PHẦN MỞ ĐẦU
I- Lý do chọn đề tài:
Mục tiêu đổi mới của giáo dục tiểu học là phải góp phần đào tạo những người lao
động linh hoạt, năng động, sáng tạo. Thích ứng với yêu cầu này đòi hỏi phải đổi mới
toàn diện và đồng bộ giáo dục tiểu học, trong đó cần ưu tiên đổi mới phương pháp dạy
học nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tự giác, tích cực độc lập của học sinh với
vai trò tổ chức, hướng dẫn và tính chủ động của giáo viên.
Như ta đã biết, bậc tiểu học là bậc học khó nhất về mặt khoa học giáo dục trong
tất cả các bậc học, đồng thời vai trò của nó rất to lớn. Đây là bậc học góp phần nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ người lao động, đem lại hạnh phúc cho mọi gia đình. Bậc
tiểu học là một bậc học rất quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành
nhân cách ở học sinh trên cơ sở được cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về xã
hội, tự nhiên, các năng lực nhận thức, trang bị các kỹ năng ban đầu về hoạt động nhân
thức và thực tiễn, phát huy tình cảm thói quen và đức tính tốt đẹp của con người Việt
Nam. Trong các môn học ở tiểu học thì môn toán có vị trí rất quan trọng vì Toán với
tư cách là một khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới thực, một hệ thống kiến
thức và phương pháp nhận thức cơ bản. Môn toán có khả năng phát triển tư duy lôgíc,
bồi dưỡng và phát triển những thao tác trí tuệ cần thiết để nhận thức thế giới hiện thực
như: Trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân tích và tổng hợp, so sánh, dự đoán, chứng
minh và phản biện,…
Xuất phát từ những vấn đề trên và trên cơ sở thực tiễn học sinh tiểu học, việc giải
Toán của các em gặp nhiều khó khăn, nhiều em đọc bài toán không hiểu ý của bài toán
yêu cầu gì, do đó các em hay giải sai.
Là một giáo viên, tôi luôn luôn suy nghĩ mình phải làm gì để giúp học sinh giải
toán có lời văn tốt đặc biệt là bài toán hợp, vậy để giúp học sinh làm tốt thao tác phân
tích, tổng hợp bài toán, từ đó các em giải được bài toán đơn. Trên cơ sở giải được toán
đơn các em sẽ giải được bài toán hợp bằng nhiều cách phân tích bài toán hợp thành bài
toán đơn dễ giải, trong việc tìm kế hoạch giải toán có nhiều phương pháp nhưng quan
trọng nhất, hay vận dụng nhất là phương pháp tổng hợp do vậy tôi quyết định chọn và
nghiên cứu “Biện pháp giúp học sinh lớp một học tốt môn toán”
trang1
trang2
Tháng 9 / 2014 - Nghiên cứu tài liệu
- Tìm hiểu thực trạng
- Đọc các tài liệu tham khảo phần phụ
lục, chọn các biện pháp thích hợp.
- Khảo sát chất lượng giải toán có lời
văn.
Tháng 10 đến
tháng 11 / 2014
Thực nghiệm theo các
biện pháp đề ra
Dạy thử nghiệm 1 số tiết dạy theo các
biện pháp đề ra.
Tháng12 / 2014 Hoàn thành sáng kiến Đánh vi tính, trang trí
PHẦN NỘI DUNG
I- Cơ sở lý luận của đề tài :
Lớp Một là lớp đầu cấp học sinh mới bước vào môi trường mới các em phải
làm quen với nhiều kiến thức hơn, mức độ khó hơn, các em còn phải làm quen với
phương pháp học mới . Để giáo dục học sinh phát triển một cách toàn diện thì ngay từ
lớp Một các em đã được làm quen với tất cả các môn học .Trong đó môn toán là Một
môn học khó. Môn toán đi vào thế giới tri thức. Ngay từ buổi đầu tiên học phép cộng
phép trừ, học đếm, …Tất cả điều giúp cho các em học tốt các môn học khác và nó còn
là hành trang để các em bước đỉ trên đường đời thêm vững bước . Chính vì vậy giúp
các em học sinh lớp Một học tốt môn Toán nói chung và học tốt toán có lời văn là
vinh dự và trách nhiệm của người giáo viên nói chung và giáo viên lớp Một nói riêng.
Người giáo viên không lúc nào dứt nổi trăn trở về những điều mình dạy và nhất là giải
toán có lời văn lớp Một là một bộ phận của chương trình môn Toán ở tiểu học.
