BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
THUỐC SINH HỌC TẠI HUYỆN NGÃ NĂM,
SÓC TRĂNG
MAI HƯỞNG PHƯỚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2007
Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “NGHIÊN CỨU KHẢ
NĂNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG THUỐC SINH HỌC TẠI HUYỆN NGÃ
NĂM, SÓC TRĂNG” do Mai Hưởng Phước, sinh viên khóa 29, ngành Kinh Tế,
chuyên ngành Kinh Tế Nông Lâm, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào
ngày________________.
Đặng Minh Phương
Người hướng dẫn,
____________________________
Ngày
Minh đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu làm hành trang để em bước vào
đời.
Em xin trân trọng tỏ lòng biết ơn đến các Thầy, Cô trong khoa Kinh Tế. Đặc
biệt là Thầy Đặng Minh Phương, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong
suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
Xin cảm ơn cô chú, anh chị trong Trạm Khuyến Nông Huyện Ngã Năm, Công
ty Hợp Danh Sinh Học Nông Nghiệp Sinh Thành đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian thực tập.
Cuối cùng xin cảm ơn tất cả các bạn bè đã động viên và giúp đỡ trong suốt thời
gian học tập.
Xin trân trọng cảm ơn,
Sinh viên
MAI HƯỞNG PHƯỚC
NỘI DUNG TÓM TẮT
MAI HƯỞNG PHƯỚC. Tháng 07 năm 2007. “Nghiên Cứu Khả Năng Phát
Triển Thị Trường Thuốc Sinh Học Tại Huyện Ngã Năm, Sóc Trăng”.
MAI HUONG PHUOC. July 2007. “Possibility of Development in Biology
Pesticide Market at Nga Nam District, Soc Trang Province”.
Việt Nam đã và đang hướng đến nền nông nghiệp bền vững và thân thiện với
môi trường, vì thế việc Nhà nước quản lý, hạn chế sử dụng, sản xuất và cấm nhập
khẩu các loại thuốc trừ sâu có độc tính cao là việc làm cần thiết để có thể làm giảm
nhu cầu sử dụng thuốc hóa học độc hại, đồng thời thay thế bằng những sản phẩm khác
hiệu quả trong sản xuất và môi trường hơn. Từ đó sẽ đáp ứng được nhu cầu nông sản
sạch trong nước và nâng cao khả năng cạnh tranh đối với những mặt hàng xuất khẩu,
nhất là khi Việt Nam đã gia nhập WTO. Đó sẽ là những tiền đề để sản phẩm thuốc
sinh học phát triển khi thuốc sinh học có hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp, ít
1
1.1. Đặt vấn đề
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
3
1.3. Phạm vi nghiên cứu của khóa luận
3
1.4. Cấu trúc của khóa luận
3
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN
2.1. Điều kiện tự nhiên
4
4
2.1.1. Vị trí địa lý
4
2.1.2. Đất đai
9
3.1.1. Thuốc hóa học
9
3.1.2. Thuốc sinh học
9
3.1.3. Nghiên cứu thị trường
10
3.1.4. Ý nghĩa và mục đích của nghiên cứu thị trường
11
3.1.5. Nội dung của nghiên cứu thị trường
11
3.2. Phương pháp nghiên cứu
12
3.2.1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
12
19
4.3. Nhu cầu thị trường về thuốc sinh học
23
4.3.1. Trong nước
23
4.3.2. Tỉnh Sóc Trăng
23
4.3.3. Huyện Ngã Năm
25
4.4. Đặc điểm của các hộ điều tra
4.4.1. Dân cư và trình độ văn hóa
27
27
4.4.2. Chi phí, kết quả - Hiệu quả sản xuất lúa năm 2007 của các
hộ điều tra ở xã Vĩnh Biên tính trên 1 ha
28
47
4.8. Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua thuốc của nông hộ
56
4.9. Mối quan hệ giữa đại lý và khuyến nông trong kinh doanh
57
4.10. Phương hướng tăng cường áp dụng thuốc sinh học
59
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
67
5.1. Kết luận
67
5.2. Đề nghị
68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
69
FAO
Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (Food and Agricultural
Organization).
