1
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt tại các đô thị không
chỉ còn là vấn đề riêng lẻ của một quốc gia hay một khu vực mà nó đã trở thành vấn đề
của toàn cầu. Với tốc độ phát triển kinh tế ngày càng cao như hiện nay thì những hoạt
động như giao thông vận tải, nhiều khu công nghiệp, nhà máy sản xuất mọc lên là
nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm không khí.
Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới trong thời
gian qua đã có những tác động lớn đến môi trường, đã làm cho môi trường sống của
con người bị thay đổi và ngày càng trở nên tồi tệ hơn.
Những năm gần đây, nhân loại đã phải quan tâm nhiều đến vấn đề ô nhiễm
không khí. Đó là sự biến đổi của khí hậu, nóng lên toàn cầu, sự suy giảm tầng ozon và
mưa axit.
Ở Việt Nam ô nhiễm môi trường không khí đang là vấn đề bức xúc đối với môi
trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề.
Để khắc phục, giảm thiểu mức độ ô nhiễm không khí hiện nay, một số công
trình khoa học đã tiến hành nghiên cứu chế tạo các vật liệu hấp phụ khác nhau nhằm
cải thiện môi trường không khí xung quanh.
Than hoạt tính là vật liệu hấp phụ có khả năng xử lý ô nhiễm môi trường không
khí rất tốt và đang được các nhà nghiên cứu quan tâm hiện nay. Tận dụng nguồn
nguyên liệu phế thải dồi dào là lõi ngô để chế tạo than hoạt tính không những góp phần
làm giảm ô nhiễm môi trường không khí mà còn đem lại nhiều lợi ích về kinh tế, xã
hội.
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu khả năng hấp phụ khí SO
2
của than hoạt tính thị trường và than hoạt tính được chế tạo từ lõi ngô”. Đề tài
nghiên cứu với nội dung như sau:
1.Chế tạo hệ thống xác định khả năng hấp thụ và hấp phụ khí SO
2
2.Khảo sát khả năng hấp thụ khí SO
2
Phần trên cùng của tầng đối lưu có nhiệt độ thấp nhất (vào khoảng -56°C) được
gọi làđỉnh tầng đối lưu hoặc lớp dừng (tropopause), đánh dấu sự kết thúc xu hướng
giảm nhiệt theođộ cao trong tầng đối lưu, và bắt đầu có sự tăng nhiệt độ. Ở đỉnh tầng
đối lưu do nhiệt độ rấtthấp, hơi nước bịngưng tụ và đông đặc nên không thể thoát khỏi
tầng khí quyển thấp. Nếukhông có đỉnh tầng đối lưu, đóng vai trò như tấm chắn rất hữu
hiệu, hơi nước có thể bay lêncác tầng khí quyển bên trên và sẽ bị phân tích dưới tác
dụng của bức xạ tử ngoại có nănglượng lớn. Hydro tạo thành do phản ứng phân tích sẽ
thoát khỏi khí quyển (hầu hết hydro vàheli vốn có trong khí quyển đã thoát khỏi khí
quyển theo con đường này).
b.23,-/!./001
Tầng bình lưu ở độ cao từ 11 đến 50 km, nhiệt độ tăng theo độ cao, từ -56°C
đến khoảng -2°C. Thành phần chủ yếu của tầng này là O
3
, ngoài ra còn có N
2
, O
2
và
một số gốc hóa học khác. Phía trên đỉnh tầng đối lưu và phần dưới của tầng bình lưu là
tầng ozon, nhiệt độ trong tầng này gần như không đổi. Ozon ở vùng này đóng một vai
trò cực kỳ quan trọng, nó có tác dụng như lá chắn bảo vệ cho cuộc sống trên bề mặt
Trái đất, tránh được tác hại của tia tử ngoại từ ánh sáng Mặt trời.