Chương trình Toán lớp Một là nền tảng, có vai trò vô cùng quan trọng.
Khả năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụng kiến thức của
học sinh. Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học vận dụng vào giải toán
toán, cách đặt lời giải và trình bày bài giải,…
b) Khích lệ học sinh, tạo hứng thú trong học tập
Đặc điểm chung của học sinh tiểu học là thích được khen hơn chê, hạn chế chê
các em trong học tập, rèn luyện . Tuy nhiên, nếu ta không biết kết hợp tâm lý từng học
sinh mà cứ quá khen sẽ không có tác dụng kích thích. Đối với những em chậm tiến bộ,
thường rụt rè, tự ti, vì vậy tôi luôn luôn chú ý nh`c nhở, gọi các em trả lời hoặc lên
bảng làm bài. Chỉ cần các em có một “tiến bộ nhỏ” là tôi tuyên dương ngay, để từ đó
trang4
các em sẽ cố g`ng tiến bộ và mạnh dạn, tự tin hơn. Đối với những em học khá, giỏi
phải có những biểu hiện vượt bậc, có tiến bộ rõ rệt tôi mới khen. Chính sự khen, chê
đúng lúc, kịp thời và đúng đối tượng học sinh trong lớp đã có tác dụng khích lệ học
sinh trong học tâp.
Ngoài ra, việc áp dụng các trò chơi học tập trong các tiết học cũng là một yếu tố
không kém phần quan trọng giúp học sinh có niềm hăng say trong học tập, mong
muốn nhanh đến giờ học và tiếp thu kiến thức nhanh hơn, ch`c hơn. Vì chúng ta đều
biết học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp một nói riêng có trí thông minh khá
nhạy bén, s`c sảo, có óc tưởng tượng phong phú. Đó là tiền đề tốt cho việc phát triển
tư duy toán học. Nhưng các em cũng rất dễ bị phân tán, rối trí nếu bị áp đặt, căng
thẳng hay quá tải. Hơn nữa cơ thể của các em còn đang trong thời kì phát triển vì thế
sức dẻo dai của cơ thể còn thấp nên trẻ không thể ngồi lâu trong giờ học cũng như làm
một việc gì đó trong một thời gian dài. Vì vậy, muốn giờ học có hiệu quả thì đòi hỏi
người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học “ Lấy học sinh làm trung tâm.”.
Trong mỗi tiết học, tôi thường dành khoảng 2-3 phút để cho các em nghỉ giải lao tại
chỗ bằng cách chơi các trò chơi học tập vừa giúp các em thoải mái sau giờ học căng
thẳng, vừa giúp các em có phản ứng nhanh nhẹn, ghi nhớ một số nội dung bài đã học.
c) Rèn kĩ năng đọc hiểu yêu cầu bài toán cho học sinh thông qua môn Tiếng
Việt
Chúng ta đã biết, học sinh lớp một còn thụ động, rụt rè trong giao tiếp. Chính vì
vậy, để các em mạnh dạn tự tin khi phát biểu, trả lời người giáo viên cần phải: luôn
luôn gần gũi, khuyến khích các em giao tiếp, tổ chức các trò chơi học tập, được trao
(không chỉ môn toán) tôi luôn chú ý động viên khích lệ là chính, nhất là những đối
tượng học trung bình, yếu và hạn chế tối đa lời phê bình và khi phê bình dùng những
từ ngữ nhẹ nhàng khuyên răng hơn là những lời quở trách nặng nề nhằm tạo mối
quan hệ gần gũi giữa giáo viên và học sinh (những khi học sinh lo ra). Chính những
lời động viên khuyến khích kịp thời sẽ giúp các em phấn chấn, tâm trạng thoải mái
hơn, có như thế thì hiệu quả tiếp thu bài của các em tốt hơn và bầu không khí lớp học
sinh động hơn, tiết học thành công hơn.
trang6
Trong suốt quá trình tiết học, nét mặt cử chỉ của tôi luôn tươi vui, biểu hiện sự
quan tâm đến tất cả các em trong lớp. Lời giảng giải không những rõ ràng dễ hiểu
chính xác mà đôi lúc còn cần phải xen những lời so sánh, ví von; thậm chí lúc học
sinh căng thẳng, mệt mỏi tôi cũng xen lời pha trò nhẹ nhàng thích hợp làm cho các
em bật cười, lúc đó không khí lớp học giãn ra, các em cảm thấy thoải mái, gần gũi
với tôi hơn; các em tỏ ra mạnh dạn, tự tin hơn trong phát biểu xây dựng bài cũng như
làm bài; cả lớp tập trung vào bài học tích cực hợp tác với tôi làm cho tiết học đạt hiệu
quả ngoài mong đợi.
