PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế kỹ THUẬT của NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC KIÊN GIANG - Pdf 30

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA NGHỀ NUÔI ỐC
HƯƠNG Babylonia areolata Link 1807 Ở ĐẢO PHÚ QUỐC KIÊN GIANG
Trần Hoàng Tuân
1
, Ngô Văn Út
1
, Nguyễn Thị Hồng Điệp
2
và Trương Hoàng Minh
1
(1)
Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ
(2)
Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, Đại học Cần Thơ
TÓM TẮT
Nhằm đánh giá hiện trạng môi trường nước và khía cạnh kinh tế-kỹ thuật của nghề nuôi ốc hương ở đảo
Phú Quốc, nghiên cứu này đã được thực hiện thông qua việc thu mẫu môi trường nước hàng tháng theo mức nước
triều cao nhất và thấp nhất tại 4 điểm quanh khu vực nuôi. Bên cạnh đó, kết hợp phỏng vấn 30 hộ nuôi ốc hương ở
5 xã Hàm Ninh, Gành Dầu, An Thới, Bãi Thơm và Cửa Cạn, thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang từ tháng 05-
10/2011. Kết quả cho thấy, độ sâu mức nước dao động trong khoảng 0,7-1,5m; độ mặn từ 29,5-31,7‰; nhiệt độ:
28,2-32,4
o
C; pH: 7,3-8,5; DO: 6,2-9,2 mg/L; BOD: 0,3-0,8 mg/L; COD: 2,1-6,1 mg/L; TN: 0,14-0,85 mg/L và TP
từ 0,07-0,18 mg/L. Nhìn chung, các yếu tố môi trường thích hợp cho nuôi ốc hương và biến động không đáng kể
theo không gian và thời gian (P>0,05%). Về khía cạnh kỹ thuật và kinh tế, diện tích trung bình của lưới đăng là
171±134m
2
; mật độ thả là 548±212 con/m
2
; kích cỡ giống là 0,054 g/con; vụ nuôi chính từ tháng 2-8; thời gian nuôi
từ 4-4,5 tháng; kích cỡ ốc hương thu hoạch đạt 8,7±0,017 g/con (115 con/kg); tỉ lệ sống bình quân là 73,9±12,8%;

.
Việc thu mẫu được thực hiện theo định kỳ 1lần/tháng từ thời điểm thả giống đến khi thu
hoạch. Các chỉ tiêu môi trường được thu theo thủy triều cao nhất và thấp nhất trong ngày tại 4
điểm (điểm đầu, điểm giữa, điểm cuối và điểm xa cách khu vực nuôi 500 m) quanh khu vực nuôi
để tìm ra sự khác biệt giữa các địa điểm thu mẫu. Vị trí thu mẫu được xác định bởi máy GPS.
2.1.1.Phương pháp thu mẫu
Các chỉ tiêu được đo trực tiếp ở hiện trường gồm: độ sâu, nhiệt độ, độ mặn, pH.
Oxy hòa tan (DO) được thu và chứa trong chai nút mài nâu. Các chỉ tiêu (COD, BOD, TN, TP)
được thu vào cal nhựa 1 lít, bảo quản lạnh (bằng nước đá) và chuyển về phòng thí nghiệm phân
tích.
2.2.2.Phương pháp phân tích mẫu
Các chỉ tiêu thủy lý hóa được phân tích tại phòng phân tích chất lượng nước, Bộ môn
Thủy sinh học Ứng dụng, Khoa Thủy sản, Đại Học Cần Thơ theo các phương pháp chuẩn
(APHA, 1995) bao gồm:
Bảng 1: Chỉ tiêu và phương pháp phân tích
Chỉ tiêu Phương pháp phân tích
Oxy hòa tan (DO) Winkler
Tiêu hao oxy hóa học (COD) Oxy hóa KMnO
4
trong môi trường kiềm
Tiêu hao oxy sinh học (BOD) Winkler
TN, TP Kjeldahl
- NO
2
-
So màu APHA et al., 1995
- NO
3
-
Khử cadmium APHA et al., 1995