4
O
3
+ hν (λ: 220 - 330 nm) O
2
+ O + Q (làm tăng nhiệt độ)
Trong tầng bình lưu, không khí ít bị khuấy động, do đó thời gian lưu của các
phần tử hóa học ở vùng này khá lớn. Nếu các chất gây ô nhiễm bằng cách nào đó xâm
2-
, NO
2
-
, NO
3
-
,
và nhiều hạt bị ion hóa phản xạ sóng điện từ sau khi hấp thụ bức xạ Mặt trời ở
vùngtử ngoại xa (λ< 290 nm).
Ngoài các tầng trên, người ta còn có khái niệm tầng điện ly hay tầng
ngoài(exosphere) và tầng ion (ionosphere).
Tầng ngoài bao quanh Trái đất ở độ cao lớn hơn 800 km, có chứa các ion oxy
O
+
(ở độcao < 1500 km), heli He
+
(< 1500 km) và hydro H
+
(> 1500 km). Một phần
hydro ở tầng nàycó thể tách ra và đi vào vũ trụ (khoảng vài nghìn tấn năm). Mặt khác,
các dạng plasma do Mặttrời phát ra và bụi vũ trụ (khoảng 2 g/km2) cũng đi vào khí
quyển Trái đất. Nhiệt độ của tầngnày tăng rất nhanh đến khoảng 1700°C.
Tầng ion là khái niệm dùng để chỉ phần khí quyển ở độ cao từ 50 km trở lên,
trong vùng nàykhông khí có chứa nhiều ion. Sự có mặt của các ion trong vùng này đã
được biếtđến từ năm 1901, khi người ta phát hiện ra hiện tượng phản xạ của sóng radio
icủa lớp khíquyển tầng cao.
5
Giới hạn trên của khí quyển và đoạn chuyển tiếp vào vũ trụ rất khó xác định,
cho tớinay, người ta mới ước đoán khoảng 500 - 1000 km.
Hidro H
2
0,5ppm 180
Nitơ oxit N
2
O 0,25ppm 1.900
Cacbon monoxit CO 0,10ppm 500
Ozon O
3
0,02ppm 200
Sunfua dioxit SO
2
0,001ppm 11
Nitơ dioxit NO
2
0,001ppm 8
Ngoài các thành phần chính đã được liệt kê ở bảng 1.1, trong không khí còn chứa
rất nhiều thành phần khác được sinh ra trong các quá trình tự nhiên và nhân tạo. Những
thành phần này có thể gây độc hại, ảnh hưởng đến đời sống của con người và sinh vật.
Hàm lượng tối đa cho phép của các thành phần độc hại theo tiêu chuẩn quốc tế và quốc
gia được nêu
8 &9:;,<$%&'(%()
6
Ngoài các thành phần chính đã được liệt kê ở bảng 1.1, trong không khí còn
chứa rất nhiều thành phần khác được sinh ra trong các quá trình tự nhiên và nhân tạo.
Những thành phần này có thể gây độc hại, ảnh hưởng đến đời sống của con người và
sinh vật. Hàm lượng ở bảng 1.2 và 1.3
Bảng 1.2. Nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong không khí xung
quanh
Đơn vị: Microgam trên mét khối (μg/m
24 giờ - 50
7 Bụi chứa amiăng
Chrysotil
Mg
3
Si
2
O
3
(OH) - 1 sợi/m
3
8 Cadimi (khói gồm ôxit
và kim loại – theo Cd)
Cd 1 giờ 0,4
8 giờ 0,2
Năm 0,005
9 Clo Cl
2
1 giờ 100
24 giờ 30
10 Crom VI (hợp chất, tính
theo Cr)
Cr
+6
1 giờ 0,007
24 giờ 0,003
Năm 0,002
11 Hydroflorua HF 1 giờ 20
24 giờ 5
Năm 1
24 giờ 30
19 Axit acrylic C
2
H
3
COOH Năm 54
20 Benzen C
6
H
6
1 giờ 22
Năm 10
21 Benzidin NH
2
C
6
H
4
C
6
H
4
NH
2
1 giờ KPHT
22 Cloroform CHCl
3
24 giờ 16
Năm 0,04
23 Hydrocabon C
3
CHO 1 giờ 45
Năm 30
31 Axit propionic CH
3
CH
2
COOH 8 giờ 300
32 Hydrosunfua H
2
S 1 giờ 42
33 Methyl mecarptan CH
3
SH 1 giờ 50
24 giờ 20
34 Styren C
6
H
5
CH=CH
2
24 giờ 260
Năm 190
35 Toluen C
6
H
5
CH
3
Một lần tối đa 1000
- Cháy rừng: Các đám cháy này thường lan truyền nhanh, rộng có nhiều bụi và
các khí.