GTGT
Giá trị gia tăng.
LN
Lợi nhuận.
TDBB
Trung du Bắc Bộ.
TN
Tây Nguyên.
WTO
Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (World Trade Organization).
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Thu Nhập Bình Quân Đầu Người Huyện Ngã Năm 2001 – 2005
25
Bảng 4.7. Các Loại Dịch Hại Trên Ruộng Lúa của Các Hộ Điều Tra
26
Bảng 4.8. Dân Cư và Trình Độ Văn Hóa của Các Hộ Điều Tra
27
Bảng 4.9. Chi Phí Sản Xuất Lúa Tính Trên 1ha của Các Hộ Điều Tra Xã Vĩnh Biên 29
Bảng 4.10. Kết Quả - Hiệu Quả Sản Xuất Lúa Tính Trên 1ha của
Các Hộ Điều Tra ở Xã Vĩnh Biên
30
Bảng 4.11. Hiệu Quả Đầu Tư Thuốc Hóa Học Vụ Hè Thu ở Xã Vĩnh Biên
32
Bảng 4.12. Chi Phí Sản Xuất Lúa Tính Trên 1ha Các Hộ Điều Tra Xã Vĩnh Quới
33
Bảng 4.13. Kết Quả - Hiệu Quả Sản Xuất Lúa Tính Trên 1ha của
Các Hộ Điều Tra ở Xã Vĩnh Quới
34
41
Bảng 4.21. Nhận Định về Thuốc Sinh Học của Các Hộ Điều Tra Xã Vĩnh Biên
42
Bảng 4.22. Các Chỉ Tiêu So Sánh giữa Thuốc Sinh Học và Thuốc Hóa Học
43
Bảng 4.23. Nguyên Nhân Không Chọn Bán Sản Phẩm Thuốc Sinh Học
của Đại Lý
45
Bảng 4.24. Thị Phần Các Công Ty Thuốc Hóa Học ở Việt Nam
46
Bảng 4.25. Thuế Giá Trị Gia Tăng Đến Một Số Sản Phẩm Thuốc Hóa Học
48
Bảng 4.26. Nhận Định Nguyên Nhân Thuốc Hóa Học Không Được Sử Dụng
Tiếp Tục tại Xã Vĩnh Quới
48
Bảng 4.27. Mức Độ Hiệu Quả của Thuốc Hóa Học và Thuốc Sinh Học
54
Bảng 4.34. Mức Độ Ảnh Hưởng của Thuốc Hóa Học Đến Sức Khỏe
của Các Hộ Điều Tra
55
Bảng 4.35. Mức Độ Ảnh Hưởng của Thuốc Sinh Học Đến Sức Khỏe
của Các Hộ Điều Tra
55
Bảng 4.36. Các Yếu Tố Tác Động Quyết Định Mua Thuốc của Nông Hộ
56
Bảng 4.37. Đại Lý Bán Các Loại Thuốc Mà Khuyến Nông Giới Thiệu
57
Bảng 4.38. Hình Thức Phối Hợp Bán Hàng của Đại Lý
58
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Danh Sách Các Hộ Điều Tra
Phụ lục 2. Danh Sách Các Đại Lý Điều Tra
Phụ lục 3. Bản Câu Hỏi Điều Tra Nông Hộ
Phụ lục 4. Bản Câu Hỏi Điều Tra Đại Lý
đủ thức ăn sẽ bộc phát nhanh chóng. Hậu quả tất yếu: dịch rầy nâu xảy ra liên tiếp ở
đồng bằng sông Cửu Long, chỉ riêng đợt dịch xảy ra vụ Đông Xuân 91 – 92, đồng
bằng sông Cửu Long đã sử dụng 504 tấn thuốc diệt rầy trị giá 14 tỷ đồng, chưa kể
công phun thuốc và hàng triệu tấn lúa bị tổn thất (Báo cáo Bộ Nông nghiệp và Công
nghiệp thực phẩm, 1992). Và gần đây, theo thống kê của Tổng cục thống kê (2007),
sản lượng lúa đồng bằng sông Cửu Long giảm gần 1 triệu tấn do rầy nâu, vàng lùn, lùn
xoắn lá phá hoại trên diện rộng, từ đó đã làm cho vựa lúa lớn nhất nước này phải nhập
gạo từ miền Bắc, miền Trung và từ Campuchia là điều chưa từng có trong 20 năm đổi