19h, qua một ngày truyền nhiệt của năng lượng mặt trời đã làm cho nhiệt độ nước tăng hơn so
với thời điểm trung bình của ngày, còn thu mẫu nước ròng vào lúc 6-8h nên nhiệt độ thắp hơn.
Bảng 2: Biến động các yếu tố thủy lý theo thời gian (Trung bình + std)
Chỉ tiêu Thủy triều
Đợt thu
1 2 3 4
Độ sâu
(m)
Nước lớn 0,97±0,12 1,06±0,12 1,49±0,15 1,43±0,15
Nước ròng 0,67±0,05 0,76±0,14 0,73±0,10 1,13±0,17
Độ mặn
(‰)
Nước lớn 31,3±0,60 30,3±1,00 30,9±0,50 30,4±0,58
Nước ròng 31,7±0,60 29,5±0,48 30,6±0,48 30,5±0,71
Nhiệt độ
(
o
C)
Nước lớn 32,4±0,13 31,5±0,61 30,4±0,41 30,0±0,29
Nước ròng 29,5±0,21 29,3±0,23 28,2±0,42 30,3±0,50
pH
Nước lớn 8,5±0,03 8,3±0,03 7,3±0,05 7,8±0,06
Nước ròng 8,4±0,09 8,4±0,03 7,3±0,02 7,9±0,04
pH cũng giảm dần theo thời gian thu, đặc biệt pH ở tháng 7 thấp nhất so với các tháng thu
mẫu, ở tháng 7 pH chỉ: 7,3±0,05 (nước lớn) và 7,3±0,02 (nước ròng), so với tháng 5 là 8,5±0,03
(nước lớn) và 8,4±0,09 (nước ròng). Ở tháng 7 pH thấp là do thu mẫu trùng vào thời điểm mưa
nhiều nên lượng nước mưa có tính acid đồng thời lượng nước từ trên nuối đổ xuống rửa trôi một
lượng phèn (có tính acid) chảy xuống biển kết hợp với việc thu mẫu ở tầng mặt và vị trí thu mẫu
cách bờ dao động 100-150 m.
b. Biến động theo không gian

Một số nguồn nước biển giàu dinh dưỡng (N,P) tạo điều kiện cho sinh vật phát triển mạnh, khi
đó khoảng dao động của pH có thể hơn nhưng ít khi lớn hơn 9 hoạt thấp hơn 7,5, pH giữa các
điểm thu mẫu cho thấy các điểm thu chỉ dao động ở 7,8-8,0. Với khoảng pH kiểm tra được ở khu
vực nuôi là phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của ốc hương vì loài ốc này ít bị ảnh hưởng
bởi sự thay đổi của pH.
3.1.2 Các yếu tố thủy hóa
a. Biến động theo thời gian
Oxy hòa tan (DO) qua các tháng tăng dần và biến động từ 6,2-9,2 mg/l (Bảng 3). Với
hàm lượng DO đo được cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Thu (2006) là
từ 4-6 mg/l, do DO được đo được ở tầng mặt nên ở độ sâu từ 0,79-1,38 m thì DO thấp hơn. DO
giữa các tháng thu mẫu ở nước lớn cao hơn nước ròng là do thu mẫu nước lớn vào lúc 17-19h
sau một ngày quang hợp của thực vật thủy sinh làm cho DO trong nước cao hơn so với thu mẫu
nước ròng lúc 6-8h sáng.
Bảng 3: Biến động các yếu tố thủy hóa theo thời gian (Trung bình + std)
Chỉ tiêu Thủy triều
Đợt thu
1 2 3 4
DO
(mg/l)
Nước lớn 8,0±0,08 7,8±0,16 9,2±0,31 8,7±0,30
Nước ròng 6,5±0,09 6,2±0,20 6,4±0,88 7,5±0,27
BOD
(mg/l)
Nước lớn 0,52±0,12 0,75±0,28 0,32±0,14 0,37±0,12
Nước ròng 0,43±0,28 0,74±0,20 0,41±0,26 0,34±0,17
COD
(mg/l)
Nước lớn 5,65±0,30 3,78±1,34 4,22±0,40 3,02±0,30
Nước ròng 6,14±0,65 4,26±0,37 4,90±0,52 2,10±0,64
TN