- Bão bụi gây nên gió mạnh: Bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất trồng và gió
thổi tung lên thành bụi. Sóng biển cũng tung hơi nước mang theo bụi muối kim loại lan
truyền vào không khí.
- Các quá trình thối rữa các xác động thực vật cũng phát thải ra nhiều khí độc
như NH
3
, H
2
S, CH
4
Ngoài ra cũng phải kể đến các phản ứng hóa học giữa những khí tự nhiên hình
thành các khí sunfua, các khí oxit nitơ, các loại muối
9
Tổng lượng tác nhân ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên rất lớn nhưng phân bổ
đồng đều trên toàn thế giới, nồng độ của chúng lại không tập trung ở một vùng, nên
con người và động thực vật cũng đã làm quen với tác nhân này.
• Nguồn gốc nhân tạo:
Nguồn ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, chủ yếu do hoạt động công nghiệp, giao
thông vận tải, đốt nhiên liệu hóa thạch, hoạt động nông nghiệp và các hoạt động khác
của con người gây nên. Đó là bụi và các khí như CO, CO
2
, SO
x
, NO
x
, hidrocacbon, các
bụi kim loại nặng. Bảng 1.3 cho biết tổng lượng chất thải có nguồn gốc nhân tạo của
tương tác hóa học giữa các chất gây ô nhiễm sơ cấp với các chất vốn có trong khí
quyển, rồi mới tác động đến bộ phận tiếp nhận. Ví dụ: mưa axit là tác nhân gây ô
nhiễm thứ cấp được tạo thành bởi khí SO2 và nước, gây ảnh hưởng tới mùa màng và
công trình xây dựng.
66 ABC%&?$$%&'(%()
!A<D!,E-=1
Các hợp chất có chứa lưu huỳnh chủ yếu có trong khí quyển là: SO2, SO3, H2S,
H2SO4 và các muối sunfat. Các nguồn tạo ra chúng chủ yếu là các quá trình đốt cháy
các nhiên liệu hóa thạch, sự phân hủy và đốt cháy chất hữu cơ chứa lưu huỳnh, các
hoạt động của núi lửa. Các hợp chất lưu huỳnh tồn tại trong không khí một thời gian
rồi sau đó lại sa lắng xuống đất hay các đại dương.
• Khí dioxyt lưu huỳnh SO
2
, trioxit lưu huỳnh SO
3
:
Trong khí quyển, khí sunfua dioxit ( dioxyt lưu huỳnh ) bị oxi hóa thành SO
3
theo quá trình hóa học hay quá trình quang hóa.
Trong điều kiện độ ẩm cao, SO
2
dễ bị các giọt nước có lẫn nhiều bụi hấp thụ thì
quá trình oxi hóa hóa học diễn ra rất thuận lợi với điều kiện có mặt các chất xúc tác
(thường là muối của Fe
3
+
, Mn
2
+
, chính chúng là thành phần của bụi ). NH
khí quyển có NH
3
hay các hạt NaCl thì các hợp chất Na
2
SO
4
.HCl hay (NH
4
)
2
SO
4
sẽ
hình thành. Như vậy, thời gian lưu của SO
3
trong khí quyển cũng chỉ được tính bằng
vài ngày.