mới, dẫn đến thiệt hại về kinh tế do một số hợp đồng xuất khẩu gạo phải ngưng lại do
nguồn thiếu và để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Mặt khác, các sản phẩm xuất
khẩu của nước ta, đặc biệt là lúa gạo khi xuất ra thị trường thế giới thì chịu rất nhiều
sự cạnh tranh và các quy định khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng như hàm lượng thuốc
trừ sâu, các chất gây ô nhiễm. Vì vậy, trong quá trình sản xuất lúa đòi hỏi phải sử dụng
loại thuốc trừ sâu vừa hiệu quả, lại vừa thân thiện với môi trường, có như thế mới đảm
bảo được vấn đề về xuất khẩu gạo và an ninh lương thực cả nước.
Trước thực tế đó, nhu cầu cấp bách là phải sử dụng các chế phẩm sinh học có
khả năng giảm thiểu hoặc thay thế cho thuốc hóa học, tiến tới xây dựng nền nông
nghiệp sinh thái không sử dụng hóa chất, duy trì sự cân bằng tự nhiên, vì các chế phẩm
sinh học, thuốc sinh học không những đảm bảo hiệu quả trong phòng trừ dịch hại sâu
bệnh như rầy nâu, …, hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường mà còn góp phần làm
giảm đáng kể chi phí trong sản xuất nông nghiệp như: chi phí phun thuốc, đặc biệt là
chi phí phân bón, thuốc trừ sâu khi theo thống kê năm 2007: giá phân bón, thuốc trừ
sâu đang có xu hướng tăng so với cùng kỳ các năm trước, nhưng quan trọng hơn là tác
động thân thiện của thuốc sinh học đối với môi trường, từ đó làm giảm chi phí xã hội
trong việc khám chữa bệnh do các nguyên nhân như: say thuốc, độc tính của thuốc, ô
nhiễm môi trường đất, nước và sử dụng thuốc sinh học còn có thể giúp người nông dân
nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống khi nó đã giữ vững được môi trường nước, tạo
thuận lợi cho người nông dân trong việc trồng lúa kết hợp với nuôi cá, tôm ngay chính
trên đồng ruộng của mình – đây cũng chính là hạn chế lớn nhất của thuốc hóa học. Với
những đặc tính hiệu quả trong sản xuất và môi trường như vậy, thiết nghĩ thuốc sinh
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Ngã Năm được thành lập vào năm 2004, tách ra từ phần đất phía Bắc
của huyện Thạnh Trị cũ, với vị trí địa lý như sau:
- Phía Tây giáp huyện Hồng Dân (tỉnh Bạc Liêu).
- Phía đông giáp huyện Mỹ Tú (Sóc Trăng).
- Phía Nam giáp huyện Thạnh Trị (Sóc Trăng).
- Phía Bắc giáp huyện Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang).
Huyện Ngã Năm có 07 xã, 01 thị trấn với tổng số dân là 78.146 người, trong đó
dân tộc kinh chiếm khoảng 93%, các dân tộc khác chiếm 7%.
Diện tích tự nhiên là 23.564,74 ha. Trong đó có 17.444 ha đất trồng cây hàng
năm, riêng đất canh tác lúa là 16.841 ha sản xuất hai vụ lúa chính là Hè Thu sớm và
Đông Xuân chính vụ.
