KHUYNH HƯỚNG HẬU HIỆN ĐẠI
TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975
Phùng Gia Thế
1Liên quan đến vấn đề hậu hiện đại ở Việt Nam còn nhiều câu hỏi để ngỏ: Đâu là
điều kiện hậu hiện đại của văn chương Việt Nam? Chúng ta chưa đi qua hiện đại vậy có
thể hậu hiện đại được không? Những dấu hiệu nào cho thấy ở ta đã có khuynh hướng văn
chương hậu hiện đại? Hậu hiện đại của ta bắt đầu từ bao giờ, diễn biến của nó ra sao?
Giới hạn trên cứ liệu văn xuôi sau 1975, bài viết này của chúng tôi sẽ tập trung giải
quyết các vấn đề trên.
1. Mở đầu
Sau những dè dặt, hồ nghi ban đầu, tới nay, các thuật ngữ “hậu hiện đại”, “văn học hậu hiện đại”
đã mặc nhiên được thừa nhận trong các sinh hoạt học thuật ở Việt Nam
(1)
. Có thể nói, hậu hiện đại ở Việt
Nam ngày nay không còn là chuyện “có hay không” nữa, mà vấn đề là chỗ ta nhìn nhận, đánh giá nó như
thế nào. Từ góc nhìn hôm nay, chúng tôi cho là đã có một khuynh hướng hậu hiện đại trong văn chương
đương đại. Dấu hiệu nổi bật của nó là sự in đậm của “cảm quan hậu hiện đại” trong sáng tác của nhiều
nghệ sĩ, và sự xuất hiện ở tần số cao hàng loạt các thủ pháp kĩ thuật, các nguyên tắc cấu trúc văn bản, tổ
chức trần thuật, cách cấu trúc hình tượng tiêu biểu của văn chương hậu hiện đại.
Liên quan đến vấn đề hậu hiện đại ở Việt Nam còn nhiều câu hỏi để ngỏ: Đâu là điều kiện hậu
hiện đại của văn chương Việt Nam? Chúng ta chưa đi qua hiện đại vậy có thể hậu hiện đại được không?
Những dấu hiệu nào cho thấy ở ta đã có khuynh hướng văn xuôi hậu hiện đại? Hậu hiện đại của ta bắt đầu
từ bao giờ, diễn biến của nó ra sao? Bài viết này của chúng tôi, trên cơ sở phân tích thực tiễn các tác
phẩm văn xuôi sẽ tập trung giải quyết các vấn đề trên.
2. Nội dung
2.1. Sẽ không có dấu hiệu của văn hóa hậu hiện đại nếu không có những “hoàn cảnh” (điều kiện,
trạng thái) hậu hiện đại. Lyotard nói “hoàn cảnh hậu hiện đại” trong cuốn sách của ông là “hoàn cảnh của
theo nghĩa rộng nhất, như là một “thái độ” thì không hẳn đã phụ thuộc vào cái hiện đại. Lyotard nói: mọi
thứ đều hậu hiện đại trước khi trở thành hiện đại. Còn, “chủ nghĩa hậu hiện đại”, hiểu như một trào lưu
văn hoá, thì dĩ nhiên phải ra đời sau “thời hiện đại” và “chủ nghĩa hiện đại” rồi. Theo đây, mọi cách hiểu
về hậu hiện đại, sẽ phụ thuộc vào cách hiểu hiện đại. Ta chưa đi qua hiện đại, vẫn có thể có trải nghiệm
hậu hiện đại. Những “điều kiện hậu hiện đại” và dấu hiệu của nó thực tiễn đã nói lên. Có điều, để dấy lên
thành một trào lưu văn học hậu hiện đại thì hẳn còn xa. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ở ta, chỉ có thể
vừa tiếp thu chủ nghĩa hiện đại, vừa tiếp thu chủ nghĩa hậu hiện đại. Thực ra đó là một phép ứng xử cần
thiết với chúng ta, ở mọi thời.