11
SO
2
là khí tương đối nặng nên thường ở gần mặt đất, ngang tầm sinh hoạt của
con người, vì vậy là khí ô nhiễm điển hình và tác động trực tiếp đến cuộc sống. SO
2
dễ
tan trong nước nên dễ phản ứng với cơ quan hô hấp của người và động vật khi xâm
nhập vào cơ thể. Ở hàm lượng thấp, SO
2
làm sưng niêm mạc, ở hàm lượng cao ( >
0,5mg/m3 ) gây tức thở, ho, viêm loét đường hô hấp. Khi có mặt cả SO
2
2
S bị oxi hóa thành SO
2
do oxi hoặc ozon:
H
2
S + O
3
→ H
2
O + SO
2
Theo các nghiên cứu, với nồng độ của H
2
S trong môi trường không khí là một
phần tỉ, khi tiếp xúc với O
3
ở nồng độ khoảng 0,05ppm và trong không khí có khoảng
15.000 hạt bụi/cm3 thì phản ứng diễn ra vào khoảng 2 giờ. Vì H
2
S, O
2
, O
3
đều hòa tan
được trong nước nên tốc độ oxi hóa H
2
S trong sương mù, các giọt lỏng trong mây diễn
ra rất nhanh. Như vậy sự tồn tại của H
2
Sau đó, một chuỗi các phản ứng phức tạp khác diễn ra dẫn đến sự hình thành
CO, có thể là:
CH
3
+
+ O
2
→ HCH
2
O
2
HCH
2
O
2
+ NO → HCH
2
O + NO
2
HCH
2
O+ O2 → HCHO + HOO
-
( hình thành gốc tự do )
HCHO + HO
-
→ HCO + H2O ( hình thành gốc tự do )
HCHO + O2 → CO + HOO-
Theo các nghiên cứu, 50% lượng CO trong khí quyển sinh ra do chuỗi phản ứng
của meetan. Các phản ứng này cũng giải thích sự hình thành một số gốc tự do trong khí
ngất, lên cơn co giật, liệt tay chân và có thể dẫn đến tử vong trong vòng vài ba phút khi
nồng độ vượt quá 2%. Thực vật khi tiếp xúc với CO ở nồng độ cao sẽ bị rụng lá, xoắn
lá, cây non có thể chết yểu.
• Cacbon dioxit CO
2
:
CO2 vốn có trong thành phần của không khí sạch, và sinh ra trong quá trình hô
hấp của động thực vật; Xét về nguồn nhân tạo, CO2 được phát sinh từ sự đốt cháy hoàn
toàn nguyên nhiên liệu chứa cácbon, theo các số liệu thống kê, hàng năm, chỉ riêng
trong quá trình chế biến và sử dụng than đá, con người đã thải vào khí quyển 2.109 tấn
CO2. Trong tự nhiên, khoảng một nửa lượng CO2 được hơi nước và thực vật hấp thụ,
phần còn lại tồn lưu trong môi trường không khí.
Khí CO2 ở nồng độ thấp không gây nguy hiểm cho người và động vật, đối với
thực vật, khí CO2 có ảnh hưởng tốt, tăng cường khả năng quang hợp nhất là trong điều
kiện khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm. Tuy nhiên ở nồng độ cao sẽ gây nguy hại, hơn nữa khí
CO2 là một trong các khí nhà kính nên việc tăng hàm lượng CO2 trong khí quyển sẽ
gây nên sự gia tăng hiệu ứng nhà kính, gây ô nhiễm môi trường không khí.
A<D!&
Các hợp chất chứa nitơ quan trọng trong khí quyển là N
2
O, NO, NO
2
, NH
3
và
các muối nitrat, nitrit, và amoni.
• Các oxyt nitơ:
Các oxyt nitơ thường viết tắt là NO
x
phát sinh qua các đốt cháy các nhiên liệu ở
máu, dẫn đến bệnh thiếu máu.
NO
2
là khí có màu nâu nhạt, mùi hắc, có tính kích thích, dễ tan trong nước. Khi
xâm nhập vào cơ thể nó có thể tạo thành axit qua đường hô hấp hoặc tan vào nước bọt,
vào đường tiêu hóa sau đó vào máu, gây nguy hiểm cho cơ thể.