Kết quả phân tích COD cho thấy lúc nước ròng COD cao hơn (Hình 4). Biên độ triều biến
động từ 0,3-0,8 m, khi nước lớn mực nước ở nơi thu mẫu cao hơn lượng nước biển ở ngoài khơi
đổ vào làm cho lượng nước ở khu vực nuôi ốc hương pha loãng làm cho hàm lượng COD trong
nước giảm xuống và ngược lại khi nước ròng làm cho hàm lượng COD tăng lên.
 TN và TP
TN ở các điểm thu mẫu dao động trong khoảng 0,35-0,63 mg/l và TP có giá trị từ 0,1-0,17 mg/l.
Hình 5: Biến động TN và TP theo không gian
Biến động của TN và TP ở các địa điểm thu mẫu và giữa thời điểm nước lớn và nước
ròng không cao và hàm lượng TP trong nước ít khi vượt quá 1 mg/l (Boyd, 1990). Kết quả phân
tích được cho thấy mô hình nuôi ốc hương ở đảo Phú Quốc chưa gây tác động đến môi trường.
3.2. Khía cạch kinh tế và kỹ thuật của nông hộ nuôi ốc hương
3.2.1. Một số thông tin chung
 Trình độ học vấn và kinh nghiệm nuôi
Trình độ học vấn của hộ nuôi được khảo sát ở 5 xã thuộc huyện đảo Phú Quốc cho thấy trình
độ học vấn không cao: cấp 1 chiếm 34%, cấp 2 chiếm 33%, cấp 3 chiếm 20% và trên cấp 3
chiếm 13% (Hình 6). Điều này thể hiện đặc trưng của vùng biển đảo với truyền thống nghề đánh
bắc ven bờ là chính. Dẫn đến khó khăn ban đầu trong nghề nuôi ốc hương là tiếp cận những
thông tin kỹ thuật.
Hình 6: Trình độ và kinh nghiệm nuôi của các chủ hộ được khảo sát
Số hộ có kinh nghiệm nuôi ốc hương 2 năm chiếm tỉ lệ cao nhất 57 %, còn số hộ có kinh
nghiệm nuôi 5 năm chỉ duy nhất có 1 hộ chiếm 3 %, điều này cho thấy nghề nuôi ốc hương ở
Phú Quốc còn khá mới mẽ, trong những năm trước nghề nuôi ốc hương mang tính chất tự phát,
khi nhận thấy được hiệu quả từ nghề nuôi nên mới phát triển trong những năm gần đây. Về
nguồn thông tin kỹ thuật được tập huấn từ cán bộ kỹ thuật của huyện, tỉnh. Học hỏi kinh nghiệm
lẫn nhau giữa các hộ nuôi; ngoài ra còn tiếp nhận các thông tin từ báo đài và đây cũng là nguồn
thông tin rất quan trọng để tiêu thụ sản phẩm.
3.2.2. Khía cạnh kỹ thuật của nghề nuôi ốc hương
a. Đặc điểm của lồng nuôi
Bảng 4: Đặc điểm lồng nuôi
Đặc điểm lồng Trung bình Khoảng biến động