Trung tâm huyện Ngã Năm tại thị trấn Ngã Năm, nằm trên tuyến giao thông
đường thủy là Kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp, cách trung tâm tỉnh Sóc Trăng 55 km theo
hướng tỉnh lộ 42 đến quốc lộ 1A.
Khu vực hành chính của huyện là thị trấn Ngã Năm nằm tại trung trung tâm của
huyện, nơi tiếp giáp của 5 tuyến giao thông thủy bộ chính kết nối với 4 địa phương lân
cận: Bạc Liêu, Cà Mau, Thạnh Trị (Sóc Trăng), Long Mỹ (Hậu Giang), Mỹ Tú, Kế
Sách (Sóc Trăng) đã tạo nên một địa thế mang tầm chiến lược về kinh tế, văn hóa, xã
hội của vùng.
2.1.2. Đất đai
Đất đai của huyện có nguồn gốc từ trầm tích biển và thuộc nhóm đất phèn nhẹ
độ ngập trung bình từ 0,3 – 0,8 m.
Chất lượng nước: Từ tháng 5 đến tháng 8 dương lịch nguồn nước thường bị
nhiễm phèn ở mức độ nhẹ đến trung bình, do vào đầu mùa mưa lượng phèn trên đồng
ruộng và các mương vườn đổ xuống hệ thống kênh rạch gây ảnh hưởng đến nguồn
nước. Riêng các xã Tân Long, Long Bình, Mỹ Bình và Mỹ Qưới nguồn nước bị nhiễm
phèn rất nặng là do bị ảnh hưởng lượng nước đổ ra từ các lâm trường tràm; Từ tháng 9
đến tháng 4 dương lịch nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là nước mưa và
chủ yếu từ thượng nguồn đổ về thông qua hệ thống kênh rạch: Kênh Quản Lộ - Phụng
Hiệp và các sông lớn nối liền với Huyện Long Mỹ. Nguồn nước tương đối tốt, ít bị
nhiễm phèn. Tuy nhiên, có một phần ở các xã Vĩnh Biên, Vĩnh Qưới, Mỹ Qưới và Mỹ
Bình bị ảnh hưởng mặn ở cuối vụ Đông Xuân và đầu vụ Hè Thu sớm (khoảng tháng 3
– 5 dương lịch).
2.2. Kinh tế - xã hội
2.2.1. Thu nhập bình quân đầu người
Bảng 2.1. Thu Nhập Bình Quân Đầu Người Huyện Ngã Năm 2001 – 2005
Năm
Tiền VN (1.000đ)
Quy USD (USD)
Tăng so với năm
2001
4.870
309
trước (Lần)
351
1,13
Nguồn tin: Phòng Thống kê huyện Ngã Năm
Ghi chú: Bảng trên dùng giá so sánh năm 1994
Theo giá cố định, thu nhập bình quân đầu người năm 2005 của huyện đạt 5,53
triệu đồng (khoảng 351 USD), tốc độ tăng trung bình qua 5 năm là 7,78%.
Thu nhập bình quân đầu người có xu hướng tăng mạnh vào những năm cuối
giai đoạn 2001 – 2005 và đạt 351 USD vào năm 2005. Tuy nhiên, mức này vẫn còn
thấp so với mức bình quân của cả nước nên khả năng tích lũy của người dân chưa
được cao. Chính vì vậy, mọi sự đột phá về phát triển kinh tế đòi hỏi phải có sự hỗ trợ
đầu tư từ các nguồn bên ngoài. Đây là yếu tố rất quan trọng mà huyện cần phải chú ý
khi xây dựng chính sách phát triển kinh tế.
2.2.2. Dân số và lao động
a) Dân số
Năm 2005, toàn huyện có 78.146 người, chiếm 9% dân số toàn tỉnh. Mật độ dân
số trung bình là 332 người/km2, thấp hơn mật độ bình quân của tỉnh (370 người/km 2).
Tốc độ tăng dân số tự nhiên của huyện giảm qua các năm, cụ thể là năm 2001 có tốc
độ tăng là 1,58%, đến năm 2005 giảm xuống còn 1,41%, điều này cho thấy công tác kế
hoạch hóa gia đình của huyện khá tốt.