“Thời hiện đại” và “chủ nghĩa hiện đại” là những khái niệm khác nhau. Không thể đánh đồng
“hiện đại” với “những giá trị của hiện đại”. “Tinh thần hậu hiện đại” thể hiện trước hết ngay ở thái độ phê
phán hiện đại, cụ thể hơn là phê phán những hạn chế và ảo tưởng của hiện đại. Trong văn xuôi, cảm quan
có ý nghĩa triết học này dù được ý thức tự giác ở mức độ chưa cao, song dấu hiệu của nó vẫn có thể tìm
thấy trong cấu trúc văn bản tác phẩm của hàng loạt nhà văn. Tính đoản mạch, đứt đoạn, phi tuyến tính
trong trần thuật như một đối ứng với tính mạch lạc, ổn định, trật tự, duy lí; tính phân mảnh của chủ thể
như một phản ứng với tính thống nhất phổ quát; sự đa nguyên cái nhìn như một khước từ với nguyên tắc
nền tảng luận; tính thông tục, tính bên lề của ngôn ngữ như một phản ứng với tính trong sáng, cao sang;
Những đặc điểm này có thể được bộc lộ trong hệ thống sáng tác của một nhà văn, của một nhóm tác giả;
trong một tác phẩm; và thậm chí, sẽ có cái gọi là “chất hậu hiện đại” trong một tác phẩm. Có thể tìm thấy
bằng cớ trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Thực đơn chủ nhật, Chín bỏ làm mười, Thiên
sứ, Ám thị, Năm ngày, Hành trình của những con số của Phạm Thị Hoài, Thân phận của tình yêu của Bảo
Ninh, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Cõi
người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái, Thoạt kì thuỷ, Người đi vắng, Ngồi, Trí
nhớ suy tàn của Nguyễn Bình Phương, Người ăn gió của Nhật Chiêu, Manet của Đặng Thân, Chuyện tình
mùa tạp kĩ của Lê Anh Hoài,…
Nghiên cứu văn chương hậu hiện đại cũng phải quan tâm tới dấu nối giữa hậu hiện đại và hiện
đại. Chỉ chăm chú tìm sự khác biệt giữa chúng có thể sẽ rơi vào một cực đoan khác. Tâm thức hậu hiện
đại, trên thực tế còn thể hiện ở việc bảo vệ những “giá trị của hiện đại” (chẳng hạn như là sự tự do và khai
phóng cá nhân). Theo Lyotard thì “Hậu hiện đại không phải là sự cáo chung của Hiện đại […] mà là một
quan hệ khác với Hiện đại”
(4)
nỗi đau khổ đầy đoạ con người từ tiền kiếp (Lão Khổ, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối). Tiểu thuyết
Hồ Anh Thái xem đời sống như những mảnh vỡ, thể hiện tinh vi nỗi hoang mang của con người về con
người và cái lộn xộn, phi lí, nhố nhăng của thời buổi (Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm).
Paris 11 tháng 8, T. mất tích của Thuận là một diễn dịch mới về tình trạng bất an, vong bản, bị kết án
“mất tích”, một nỗi niềm kinh hãi “rằng có ai đó đang vẽ kiểu cho cuộc sống của mình”
Như thế, cảm quan hậu hiện đại trong văn chương không chỉ thể hiện ở chỗ nhà văn tái hiện sự
hỗn loạn của đời sống, mà quan trọng hơn, chính là một nguyên tắc nhìn đời sống của nhà văn: đời sống
như là một sự hỗn độn, không còn tiêu chuẩn giá trị và định hướng có ý nghĩa nào. Nhà văn xem bản chất
thế giới là hỗn mang, anh ta chấp nhận sự hỗn độn như là một sự kiện… Và theo đây, sự dịch chuyển về
tâm thức hậu hiện đại trong văn chương của ta còn thể hiện ở chỗ: trước cái hỗn loạn, đổ vỡ, tai biến của
hiện thực, thay vì “khóc than”, “đề kháng”, hay “nỗ lực chữa trị”, nhà văn lại “xâm nhập vào nó bằng một
tình cảm mật thiết”, thậm chí, anh ta còn “chơi cùng cái hỗn loạn” Đọc Người đi vắng, Ngồi của
Nguyễn Bình Phương, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái có
thể thấy khá rõ điều này.
