CÁC yếu tố ẢNH HƯỞNG đến NĂNG SUẤT NGUỒN lợi tôm đất metapenaeus ensi de haan 1844 TRONG mô HÌNH NUÔI QUẢNG CANH cải TIẾN ở ĐỒNG BẰNG SÔNG cửu LONG - Pdf 30

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT NGUỒN LỢI TÔM ĐẤT Metapenaeus
ensi De Haan 1844 TRONG MÔ HÌNH NUÔI QUẢNG CANH CẢI TIẾN Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Trần Văn Việt
1
, Trần Xuân Lợi
1
và Trần Đắc Định
1
1
Khoa Thủy Sản, Đại Học Cần Thơ
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nuôi trồng thủy sản có vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng
vùng ven biển ở Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) (Johnston et al., 2000a). Quảng canh cải
tiến (QCCT) là mô hình nuôi tôm ven biển chiếm 70% diện tích nuôi tôm ở ĐBSCL, diện tích
tăng từ 90,000 ha năm 1991 lên 430,000 ha năm 2003 (Loc, 2003), đây là mô hình nuôi tôm sú
(Penaues monodon) với mật độ thấp kết hợp tôm tự nhiên và các loài thủy sản khác (Johnston et
al., 2000b), sản lượng tăng từ 55,316 tấn 1995 lên 413,132 tấn 2009 (Tổng cục Thống kê, 2010).
Giá trị xuất khẩu tôm biển ở cả nước đạt trên 1.2 tỷ USD năm 2007 (Tu et al., 2008), tuy
nhiên, cho đến nay số liệu, thông tin về tôm biển nuôi trồng ở ĐBSCL và Việt Nam được được
cho là số liệu tôm sú, loài được ưa chuộng bởi kích cỡ lớn, giá trị kinh tế cao, đã được nghiên
cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau từ các tác giả trong và ngoài nước, được đánh giá theo dõi
hàng năm về gốc độ quản lý của ngành thủy sản, được quan tâm của người nuôi tôm bởi lợi
nhuận cao mà loài này có thể mang lại (Nhường và Hà , 2005).
Tuy nhiên, nuôi tôm sú cần đầu tư về vốn, và rủi ro cao, và tôm sú cũng không phải là loài
duy nhất được thu hoạch trong mô hình QCCT, mà còn một số loài tôm khác xuất hiện trong các
đầm nuôi như tôm đất (Metapenaues ensis), là loài tôm tự nhiên có giá trị kinh tế cao, nguồn
giống tự nhiên dựa vào biên độ triều (Johnston et al., 2000b). Loài này đã được khai thác và nuôi
trồng như họa động truyền thống ở khu vực Đông nam á (Ling, 1973), chịu được sự biến động
độ mặn từ 5–30ppt, nhu cầu thị trường cao nhờ chất lượng thịt (Liao và Chao, 1983; King,
2001). Tôm đất loài bản địa ở ĐBSL nơi chiếm 80% diện tích nuôi tôm cả nước, Tuy nhiên, vai

al., 1997; Johnston et al. (2000a), mô hình Tôm- Lúa và Tôm- Rừng (Hình 2).
Nghiên cứu thực hiện năm 2010 ở 2 huyện MX và ĐH (Hình1), đã khảo sát 60 hộ nuôi tôm
ở mỗi huyện, xã Tham Đôn của MX và Long Điền Tây của huyện ĐH, ngoài ra thu mẫu định kỳ
trên 8 vuông nuôi ở 2 xã này (Bảng 1).
Bảng 1: Diện tích các vuông thu mẫu ở 2 huyện Mỹ Xuyên và Đông Hải
Mỹ Xuyên Đông Hải
Vuông Diện tích (ha) Vuông Diện tích (ha)
A
MX
1.0 A
DH
4.3
B
MX
1.5 B
DH
2.5
C
MX
1.0 C
DH
3.0
D
MX
0.6 D
DH
3.4
Trung bình ± stdev 1.03 ± 0.4 Trung bình ± Stdev 3.3 ± 0.8
Hình 3. Đuôi chuột (a) dùng để thu tôm trong vuông; và lú dùng để thu qua cống (b)
Hình 2: Thiết kế của vuông nuôi tôm QCCT nhìn từ trên xuống (a), mặt cắt mô hình tôm

n
),
biến năng suất là biến phụ thuộc (y), dùng tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC-Akaike’s
Information Criterion) để xác định các biến có ảnh hưởng đến năng suất tôm trong mô hình đa
biến (Dalgaard, 2002; Faraway, 2005).
Gọi k số lượng biến độc lập (k = 6: x
1
, x
2
,