Đặc điểm dân số của huyện Ngã Năm là có tỷ lệ cộng đồng dân tộc Kinh chiếm
hơn 92% dân số toàn huyện, phần lớn người Kinh có mặt bằng dân trí tương đối cao,
trình độ thâm canh tăng vụ, khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và ý thức
phát triển kinh tế, đây là một lợi thế lớn so với các huyện khác trong việc vận dụng
nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi
theo định hướng phát triển nông nghiệp – nông thôn chung của huyện.
b) Lao động
26
389
619
Nguồn tin: Niên giám Thống kê huyện Ngã Năm năm 2005
Trong năm học 2004 – 2005 toàn huyện có tất cả 26 trường học các loại, trong
đó chủ yếu là trường tiểu học chiếm nhiều nhất với số lượng là 13 trường, trường
THPT và mẫu giáo thì còn rất ít. Với 425 phòng học, 619 lớp học, 783 giáo viên, và
20.109 học sinh, bình quân mỗi lớp học có 32 học sinh.
Nhìn chung, huyện không có lớp học ca 3, mỗi xã đều có trường THCS, và có 2
trường THPT tại Thị trấn Ngã Năm và xã Mỹ Qưới. So với yêu cầu phát triển giáo dục
như hiện nay thì số trường mẫu giáo và trường cấp III chưa đáp ứng, các trường mẫu
giáo thì lồng ghép trong các trường tiểu học. Như vậy, để nâng cao trình độ dân trí cho
toàn huyện đòi hỏi phải có sự đầu tư và mở rộng trường điểm mẫu giáo và trường cấp
III.
2.2.4. Hệ thống y tế
Bảng 2.3. Tình Hình Y Tế Huyện Ngã Năm năm 2005
Khoản mục
Bệnh viện
Phòng khám đa khoa khu vực
Trạm y tế xã, phường
Tổng
Số cơ sở y tế
Số giường bệnh
1
30
1
nhiễm môi trường sống; Lưu tồn lâu trong đất, nước và cơ thể sinh vật; Gây nên hiện
tượng kháng thuốc.
3.1.2. Thuốc sinh học
a) Khái niệm thuốc sinh học
Thuốc trừ sâu sinh học là những hợp chất được chiết xuất từ cơ thể sâu hại hoặc
là những chất được chế từ những vi sinh vật gây hại cho chúng.
b) Lợi ích
Hiệu quả diệt sâu cao do thuốc sinh học có khả năng làm thay đổi quá trình phát
triển sinh học bình thường của sâu hại theo chiều hướng bất lợi đối với quần thể của
chúng; Không gây độc đối với người, động vật và côn trùng có ích; Phát huy hiệu quả
lâu dài trong phòng trừ; Tác dụng đề kháng của sâu chậm đối với thuốc sinh học.
c) Hạn chế
Khó khăn trong việc bảo quản; Thời gian tác dụng lâu; Không sử dụng kết hợp
với thuốc trừ sâu khác được, nhất là thuốc trừ sâu hóa học; Lượng cung cấp các chế
phẩm thuốc sinh học trên thị trường là chưa nhiều.
d) Các loại thuốc sinh học trên thị trường
Các hợp chất sinh học đã được nghiên cứu thành công và được bày bán trên thị
trường là: các hóc môn gây cản trở quá trình phát triển biến thái ở côn trùng, chất dẫn
dụ sinh học. Hiện nay có các loại thuốc trừ sâu sinh học sau:
- Hóc môn chống lột xác: Các chất này tác động lên côn trùng ở một thời điểm
nhất định trong vòng đời của chúng, ngăn cản sự tổng hợp chất tạo vỏ bọc của sâu
non. Thuốc Trebon 10EC, Appland 40SC, Butyl 10WPL dùng để trừ các loại rầy nâu,
rầy xanh, rầy lưng trắng, Nomol 5SC, Atabron 5EC dùng trừ sâu tơ, sâu xanh ăn lá,
sâu xanh da láng, sâu hồng, sâu ăn tạp trên rau, cây màu và các loại cây trồng cạn
khác. Match 50ND trị sâu tơ, sâu xanh, nhện trên rau, màu, cây công nghiệp, cây ăn
trái.