Trong thơ, cảm thức hậu hiện đại khó xác nhận hơn trong văn bản hình tượng song lại thể hiện
đậm nét qua thái độ của nhà thơ với thơ và cách hành ngôn thơ. Người làm thơ theo khuynh hướng hậu
hiện đại ở ta quan tâm nhiều đến việc làm mới chữ, mới âm, đến tính chất trò diễn của ngôn từ. Có thể
thấy điều này trong nhiều sáng tác của Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Từ Huy, Đặng Thân, Như Huy,
nhóm Mở Miệng
Cảm quan hậu hiện đại là một dấu hiệu văn hoá của văn chương, ghi nhận kịp thời một hiện trạng
tinh thần của con người thời đại. Điều này trước hết bộc lộ tự nhiên trong các sáng tác, không chờ nhà
văn tuyên bố hay tự giác viết để thể hiện cảm quan đó. Tất nhiên, nếu có được điều này, nhất là ở các nhà
văn tài năng, thì chúng ta đã có tác gia hậu hiện đại, theo ý nghĩa đầy đủ của từ này rồi.
Nghiên cứu văn chương hậu hiện đại phải xét tới “cảm quan hậu hiện đại”. Song, “cảm quan hậu
hiện đại” nếu được hiểu như là sự mất niềm tin vào cái chính thống, là thái độ chống lại sự áp đặt của cái
chính thống, thì, xét kĩ ra, văn chương thời nào cũng có. Và, đấy cũng là khi người ta hiểu hậu hiện đại
theo nghĩa rộng nhất của từ này. Cách hiểu này, khiến chúng ta phải đối mặt với những câu hỏi, đại loại:
Thế thì, ai hậu hiện đại? Nghệ sĩ dân gian cũng hậu hiện đại sao? Hồ Xuân Hương, Bút Tre (Đặng Văn
Đăng) có hậu hiện đại không? Nếu cách hiểu này được chấp nhận, thì ta không nên nhất mực rằng
phương Tây hậu hiện đại trước! Con người cá nhân hậu hiện đại, khi đó, sẽ có trước trào lưu văn hoá
năng, tha hoá, người điên, kẻ lạc loài, những đám đông bất thường, ô hợp, thậm chí, trong một vài trường
hợp, nhân vật chỉ còn là “những bóng ma” Nhìn chung, kiểu nhân vật tầm thường thay thế các hình mẫu
lí tưởng. Sự “giải nhân cách hoá” hậu hiện đại đã dẫn tới tình trạng thiếu vắng tính cách trong văn chương
như một qui luật. Các tác phẩm của Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương rất tiêu biểu
cho nhận xét này.
Trường nhìn thay đổi tạo cơ hội cho nghệ sĩ tự do sáng tạo. Tuy nhiên, một số trường hợp đôi khi
đã trở nên cực đoan, quá đà. Thiếu sự nghiền ngẫm, tác phẩm tự nó trở thành tiếng nói loanh quanh.
Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế Hoàng Linh là một thí dụ. Rồi sự quá tải của sex, như Bóng đè
chẳng hạn. Nhóm Mở Miệng ghi dấu ấn bằng những tuyên ngôn và một cách hành xử mới với thơ. Song,
tác phẩm của họ chủ yếu chỉ thể hiện được một kiểu thái độ, một kiểu phát ngôn, đến nay chưa có khám
phá gì thực sự quan trọng.
