai đoạn cá ăn artemia, các
nghiệm thức có cho ăn bằng thức ăn tổng hợp InStar và thức ăn artemia cho tăng trưởng, tỷ lệ
sống cao nhất, tỷ lệ cá phân đàn thấp nhất.
Việc thay thế artemia bằng thức ăn công nghiệp không ảnh đến tốc độ tăng trưởng và tỷ
lệ sống của cá vược giai đoạn này. Vì thế, trong ương nuôi cá vược giai đoạn này có thể cho cá
ăn đơn thuần thức ăn tổng hợp.
Cá chẽm chấp nhận ăn tốt thức ăn công nghiệp. Tuy nhiên, cần có nhiều nghiên cứu tiếp
theo để xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá chẽm ở các giai đoạn khác nhau để xây dựng và sản
xuất thức ăn công nghiệp cho cá vược.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lương Trọng Bích, Nguyễn Thị Thu Hằng, Dương Thị Hoàn (2009). Hiệu quả sử dụng
Vitaminc trong ương nuôi cá chẽm (Lates calcarifer). Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học
công nghệ (2005-2009)
conducted with seabass (Lates calcarifer) larvae aged 12 days old (starting artemia feed) to 32 days old (after
hatching 32 days); larvae were fed by three different feeds (Instar, UP, and Artemia); Survival, growth rate
performances as well as cluster variation level were examined. Results show that there were significantly different in
survival, growth rate and cluster variation level of larvae fed by different feeds (p<0,05). There were no significant
difference in survival and growth rate performances of larvae fed by Instar and artemia (p>0,05). However, there
was a significant lower performance in survival and growth rate of larvae fed by UP compared to those of larvae
fed by Instar and Artemia (p<0,05). Result also shows the Instar feed can replace a part of Artemia or completely
replaced in seabass larval rearing.
Keywords: Seabass, artificial food, artemia, larval rearing.