- Chất dẫn dụ sinh dục: các chất này rất chuyên biệt, có tác dụng hấp dẫn các
cá thể khác giới trong cùng loài. Hợp chất Toba, Ruvacon, Vizubon D là những chất
đối với sản phẩm của công ty, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường và từ đó có
những chiến lược kinh doanh hợp lý để làm tăng khả năng cạnh tranh của công ty.
Mục đích chủ yếu của nghiên cứu thị trường là dự báo khả năng tiêu thụ, khả
năng bán một sản phẩm hay một nhóm sản phẩm nào đó của công ty. Trên cơ sở
nghiên cứu thị trường, công ty nâng cao khả năng thích ứng và tiến hành sản xuất, tiêu
thụ những sản phẩm mà thị trường đòi hỏi.
3.1.5. Nội dung của nghiên cứu thị trường
Nội dung chủ yếu của nghiên cứu thị trường là khả năng xâm nhập thị trường
và mở rộng thị trường của công ty. Nghiên cứu thị trường là tầm quan trọng trong việc
lập dự án đầu tư, là cơ sở để xem xét có nên tham gia vào lĩnh vực này hay không. Tuy
nhiên, không chỉ dừng lại ở đó, việc nghiên cứu đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên
và lâu dài. Kết quả của nó là cơ sở để điều chỉnh kế hoạch kinh doanh và tìm hiểu
những cơ may thị trường liên quan rất nhiều đến việc tìm hiểu môi trường tiếp thị. Tất
cả các yếu tố trên đều phải kết hợp chặt chẽ. Tuy nhiên, việc tìm hiểu kĩ khách hàng,
những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi cũng như tiến trình ra quyết định mua của họ
như thế nào là điều hết sức quan trọng. Công ty nào hiểu được người tiêu dùng sẽ phản
ứng ra sao trước các đặc trưng sản phẩm, giá cả, quảng cáo, ... sẽ có lợi thế rất lớn so
với các đối thủ của mình.
Như vậy, nghiên cứu thị trường là một công việc phức tạp, nhưng xét cho cùng,
nội dung của nó sẽ tập trung vào vấn đề chính là tìm hiểu và xác định khả năng tăng
trưởng và khả năng xâm nhập thị trường của công ty trong tương lai.
Tóm lại, nghiên cứu thị trường phải trả lời một số câu hỏi sau: Khả năng bán
sản phẩm trên thị trường đó của công ty là bao nhiêu; Công ty cần có những chiến
lược, chính sách như thế nào để tăng cường khả năng bán hàng.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
- Lập phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp những hộ nông dân để nhận xét về tình
hình sản xuất lúa, tình hình áp dụng thuốc sinh học tại địa phương.
ra đời của thuốc hóa học thời kỳ đó là một giải pháp hiệu quả cho sản xuất nông
nghiệp. Nhưng sản xuất nông nghiệp ngày càng lạm dụng thuốc hóa học nhiều hơn với
khối lượng sử dụng, liều lượng phun xịt ngày càng tăng: theo thống kê của tổ chức Y
tế thế giới WHO năm 1990 thì lượng thuốc hóa học sử dụng trên toàn cầu vào khoảng
3 triệu tấn/năm. Vì thế, ngày càng thấy rõ hơn tác động của thuốc hóa học: làm ô
nhiễm đất, nguồn nước, độc tính đối với con người – số người bị nhiễm độc cấp tính
do thuốc hóa học là 3 triệu người/năm, trong đó có 200.000 người chết do nhiễm độc.
a) Một số nghiên cứu về tác động ô nhiễm môi trường của thuốc hóa học
Brasil: Các loại nhuyễn thể ở biển có từ 0,24 – 44 nanogam DDT/gam, điều đó
chứng tỏ rằng ngay cả trong môi trường biển cũng đã bị ô nhiễm bởi thuốc hóa học. So
sánh với số liệu thu thập được cách đây 10 năm ở cùng địa điểm thấy nồng độ thuốc
hóa học DDT đã tăng lên mặc dù chất này đã bị cấm dùng ở Brasil từ năm 1976.