2. Biện pháp “Cách dạy học sao cho tất cả các học sinh đều làm việc”
Tôi nghĩ rằng dạy học sao cho tất cả các học sinh đều làm việc (hay dạy học
theo kiểu tổ chức cách làm việc) là một trong những định hướng quan trọng của việc
đổi mới phương pháp dạy toán ở Tiểu học. Đây là một cách dạy học tiến tiến, bám
sát nguyên t`c : “Dạy học thông qua hoạt động bằng tay của bản thân từng trẻ em”. Ở
đây, tôi xin nhấn mạnh chữ HOẠT ĐỘNG BẰNG TAY và chữ TỪNG nhằm huy
động tất cả học sinh trong lớp tham gia vào hoạt động học tập: tìm hiểu kiến thức
mới, luyện tập hay hoạt động củng cố đều có thể thực hiện được, và đạt hiệu quả cao.
Với hoạt động tự tìm ra kiến thức, n`m vững kiến thức sẽ giúp học sinh hứng thú
trong học tập.
Ví dụ 1: Tôi muốn yêu cầu học sinh tìm những điều đã cho và những điều
phải tìm trong trong một bài toán nào đó. Xin hãy so sánh hai cách dạy:
*Cách 1: Đàm Thoại :
Tôi hỏi cả lớp : “ Em hãy cho biết trong bài toán này đâu là cái đã cho, đâu là
những em khoanh tay, nhưng không theo dõi thì giáo viên cũng khó biết, hoặc có em
khoanh tay ngồi nhìn giáo viên nhưng đầu óc nghĩ đến chuyện khác như : chiều cha
mẹ chở đi chơi ở đâu, chơi game,… thì giáo viên cũng khó biết.
Còn trong cách dạy 2 thì 100% học sinh trực tiếp tích cực tham gia hoạt động.
Em nào không làm tôi biết ngay và nhẹ nhàng nh`c nhở. Em nào làm sai ( ví dụ : ghi
phép tính sai hoặc gạch chân chưa đúng theo yêu cầu,…) tôi uốn n`n kịp thời. Rõ
ràng cách dạy 2 hiệu quả hơn cách dạy 1 mà tôi thường xuyên áp dụng cho lớp học
tôi nhằm nâng cao chất lượng dạy học cũng như hứng thú học tập của các em.
trang8
Tóm lại, muốn cho việc dạy học tác động đến 100% học sinh làm việc thì tôi
luôn biến bài dạy của mình thành hệ thống các công việc mà học sinh có thể thực
hiện được bằng tay nhằm nâng cao chất lượng dạy học cũng như hứng thú học tập
của các em.
3. Biện pháp làm quen với giải toán có lời văn:
Giai đoạn 1: Quan sát tranh, nêu phép tính thích hợp
Được b`t đầu từ tiết 27 Luyện tập đến tiết 61 Luyện tập
Ngay từ đầu học kỳ I các bài toán được giới thiệu ở mức độ nhìn hình vẽ , viết
phép tính. Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ, suy nghĩ chọn phép tính
thích hợp. Ở giai đoạn đầu tiên này học sinh được thường xuyên làm quen với dạng
toán quan sát tranh nêu phép tính thích hợp. Tôi hiểu đó chính là yêu cầu, tập biểu thị
tình huống trong tranh bằng 1 phép tính thích hợp.
VD: Bài 5 tiết luyện tập trang 46
- Bài đầu tiên rất quan trọng nên tôi cho học sinh quan sát kĩ tranh để học sinh
biết được” Có mấy quả bóng? Thêm mấy quả bóng? Hỏi có tất cả máy quả
bóng?”.Sau đó tôi giúp học sinh nêu thành bài toán đơn với 1 phép tính cộng:
trang9
1 + 2 = 3
“ Vinh có 1 quả bóng. Hoà có 2 quả bóng. Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?”.
Cho nhiều học sinh nêu lại bài toán theo ý hiểu của mình, không b`t buộc phải
giống y nguyên bài toán mẫu của cô.
dạng bài tập như trên. Đó là:
+ Xem tranh vẽ
trang11
+ Nêu bài toán bằng lời
+ Nêu câu trả lời
+ Điền phép tính thích hợp với tình huống trong tranh.
Giai đoạn 2: Làm quen với giải bài toán với tóm tắt bằng lời .Từ giai đoạn này,
học sinh không quan sát tranh để nêu phép tính thích hợp nữa mà chuyển sang: “ Viết
phép tính thích hợp” dựa vào tóm t`t bài toán.