2.4. Dấu hiệu của khuynh hướng hậu hiện đại trong văn xuôi không chỉ được bộc lộ trên bình
diện cảm quan, mà còn in dấu đậm trong các thủ pháp kĩ thuật nổi bật (nhại, trần thuật phi tuyến ). Có
điều đáng chú ý là, khi nghiên cứu các thủ pháp kĩ thuật của văn chương hậu hiện đại, chúng ta phải luôn
đặt chúng trong tương quan với thế giới quan nghệ sĩ, như là hình thức của thế giới quan. Việc xem xét
tách rời các yếu tố này với thế giới quan, rộng hơn là với “tính cộng đồng thế giới quan” của nghệ sĩ dựa
trên cơ sở lịch sử văn hoá thời đại, thực tế, đã dẫn tới những kết luận thiếu thuyết phục. Nguy cơ cả làng
hậu hiện đại, theo đây, thêm một lần nữa xuất hiện. Lối viết hậu hiện đại cho phép nghệ sĩ tự do khai thác,
sử dụng các biện pháp, thủ pháp nghệ thuật của các kiểu sáng tác trước đó. Vậy nên, sự xuất hiện các thủ
pháp kĩ thuật của truyền thống trong văn chương hậu hiện đại cũng là qui luật bình thường. Ta đừng khu
biệt hoá nó. Tuy nhiên, gắn với cảm quan mới, vẫn có thể tìm thấy những “yếu tính” trong diện mạo thi
pháp của nghệ thuật hậu hiện đại. Giễu nhại, lắp ghép, liên văn bản, trần thuật đoản mạch, ý thức hỗn
dung thể loại đều không phải là sự trú chân mà đã trở thành hình thức tiêu biểu của cái nhìn, trở thành
một “nguyên tắc” tổ chức văn bản. Có thể tìm thấy nhiều bằng chứng trong văn xuôi ở ta gần đây. Chẳng
hạn ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đó là sự vận dụng “thủ pháp trần thuật mang tính lập thể”, sự khai
thác bình đẳng các phát ngôn trong hệ thống điểm nhìn, sự đa dạng và dịch chuyển liên tục của các điểm
nhìn trần thuật, sự vặn gẫy vai xã hội và vai tính cách truyền thống trong hình tượng, vô số các hình
tượng nhại, nhiều kết thúc, xen kẽ, có thể “tháo dỡ” được (Tướng về hưu, Không có vua, Con gái thuỷ
thần, Chút thoáng Xuân Hương, Muối của rừng, Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn, Kiếm
sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Mưa Nhã Nam, ). Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn biểu hiện một cuộc
biến của nó đương phức tạp. Có thể hình dung ra ba chặng như thế này. Giai đoạn thứ nhất gắn với tên
tuổi của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài với vai trò như những người khơi mở. Cấu trúc văn bản của
họ đã có những chuyển hướng về hậu hiện đại, song cảm trạng thời đại có phần nổi trội hơn, nhất là ở
Nguyễn Huy Thiệp. Giai đoạn hai là sự tiếp nối của một thế hệ nhà văn ít bận tâm hơn về chính trị, thời
cuộc, thực tế đã đẩy cuộc chơi nghệ thuật đi xa hơn. Họ gồm Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Nguyễn
Bình Phương một số người khác. Giai đoạn thứ ba là thế hệ “phá cách” gần đây với Inrasara, Đặng Thân,
Lê Anh Hoài,
Có một thực tế là, theo thời gian, ý thức chuyển hướng về hậu hiện đại ngày càng đậm nét hơn
trước, song thành tựu lại có phần hạn chế hơn. Hậu hiện đại, đương nhiên tự bản thân nó chẳng có tội tình
gì. Ta cũng không thể đem “hậu hiện đại” ra để làm tiêu chí đánh giá chất lượng của mọi thử nghiệm. Gần
đây, văn chương theo khuynh hướng hậu hiện đại khá ồn ào. Trong khi đó, thành tựu đích thực thì chẳng
lệ thuộc gì vào sự ồn ào cả. Có thể gọi đó là một sự khủng hoảng được chăng? Trong văn xuôi, hiện
tượng văn bản “rỗng nghĩa”, hỗn loạn tự thân - không biểu hiện thế giới quan, mà là biểu hiện của sự bất
lực xuất hiện nhiều. Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế Hoàng Linh là một thí dụ. Không thể nhân hoá
cõi tù mù của khách thể, tác giả đã dùng lối văn tù mù, loanh quanh để diễn đạt nó
(5)
. Rồi trong thơ, sự
bành trướng của quá nhiều chữ “phi văn chương” dẫn đến tình trạng “loạn ngôn”, vượt rất xa “ngưỡng
tiếp nhận”, thậm chí “ngưỡng chịu đựng” của bạn đọc, cũng không thiếu. Nhiều bài thơ của nhóm Mở
Miệng cho thấy điều này. Ai cũng biết, tính tiêu dùng, tính thông tục, thậm chí việc cố ý làm “rỗng nghĩa”
văn bản cũng là một đặc điểm của hậu hiện đại. Song sự quá trớn vô lối lại là một chuyện khác. Đành
rằng, chúng ta không thể đánh giá văn học ngày hôm nay chỉ bằng những “tiêu chuẩn” của ngày hôm qua.