Trung Quốc: Năm 1990, Trung Quốc sử dụng 2 triệu tấn thuốc hóa học trừ sâu,
chiếm khoảng 1/3 lượng sử dụng toàn cầu và DDT, Benzen Hexaclor (BHC) đã không
được dùng một cách chính thức. Dòng Châu Giang tưới một vùng đất canh tác màu
mỡ và đổ cả một lượng thuốc hóa học vào biển Nam Trung Hoa. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, nồng độ các chất đã giảm trong nước sông Châu Giang, tuy nhiên, đã tìm
thấy trong đáy trầm tích và chuỗi thức ăn biển có nồng độ DDT rất cao, đạt tới 1,3 và
2,1 nanogam/gam. Điều đó chứng tỏ sự bền vững lâu dài của thuốc hóa học trong các
điều kiện của môi trường sống.
Nicaragua: Việc dùng thuốc hóa học trừ sâu trong nông nghiệp đã có từ mấy
chục năm nay. Nghiên cứu của các nhà khoa học đã tìm thấy ô nhiễm thuốc hóa học ở
các đầm phá ven bờ Thái Bình Dương. Nồng độ một số chất hết sức cao, đặc biệt là
DDT và Toxaphen lên đến 6,9 micrôgam/gam trầm tích (trọng lượng khô) và trong các
tổ chức mềm của trai sò. Mặc dù các chất này đã ngưng sử dụng từ đầu thập niên 90
nhưng nồng độ tích lũy của các chất này trong đất và trong trầm tích các đầm phá là
rất cao và chúng cũng tồn tại rất lâu trong môi trường (Phan Văn Duyệt, 2000).
Trên đây là những mức độ tác động ô nhiễm môi trường của thuốc hóa học. Và
Mức thuốc hóa học
Chi phí y tế
34
sử dụng
6 kg
(nhân dân tệ)
9
Từ 9 – 15kg
33
12 kg
24
Trên 15kg
33
25 kg
33
Ít hơn 100 tệ
cao với 33/100 hộ với lượng thuốc trung bình là 25 kg/ha/vụ; mức độ sử dụng thuốc
trừ sâu hóa học và chi phí y tế có một mối quan hệ tỉ lệ thuận với nhau, khi mức thuốc
trừ sâu hóa học sử dụng tăng thì chi phí về y tế cũng tăng theo, từ mức thuốc trừ sâu
hóa học sử dụng 6 kg tăng lên đến 12 kg thì chi phí về y tế tăng từ 9 nhân dân tệ lên 24
nhân dân tệ, và mức thuốc trừ sâu hóa học sử dụng tăng từ 12 kg đến 25 kg thì chi phí
y tế là 33 nhân dân tệ. Giữa mức độ đầu tư thuốc hóa học sử dụng và chi phí y tế cũng
có mối quan hệ tỉ lệ thuận, càng tăng mức đầu tư cho thuốc trừ sâu hóa học thì chi phí
y tế càng tăng, và chi phí sản xuất cũng tăng, từ đó sẽ làm giảm lợi nhuận, mức đầu tư
này đã không còn hiệu quả.
Thuốc hóa học là con dao hai lưỡi trong cuộc chiến chống sâu bọ, khi sử dụng
không đúng, các hậu quả tiêu cực của chúng có thể nặng nề hơn lợi ích mà chúng
mang lại, người nông dân thường không nhận thức điều này. Tuy nhiên, các giải pháp
để giải quyết không phải chỉ nên giới hạn ở các quy định mà còn phải gắn với các biện