…x
6
), và y
1
= f
1
(x
1
), y
2
= f
2
(x
2
), y
3
= f(x
3
), y

= 64, dùng tiêu
chuẩn AIC để chọn mô hình tối ưu, là mô hình có giá trị AIC thấp nhất (FARAWAY, 2005)
Phương trình tương quan hồi quy
22211
ˆ

ˆˆ
ˆ
ˆ
xxxy
k
βββα
+++=
,
βα
ˆ
,
ˆ
là ước số (estimates), (
ˆ
α
,
1
ˆ
β
,
2
ˆ
β


biệt CL giữa các tháng.
Do đặc thù của mô hình nuôi tôm QCCT ở ĐBSCL nên các biến ở bảng 3 được cho là có khả
năng có ảnh hưởng đến năng suất tôm, những biến này được giả định là có ảnh hưởng đến năng
suất tôm đất, phân tích nhân tố được áp dụng nhằm loại bỏ các biến không ảnh hưởng và xác
định những biến mới giải thích những ảnh hưởng quan trọng nhất đến kém quan trọng trong phân
tích mô hình.
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hiện trạng và vai trò của tôm đất
So với tôm sú thì năng suất tôm đất chiếm 6% ở MX; 8.5% về giá trị; và ở ĐH là 12% và 7.3%,
tôm này đã giảm rỏ rệt trong những năm gần đây, với nhiều lý do khác nhau như môi trường bị
thu hẹp, khai thác con giống quá mức đô thị hóa vùng ven biển (Johnston et al., 2000a), nguồn
tôm tự nhiên (tôm đất và tôm bạc) ở MX là 181 kg/ha năm 1997 (Be et al., 2003), hiện nay là
31.0 ± 5.9 kg/ha/năm, tôm tự nhiên trong vùng rừng ngập mặn ở Cà Mau là 100–600 kg/ ha

năm
1993-1994 (Binh và Lin, 1995), trong khi nghiên cứu này là 39.2 ± 4.7kg/ ha/năm. Vì vậy thu
nhập từ tôm đất là đang giảm dần và ở mức thấp, tuy nhiên nó vẫn đóng vai trò quan trọng trong
mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến vì nguồn giống tự nhiên, giá trị cao, thích hợp cho đại đa
số hộ nghèo ở ĐBSCL, nơi có GDP là 1,113USD/người/ năm 2009 (World bank, 2011).
Và mức độ ổn định về năng suất của tôm đất là ( CV- coefficients of variation) là 18.9% và
11.9% ở MX và ĐH trong khi ở tôm sú là 49.3% và 28.4% (Bảng 2).
Bảng 2: Các biến đã được khảo sát ở 2 huyện MX và ĐH
Các biến khảo sát Mỹ Xuyên
(n = 60)
Đông Hải
(n = 60)
Thời gian nuôi (tháng/năm) 6 12
Diện tích vuông (ha/ hộ) 0.9 ± 0.3
a
1.7 ± 0.6

b
Năng suất loài khác (kg/ha/ năm) 30.5 ±.5.7
a
29.2 ± 7.6
a
CV năng suất các loài khác (%) 18.8 26.0
Giá của loài khác (x1000đồng/kg) 34 ± 4
a
30 ± 2
b
Tổng đầu tư (x1000đồng/ha/năm) 17,230 ± 3,594
a
6,170 ± 1,432
b
Lợi nhuận (x1000đồng/ha/năm) 54,330 ± 29,700
a
35,680 ± 23,620
b
CV lợi nhuận (hộ/năm) (%) 54.6 36.3
Giá trị trung bình của các chỉ số mũ trên cùng 1 hàng khác nhau (a,b) là thể hiện sự khác biệt với
mức ý nghĩa (p<0.01), cùng nhau là khác biệt không ý nghĩa thống kê.
Theo người nuôi tôm thì con giống nhân tạo của loài tôm đất nuôi không hiệu quả và tôm
thường chết sau 1-2 tháng nuôi mà không rỏ nguyên nhân, vì vậy việc sản xuất giống loài này
cũng bị ảnh hưởng vì không có người mua, mặc dù sản xuất giống thành công loài này từ năm
1990. Ngoài ra giá trị kinh tế thấp hơn so với tôm sú nên người nuôi thường chỉ quan tâm đến
tôm sú.
Mặc dù cả 2 loài tôm này đề có rủi ro cao, nhưng nông dân thường chọn tôm sú là loài ưu tiên
vì kích cỡ lớn (trong lượng lớn nhất 250g) (Primavera et al., 1998) và giá thị trường cao hơn
(CV ở Bảng 2).
Vì sản lượng, năng suất thấp nên chỉ bán nhỏ lẻ nên không mang tính hàng hóa lớn xuất khẩu