nuôi vì khi mua giống từ Nha Trang về ốc bị cạnh tranh môi trường, xây xát khi thả nuôi tỉ lệ hao
hụt cao đồng thời giá ốc giống cũng biến động lớn từ 120-260 đ/con (186±35 đ/con) do phụ
thuộc vào kích cỡ (18.600±3.870 con/kg) và thời vụ thả nuôi. Mật độ thả trung bình thả giống
của các hộ được khảo sát là 548±212 con/m
2
(250-1000 con/m
2
).
Bảng 5: Kích cỡ và mật độ nuôi
Các chỉ tiêu Trung bình Khoảng biến động
Kích cỡ giống (con/kg) 18.600 ± 3.870 12.000 – 30.000
Giá ốc giống (đ/con) 186 ± 35 120 - 260
Mật độ thả (con/m
2
) 548 ± 212 250 - 1000
Nguồn ốc giống Nha Trang
Khâu chăm sóc và quản lý của nông hộ nuôi ốc hương được phỏng vấn khá đơn giản.
Thức ăn cho ốc ăn là cá tạp, tôm tít, cua ly được mua hàng ngày (giá từ 6.000-10.000 đ/kg) vào
mỗi buổi sáng để cho ốc ăn cả ngày, ốc nhỏ cho ăn 2 lần/ngày và ốc lớn cho ăn 1 lần/ngày. Khi
cho ốc ăn rải thức ăn điều khắp lồng nuôi, sau 2-3 tiếng kiểm tra lượng thức ăn cho ốc ăn để điều
chỉnh lại vào buổi kế tiếp đồng thời vớt sát thức ăn ra tránh ô nhiễm nguồn nước và theo dõi sức
khỏe của ốc.
3.2.3. Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi được khảo sát
a. Tỉ lệ sống, năng suất và hiệu quả của mô hình nuôi
Kích cỡ ốc thu hoạch trung bình khoảng 115±16,7 con/kg (95-160). Kích cỏ ốc thu hoạch
phụ thuộc rất lớn vào thời gian nuôi và mùa vụ thả nuôi. Theo khảo sát nhận thấy tốc độ tăng
trưởng của ốc hương tương đối nhanh với thời gian nuôi trung bình 4,07±0,54 tháng thì kích cỡ
ốc đạt 115±16,7 con/kg, tốc độ tăng trưởng của ốc nhanh hơn rất nhiều so với kết quả nghiên cứu
của Nguyễn Thị Xuân Thu (2006) khi nuôi trong lồng với thời gian nuôi 6 tháng kích cỡ thu
hoạch 120 con/kg. Giá ốc thương phẩm trong năm 2011 biến động rất lớn từ 100-295 nghìn

7,28±1,65 (5,91-14,17). Mặc dù FCR tương đối lớn nhưng tất cả các hộ khảo sát được điều có lợi
nhuận trung bình 22,6±23,7 nghìn đồng/100m
2
với tỉ suất lợi nhuận trung bình 0,57±0,52 (0,09-
1,82) và tỉ suất lợi nhuận tỉ lệ nghịch với FCR. Tỉ suất lợi nhuận đạt được từ mô hình là khá cao
và có khoảng biến động lớn từ 0,09-1,82.
b. Chi phí đầu tư cho mô hình nuôi
Các khoảng chi phí đầu tư của nông hộ khảo sát được là: Thức ăn: 50,65 %; con giống:
25,31 %; công lao động: 16,34%; lưới đăng 4,69%; hóa chất và chi phí khác: 3,02% (Hình 7).
Chi phí thức ăn chiếm tỉ lệ cao do trong suốt quá trình nuôi, lượng thức ăn cung cấp phần lớn
điều được mua từ các ghe cào và một số ít từ các hộ đánh bắt nhỏ ven bờ, không chủ động được
nguồn thức ăn, đồng thời do số hộ nuôi ốc ngày càng tăng làm lượng thức ăn khai thác tự nhiên
ngày càng cạn kiệt đã đẫy giá thức ăn lên cao. Nguồn ốc giống phụ thuộc hoàn toàn từ Nha
Trang, không chủ động được từ địa phương cũng đã làm chi phí đầu tư tăng lên.
Hình 7: Tỉ lệ phần trăm các khoảng đầu tư
Nhìn chung mô hình nuôi ốc hương khảo sát được cho thấy mang lại lợi nhuận cao nhưng
chi phí đầu tư lớn điều này đã làm giới hạn nghề nuôi của một số nông hộ có kinh tế thấp và nếu
có thể chỉ nuôi nhỏ lẻ.
3.2.4. Tình hình dịch bệnh
Trong năm 2009 dịch bệnh diễn biến phức tạp, tại xã Gành Dầu huyện Phú Quốc khi ốc
sắp đến ngày thu hoạch thì chết hàng loạt chủ yếu do bệnh sưng vòi. Các hộ nuôi ốc hương tại
các bãi Rạch Vẹm, Bãi Dài đã bị mất trắng vì ốc chết. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ốc hương bị
chết hàng loạt có thể xuất phát từ nguồn giống mang sẵn mầm bệnh, phần lớn giống mua từ Nha
Trang đưa về chưa qua kiểm dịch, con giống không khỏe mạnh. Năm 2010, dịch bệnh lại tiếp tục
xảy ra nhưng chủ yếu vào mùa nghịch, theo khảo sát trong toàn huyện thì có 73% số hộ có ốc bị
bệnh sưng vòi. Riêng năm 2011 thì dịch bệnh không xảy ra.
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1. Kết luận
Hầu hết các chỉ tiêu môi trường ít bị biến động theo không gian và thời gian như: độ
mặn, BOD, COD, TN, TP. Nhưng có một số chỉ tiêu biến động theo biên độ triều trong ngày (độ