Song, sáng tạo nghệ thuật chân chính trước sau thù địch với thói tuỳ tiện. “Tiêu chuẩn thẩm mĩ” không
bất biến, nhưng nó cũng có những giá trị tương đối vững bền. Để thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của công
chúng theo chiều hướng tích cực, chỉ có một “món đặt cược” duy nhất là các nghệ sĩ tài năng.
Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến có một nhận xét đúng, rằng những cây bút lớn của ta gần đây
đều có “phong thái cổ điển”
(6)
. Như Nguyễn Huy Thiệp chẳng hạn. Ông là cây bút lớn. Nhưng ông mới
chớm bước vào hậu hiện đại. Ông còn khá nhiều vướng bận với truyền thống. Đấy là lí do mà có người đã
đây thể hiện một qui luật bình thường trong giao lưu văn hoá nhưng lại ghi một dấu ấn quan trọng đối với
sự tiến triển của văn chương. Nó chứng tỏ tinh thần hội nhập mạnh mẽ và thuận chiều của văn chương
nước ta với tiến trình văn chương thế giới. Khuynh hướng hậu hiện đại trong văn chương, trên thực tế đã
góp phần làm phong phú thêm diện mạo thi pháp văn học dân tộc, thay đổi tư duy văn học, cách đọc và
thị hiếu thẩm mĩ của công chúng. Thử nghiệm theo khuynh hướng hậu hiện đại đáp ứng được đòi hỏi phát
triển của bản thân văn chương, và trước hết nó giúp cho các nghệ sĩ thoả mãn nhu cầu với cái mới, cũng
là để mở rộng chân trời sáng tạo của mình…
Khuynh hướng hậu hiện đại là một đặc điểm thẩm mĩ quan trọng của văn xuôi Việt Nam đương
đại. Việc nghiên cứu khuynh hướng này đòi hỏi nhiều công phu và không ít khó khăn, phức tạp. Bài viết
trên đây của chúng tôi mới chỉ là những tìm hiểu ban đầu.
Chú thích
(1)
Tài liệu đầu tiên về hậu hiện đại được giới thiệu ở Việt Nam là bài Vài suy nghĩ về cái gọi là hậu hiện
đại của nhà nghiên cứu người Tây Ban Nha Antonio Blach (Nguyễn Trung Đức dịch), Tạp chí Văn học,
số 5 – 1991. Từ đó đến nay đã xuất hiện hàng trăm công trình nghiên cứu, lí luận phê bình, dịch thuật,
hàng chục buổi giới thiệu, tọa đàm liên quan đến hậu hiện đại.
(2)
J. F. Lyotard, Hoàn cảnh hậu hiện đại (Ngân Xuyên dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính), Nxb. Tri thức,
2007, tr. 54.
(3)
Nguyễn Hưng Quốc, Chủ nghĩa hậu hiện đại và những cái (cần) chết trong văn học
Việt Nam,
(4)
Dẫn theo Bùi Văn Nam Sơn, Lyotard với tâm thức và hoàn cảnh hậu hiện đại (Lời giới thiệu Hoàn
cảnh hậu hiện đại), sách trên, tr. 15.
(5)
Xem thêm: Phùng Gia Thế, Một ví dụ tiêu cực về tiểu thuyết trẻ, Văn nghệ Trẻ, số 26 – 2010.
(6)
Hoàng Ngọc Hiến, Tiếp nhận những cách tân của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại ở Việt Nam,