Tổng chi phí sản xuất (x1000 đồng/ha/năm)
0.70 0.79
Kết quả phân tích ở MX, nhân nhân tố 1 có 3 biến có ảnh hưởng, khẳng định mối tương quan
thuận giữa độ sâu kênh mương với năng suất tôm sú và lợi nhuận (Bảng 3 và Hình.4 (a)), nhân tố
2 có 2 biến thể hiện mối tương quan thuận giữa số lần thay nước và năng suất tôm đất. Tuy nhiên
2 nhân tố này chỉ giải thích được 42% (nhân tố 1 là 26% và nhân tố 2 là 16% ).
Hình 4 Biểu đồ kết quả phân tích 2 nhân tố: (a):MX và (b):ĐH; Me: năng suất tôm đất;
we: số lần thay nước; Ot: năng suất loài tự nhiên khác; fd: độ sâu kênh mương; ffw: độ sâu
trảng; tc: tổng chi phí nuôi tôm; ni: lợi nhuận; và Pm: năng suất tôm sú
Tương tự, ở ĐH thì ở Bảng 3 và Hình 4(b) nhân tố 1 có 4 biến thể hiện mối tương quan thuận
bao gồm năng suất tôm sú, độ sâu của trảng và kênh mương, những biến này có mối tương quan
thuận với thu nhập của nông hộ, nhân tố 2 có 2 biến tỷ lệ thuận giữa thay nước và năng suất tôm
đất, 2 nhân tố này giải thích được 58% (nhân tố 1 và 2 giải thích lần lượt là 37% và 21%).
2 Các biến có ảnh hưởng năng suất tôm đất
Năng suất tôm có tỷ lệ thuận với số lần thay nước ở 2 huyện MX và ĐH từ phân tích đa biến ở
(Bảng 4; Hình 5). Ngoài ra, và có sự khác biệt có ý nghĩa về mức độ thay nước trong vuông nuôi
tôm ở 2 huyện, MX ít thay nước hơn ở ĐH (p<0.001) là do vùng này xa nguồn nước mặn, chi
phí tốn kém bơm nước, và chất lượng nước không ổn định, rủi ro cao trong lây lang dịch bệnh
(Preston et al., 2003)
Hình 5: Tương quan giữa số lần thay nước và năng suất tôm đất (a: MX và b: ĐH)
Thay nước ngoài mục đích thay đổi môi trường còn là hình thức bổ sung con giống và thức
ăn tự nhiên trong nuôi tôm. Tuy nhiên nước ở vùng ven biển ĐBSCL độ đục cao, (Trung tâm khí
tượng thủy văn Nam bộ, 2010), tốc độ phù sa bồi lắng trong vuông nuôi nhanh khi thay nước
nhiều lần trong năm, chi phí nạo vét và rủi ro trong thay nước nước cũng là vấn đề thường gặp
trong nuôi tôm (Preston et al., 2003). Năng suất tôm tự nhiên phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
mật độ con giống, môi trường sống trong vuông nuôi và chất lượng nước (Bình et al., 1997).
Phân tích 6 biến độc lập ở MX (x
1mx
, x
2mx

1mx
(1)
Tương tự, 6 biến độc lập (Bảng 4) ở ĐH giải thích 59% của phương sai về năng suất của
tôm đất, nhưng chỉ biến số lần thay nước x
1đh
) là có ý nghĩa (p < 0.001), trong mô hình tối ưu (giá
trị AIC: 138, R
2
= 0.56) ở bảng 4, biến này giải thích 56% của phương sai y
đh
= 1.167 + 1.950
*
x
1đh
(2)
Bảng 4: Dự đoán năng suất tối ưu của tôm đất ở MX và ĐH trong các mô hình tương quan
hồi quy đa biến sr (tôm lúa) and sm (tôm rừng); y: năng suất tôm đất; x
1
: số lần thay nước;
x
2
:độ