NO
x
tác dụng với hơi nước trong khí quyển, tạo thành axit HNO
3
, như vậy cùng
với axit H
2
SO
4
, là thành phần chính của mưa axit, làm thiệt hại mùa màng, nhiễm độc
cây trồng, giảm tuổi thọ của các sản phẩm vải, nilông, tơ nhân tạo, đồ dùng bằng da,
giấy, ảnh hưởng đến chất lượng của các công trình xây dựng…
NO và NO
2
có vai trò nhất định trong việc hình thành khói mù quang hóa và là
một trong bốn nguyên nhân chính phân hủy ozôn, gây nên nguy cơ suy giảm tầng ôzon
hiện nay.
NO + O
3
→ NO
2
+ O
2
NO
15
NH
3
có mùi khó chịu và gây viêm đường hô hấp cho người và động vật. Khi tan
vào nước, NH
3
gây nhiễm độc cá và hệ vi sinh vật nước. Thực vật bị nhiễm NH
3
ở
nồng độ cao sẽ bị bệnh đốm lá; giảm tỉ lệ nảy mầm ở hạt giống.
Các muối nitrat và amoni thường không thải lên khí quyển với bất kì lượng
đáng kể nào, mà chỉ sinh ra do sự chuyển hóa của NO, NO
2
và NH
3
trong khí quyển.
Như vậy các oxit nitơ cuối cùng được chuyển hóa thành nitrat và tiếp đó được loại khỏi
khí quyển do mưa hoặc được sa lắng khô.
H A<I
Các hợp chất hữu cơ nói chung chiếm tỉ lệ khá lớn trong các chất gây ô nhiễm
và lại gây nhiễm độc lâu dài, chúng đi vào khí quyển từ nhiều nguồn tự nhiên và nhân
tạo khác nhau, nên không thể tiến hành những đo đạc cho tất cả các loại riêng rẽ, hoặc
xác định tốc độ phát tán riêng rẽ của chúng được. Vì vậy khi xem xét các hợp chất hữu
cơ gây ô nhiễm không khí thường chỉ xét tới lượng của một số loại nhất định. Những
hidrocacbon có trong khí quyển ở dạng khí (có từ 1 đến 5 cacbon) được chú ý nhiều
hơn về mức độ ô nhiễm. Ngoài ra còn có các chất ở dạng hạt gồm các hidrocacbon
không bay hơi.
Các hợp chất hữu cơ phát sinh chủ yếu từ quá trình đốt cháy nhiên liệu như than
đá, dầu mỏ, gỗ; từ khí thải của các quá trình sản xuất của các nhà máy lọc dầu, khai
thác, chế biến và vận chuyển nhiên liệu hoặc từ nhiều ngành công nghiệp có sử dụng
- Bụi gây ung thư : Bụi quặng, bụi phóng xạ, hợp chất crôm
- Bụi gây nhiễm trùng : lông, tóc
- Bụi gây xơ phổi : bụi amiăng, bụi thạch anh.
Bụi và sol khí nói chung là chất gây ô nhiễm, ngoài ra tác hại của chúng chủ yếu
còn do khả năng hấp thụ hoặc tạo hợp chất với các oxyt kim loại hoặc hợp chất hữu cơ,
làm nồng độ của các chất này trong khí quyển tăng rất cao, gây nhiễm độc.
8 &K&&5;=F
6
AB)
1.3.1. Giới thiệu về SO
2
Lưu huỳnh điôxit là một khí vô cơ không màu, nặng hơn không khí, có công thức
hoá học là SO
2
. Chất khí này là sản phẩm chính của sự đốt cháy hợp chất lưu huỳnh và
nó là một mối lo ngại đáng kể đối với môi trường. SO
2
thường được mô tả là "mùi hôi
của lưu huỳnh bị đốt cháy". Nó có khả năng làm vẩn đục nước vôi trong, làm mất màu
dung dịch brôm và làm mất màu cánh hoa hồng.
SO
2
là khí tương đối nặng nên thường ở gần mặt đất, ngang tầm sinh hoạt của con
người, vì vậy là khí ô nhiễm điển hình và tác động trực tiếp đến cuộc sống. SO
2
dễ tan
trong nước nên dễ phản ứng với cơ quan hô hấp của người và động vật khi xâm nhập
17
vào cơ thể. Ở hàm lượng thấp, SO
2
trong không khí là 0,03 mg/m
3
(0,01 ppm) lượng mẫu khí phải lấy là 0,85 m
3
.