Trịnh Thị Thu Hương, Chu Quang Truyền và Đỗ Văn Mạnh, 2005. Nghiên cứu hóa học và
hoạt tính sinh học trong một số đối tượng thân mềm Việt Nam: Hàu Crassostrea belcheri
(Sowerby), vẹm xanh Perna viridis (Linne) và ốc hương Babylonia areolata (Link). Tuyển
tập báo khoa học Hội thảo động vật thân mềm toàn quốc. Nhà xuất bản nông nghiệp, 2005:
trang 183 - 191.
Lê Quốc Việt và Trần Ngọc Hải, 2008. Một số khía cạnh kỹ thuật và kinh tế mô hình nuôi cá
trình (Anguilla sp.) ở Cà Mau. Trong tạp chí khoa học, Đại Học Cần Thơ, 2008 (2), Trang
198-204.
Lê Văn Cát, Đỗ Thị Hồng Nhung và Ngô Ngọc Cát, 2006. Nước nuôi thủy sản chất lượng và giải
pháp cải thiện chất lượng. NXB Khoa Học và Kỹ Thuật Hà Nội. 424 trang.
Ngô Anh Tuấn, 1999. Đặc điểm phân bố và tình hình khai thác ốc hương (Babylonia areolata
Lamarck) tại vùng biển Bình Thuận. Tuyển tập báo khoa học hội thảo động vật thân mềm
toàn quốc. Nhà xuất bản nông nghiệp, 1999: trang 118 - 126.
Ngô Thị Thu Thảo và Trương Quốc Phú, 2009. Giáo trình Kỹ thuật nuôi động vật thân mềm.
Khoa thủy sản Đại Học Cần Thơ: trang 24 - 30.
Nguyễn Thị Xuân Thu, 2006. Đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống và nuôi ốc hương.
NXB. Nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh. 77 trang.
Phạm Thị Tuyết Ngân, Vũ Ngọc Út, Trương Quốc Phú và Nguyễn Hữu Hiệp, 2011. Ảnh hưởng
của vi khuẩn hữu ích lên các yếu tố môi trường và tôm sú (penaeus monodon) nuôi trong
bể. Trong tạp chí khoa học, Đại Học Cần Thơ, 2011, số: 20B, Trang 59-68.
Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2006. Bài Giảng Quản Lý Chất Lượng Nước. Khoa Thủy
Sản-Đại Học Cần Thơ. 201 trang.
ABSTRACT
In order to assess the current status of water environmental, technical and economic aspacts in Babylonia culture in
Phu Quốc island, this study was conducted out through water sampling monthly at highest and lowest tidal levels at
4 sampling sites in Babylonia culture area. Besides, interviews 30 Babylonia farmers was also carried out in Ham
Ninh, Ganh Dau, An Thoi, Bai Thom and Cua Can hamlets, Phu Quoc district, Kien Giang province from May to
October, 2011. As the results, environmental parametters’ fluctuation such as water level was 0.7-1.5m; salinity at
29.5-31.7‰; temperature: 28.2-32.4
o


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status