sâu kênh mương; x
3
: độ

sâu trảng; x
4
:năng suất các loài khác; x

sm
~ x
1sm
+ x
2sm
+ x
3sm
+ x
4sm
+ x
5sm
+ x
6sm
144 0.59
y
sr
~ x
5sr
+ x
4sr
+ x
3sr
+ x
2sr
+ x
1sr
186 0.46 y
sm
~ x
1sm

y
sr
~ x
3sr
+ x
2sr
+ x
1sr
184 0.45 y
sm
~ x
1sm
+ x
2sm
+ x
5sm
140 0.57
y
sm
~ x
1sm
+ x
2sm
139 0.56
y
sm
~ x
1sm
138 0.56
Kết quả ở cả 2 huyện MX và ĐH (Hình 6) thấy rằng những vuông có mức nước sâu hơn thì

Be, T.T, D. Brennan and H. Clayton, 2003. Socioeconomic characters of rice-shrimp farms in the
study region. In Rice–shrimp farming in the Mekong Delta: Biophysical and
Socioeconomic Issues. Preston, N & H. Clayton (eds.), ACIAR Technical Reports No. 52e,
170 pp.
Binh, C.T and C. Lin, 1995. Shrimp culture in Vietnam. World Aquaculture, 26, 27-33.
Binh, C.T., M.J. Phillips and H. Demaine, 1997. Integrated shrimp-mangrove farming systems in
the Mekong delta of Vietnam. Aquaculture Research, 28, 599-610.
Cheung, T.S., 1964. Contributions to the knowledge of the life history of Metapenaeus ensis and
other economic species of penaeid prawns in Hong Kong. Applied Ecology, 1 (2), 369-386.
Crocos, P.J. and T.D. Van Der Velde, 1995. Seasonal, spatial and interannual variability in the
reproductive dynamics of the grooved tiger prawn Penaeus semisulcatus in Albatross Bay,
Gulf of Carpentaria, Australia: the concept of effective spawning. Marine Biology, 122,
557–570.
Crocos, P.J., 1991. Reproductive dynamics of three species of penaeid prawns in tropical
Australia and the role of reproductive studies in fisheries management. In Crustacean
Issues 7, Crustacean Egg Production. Wenner, A. and A. Kuris (eds.), Balkema, Rotterdam,
pp. 317–332.
Dalgaard, P., 2005. Introductory statistics with R, statistic and computing, Springer, 267pp.
Faraway, J.J., 2005. Linear models with R, texts in statistical science by Chapman &Hall/CRC,
229pp.
Johnston, D., N.V.Trong, D.V. Tien and T.T. Xuan, 2000a. Shrimp yields and harvest
characteristics of mixed shrimp–mangrove forestry farms in southern Vietnam: factors
affecting production. Aquaculture, 188, 263–284.
Johnston, D., T.V.Trong, T.T.Tuan and T.T. Xuan, 2000b. Shrimp seed recruitment in mixed
shrimp and mangrove forestry farms in Ca Mau Province, Southern Vietnam. Aquaculture,
184, 89-104.
King, M., 2001. Fisheries Biology, Assessment and Management. Fishing News Books, 341pp.
Liao, I.C. and N.H. Chao, 1983. Development of prawn culture and its related studies. In the
First National Conference on Warm Water Aquaculture – Crustacean. Rogers, G.L., R.Day
and A. Lim (eds.), Brigham Young University Hawaii Campus, USA, p.127-142.

World Bank, 2011b: world development indicators, the world bank. From
http://data.worldbank.org/data-catalog/world-development-indicators?cid=GPD_WDI
(assessed April 27th, 2011

ABSTRACT
A variety of factors affecting the size and yield of Metapenaeus ensis were measured on shrimp farms in the My
Xuyen (MX) and Dong Hai (DH) districts, Mekong Delta, Vietnam, in 2010. Studies were conducted in shrimp–rice
paddy rotation systems (in MX) and in integrated shrimp–mangrove systems (in DH). The survey was carried out
120 households and sampled a total of 8 farms in the 2 districts. Result showed that M. ensis seed was collected
from wild populations through tidal recruitment at sluice gates. The recruitment occurred multiple times per year.
Yields of M. ensis in MX and DH were 31.0 ± 5.9 kg ha
–1
year
–1
and 39.2 ± 4.7 kg ha
–1
year
–1
,

respectively. Yields
were positively correlated with rates of water exchange and with the depths of ditches and flat-forms (p < 0.001).
The contributions of M. ensis to the total shrimp yield in MX and DH were 6.0% and 12.2% about yield; 8.5% and
7.3% about value, respectively.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status