Yếu tố ảnh hưởng: các hơi axit và ammoniac ảnh hưởng đến kết quả phép đo.
Thu mẫu và phân tích: Mẫu khí được hút qua ống hấp thụ chứa dung dịch hấp thụ
(nước cất chứa 0,3% H
2
O
2
). Axit tạo ra được chuẩn độ bằng dung dịch kiềm chuẩn.
• Phương pháp 2
Nguyên tắc chung: SO
2
trong dung dịch hấp thụ NaOH dư, xảy ra phản ứng tạo ra
sản phẩm là Na
2
SO
3
và lượng dư NaOH. Độ bazơ được xác định bằng dung dịch axit
tiêu chuẩn.
Thu mẫu và phân tích: Mẫu khí được hút qua ống hấp thụ chứa dung dịch hấp thụ
(NaOH 0.1N). Lượng NaOH còn dư được chuẩn độ lại bằng dung dịch axit chuẩn [7].
L A3J
1.4.1. Hiện tượng hấp phụ
Hấp phụ là quá trình chứa vật chất ( các phân tử khí, hơi hoặc các phân tử, ion
chất tan) lên bề mặt phân cách pha. Bề mặt phân cách pha có thể là khí-rắn, lỏng-rắn,
khí-lỏng. Chất mà trên bề mặt của nó xảy ra quá trình hấp phụ gọi là chất hấp phụ, còn
chất được tụ tập trên bề mật phân cách pha được gọi là chất bị hấp phụ [3].
Đường đẳng nhiệt hấp phụ có thể được xây dựng trên cở sở lý thuyết, kinh
nghiệm hoặc bán kinh nghiệm tùy thuộc vào tiền đề, giả thiết, bản chất và kinh nghiệm
xử lí số liệu thực nghiệm.
19
Một số đường đẳng nhiệt hấp phụ thông dụng được nêu ở bảng 1.2.
Bảng 1.4. Một số đường đẳng nhiệt hấp phụ thông dụng
'*M&5J N3 OP/>J
Q!$& Vật lí và hóa học
R0C Vật lí và hóa học
S0H,& Vật lí và hóa học
=,C&TS$(&T0$(& Hóa học
O!0TU$$0T0,,0
-OU1
Vật lí, nhiều lớp
Trong các phương trình trên, v là thể tích chất bị hấp phụ, đặc trưng cho đại lượng hấp
phụ, v
m
là đại lượng hấp phụ cực đại ứng với sự hấp phụ một lớp đơn phân tử trên toàn
bộ bề mặt, p là áp suất chất bị hấp phụ ở pha khí, p
0
là áp suất hơi bão hòa của chất bị
hấp phụ ở trạng thái lỏng tinh khiết ở cùng nhiệt độ. Các kí hiệu khác là các hằng số
[3], [4].
20
RVW6RXRYZ
:2[C9,&5
Nguyên liệu chính: Lõi ngô
Xử lý nguyên liệu: Lõi ngô được phơi khô, xay và rây thành bột có kích thước 0.1 mm;
ngâm trong nước cất khoảng 10 giờ. Lọc, sấy khô lại ở 105
o
2
O
3
tinh khiết
- Dung dịch NaOH
- Dung dịch H
2
O
2
21
8 N!]HH[
- Dung dịch hấp thụ 1: Cân chính xác 20 gam NaOH tinh khiết. Hòa tan trong
một ít nước cất rồi định mức thành 1 lít. Chuẩn độ lại nồng độ NaOH bằng dung dịch
chuẩn gốc.
- Dung dịch hấp thụ 2: Lấy 10 ml dung dịch H
2
O
2
30% cho vào bình rồi định
mức với nước cất thành 1 lít.
- Dung dịch chuẩn độ 1: Lấy một ống Fixanal đựng HCl pha trong một ít nước
cất, sau đó định mức thành 1 lít.
- Dung dịch chuẩn độ 2: Cân chính xác 20 gam NaOH tinh khiết. Hòa tan trong
một ít nước cất rồi định mức thành 1 lít. Chuẩn độ lại nồng độ NaOH bằng dung dịch
chuẩn gốc trước khi dung.
-Dung dịch H
2
SO
4
0.1M
2
SO
4
+ SO
2
+ H
2
O
6` aA*[&5/J()=F
6
0.A:*b
Xác định hiệu suất hấp thụ của hai dung dịch Natri hidroxit và Hidro peoxit. Qua
đó đánh giá, so sánh khả năng hấp thụ của hai dung dịch hấp thụ trên.
Cách tiến hành: Với hàm lượng khí SO
2
ban đầu xác định, được cho qua dung
dịch hấp thụ. Tiến hành thí nghiệm trong thời gian 30 phút. Quá trình được tiến hành ở
nhiệt độ phòng.
Hàm lượng SO
2
trong dung dịch hấp thụ được xác định bằng phương pháp
chuẩn độ. Dùng pipet hút chính xác 5 ml dung dịch phân tích cho vào bình tam giác,
thêm vài giọt phenolphthalein rồi chuẩn độ bằng dung dịch chuẩn HCl cho đến khi
dung dịch vừa mất màu hồng. Ghi giá trị V
1
của dung dịch HCl. Sau đó thêm vài giọt
metyl da cam, dung dịch có màu vàng rồi tiếp tục chuẩn độ bằng dung dịch chuẩn HCl
22
cho đến khi dung dịch vừa chuyển sang màu đỏ cam. Ghi giá trị V
2
2
trong dung dịch hấp thụ được xác định bằng phương pháp
chuẩn độ. Dùng pipet hút chính xác 5 ml dung dịch phân tích cho vào bình tam giác,
thêm vài giọt phenolphthalein rồi chuẩn độ bằng dung dịch chuẩn HCl cho đến khi
dung dịch vừa mất màu hồng. Ghi giá trị V
1
của dung dịch HCl. Sau đó thêm vài giọt
metyl da cam, dung dịch có màu vàng rồi tiếp tục chuẩn độ bằng dung dịch chuẩn HCl
cho đến khi dung dịch vừa chuyển sang màu đỏ cam. Ghi giá trị V
2
của dung dịch HCl.
Lập lại thí nghiệm 2÷ 3 lần, ghi giá trị trung bình. Sau đó tính toán suy ra hiệu suất hấp
phụ.[3]
Hiệu suất hấp phụ (H%) được tính theo công thức:
Trong đó:
23
H: hiệu suất hấp phụ (%)
m
1
: hàm lượng khí SO
2
trước khi hấp phụ (g)
m
2
: hàm lượng khí SO
2
sau khi hấp phụ (g)
24
RVW8@efghRfFQi
8 C]$&5+$^()
(7), dùng bơm hút khí từ bình cầu đồng thời mở khóa k
a
(1) để quá trình
hấp phụ diễn ra với áp suất không thay đổi. Lượng khí sinh ra sẽ được tiếp xúc với
dung dịch hấp thụ NaOH. Đem mẫu dung dịch hấp thụ phân tích và xác định hiệu suất
hấp thụ.
86 R5+J$^()._)&5$
•Bộ phận:
Phễu chiết 125ml (chứa dung dịch H
2
SO
4
)
Bình cầu 250ml (chứa Na
2
SO
3
; nơi xảy ra phản ứng tạo khí)
Ống hấp phụ có kích thước 25ml x 1cm (chứa chất hấp phụ)
Ống hấp thụ
Bơm hút có lưu lượng 0,5 lít/phút
Ống dẫn đường kính 0.7 cm.
• Quy trình: Lắp đặt hệ thống như hình 3.2, hệ thống được đảm bảo hoàn toàn kín.
Mở khóa k
a
(1) thì lượng dư dung dịch H
2
SO
4
từ phễu chiết (2) sẽ từ từ chảy