Ví dụ:
Có : 10 quả bóng
Cho : 3 quả bóng
Còn : quả bóng?
10 - 3 = 7
Học sinh từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ, học sinh dần dần thoát ly
khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán. Yêu cầu học sinh phải đọc và
hiểu được tóm t`t, biết diễn đạt đề bài và lời giải bài toán bằng lời, chọn phép tính
thích hợp nhưng chưa cần viết lời giải.
Tuy không yêu cầu cao, tránh tình trạng quá tải với học sinh, nhưng có thể động
viên học sinh khá giỏi làm nhiều cách , có nhiều cách diễn đạt từ một hình vẽ hay một
tình huống sách giáo khoa.
Bài 3( b) trang 87:
Có : 10 quả bóng
Cho: 3 quả bóng
Còn : . . . quả bóng
Tương tự như ở giai đoạn 1.Tôi tiếp tục cho học sinh đọc nhiều lần tóm t`t bài
toán rồi căn cứ vào thuật ngữ: : “Có, cho, còn” để tiếp tục hướng dẫn học sinh: “ cho”
là bớt đi và từ “còn” là chúng ta phải thực hiện phép tính trừ vào ô trống.
Vậy ở giai đoạn này học sinh đã quen dần
với cách nêu bài toán, câu trả lời bằng miệng. Rèn luyện thành thạo kĩ năng này sẽ rất
- Có 5 con vịt bơi dưới ao, có thêm 1 con vịt xuống ao. Hỏi có mấy con vịt dưới ao?
- Lớp em có 5 bạn vẽ đẹp . Nay có thêm 7 bạn vẽ đẹp. Hỏi lớp em có mấy bạn vẽ đẹp?
Có nhiều đề bài toán HS có thể nêu được từ một phép tính. Biết nêu đề bài toán từ
một phép tính đã cho, HS sẽ hiểu vấn đề sâu s`c hơn,ch`c ch`n hơn,tư duy và ngôn
ngữ của HS sẽ phát triển hơn.
a- Nhận biết cấu tạo bài toán có lời văn
Tiết 84: Bài toán có lời văn. Học sinh được học với đề toán chưa hoàn thiện.
Tiếp tục sử dụng kĩ năng quan sát tranh, học sinh đã rất thành thạo ở giai đoạn 2 vậy
nên hoàn thiện nốt đề bài toán là điều không khó đối với học sinh lớp tôi. Tiếp tục tôi
giảng để học sinh n`m ch`c một bài toán có lời văn ở lớp 1 gồm 2 phần. Phần cho biết,
phần hỏi.( Phần cho biết gồm 2 ý: Có cho thêm; Có và. bớt; Có bay đi;
Bài toán có lời văn còn thiếu số và câu hỏi: ( cái đã cho, cái cần tìm)
Gồm 4 bài toán có yêu cầu khác nhau
VD: Bài 1 trang 115 Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán
Bài toán 1: Có …bạn, có thêm… bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu
bạn ?
trang15
Bài toán 2: Có … con , có thêm … con thỏ đang chạy tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu con
thỏ ?
* Bài toán còn thiếu câu hỏi ( cái cần tìm)
Bài 3 Viết tiếp câu hỏi để có bài toán.
Bài toán 3 : Có 1 gà mẹ và có 7 gà con.
Hỏi ………………………………………………….?
trang16
* Bài toán còn thiếu cả số cả câu hỏi ( cái đã cho và cái cần tìm)
Bài toán 4: Có … con chim đậu trên cành, có thêm….con chim bay đến.
Hỏi ………………………………………………….?
- Dạy dạng toán này tôi phải xác định làm thế nào giúp các em điền đủ được các dữ
kiện (cái đã cho và cái cần tìm) còn thiếu của bài toán và bước đầu các em hiểu được
bài toán có lời văn là phải đủ các dữ kiện; đâu là cái đã cho và đâu là cái cần tìm.
An có: 4 quả bóng xanh.
Có: 5 quả bóng đỏ.
Có tất cả: . . . quả bóng?
- Yêu cầu học sinh đọc lại tóm t`t
Bước 3: Giải bài toán
Có thể lồng câu lời giải vào trong tóm t`t để dựa vào đó học sinh dễ viết câu lời
giải hơn chẳng hạn dựa vào dòng cuối tóm t`t học sinh có thể viết ngay câu lời giải
với nhiều cách khác nhau chứ không b`t buộc học sinh phải viết theo một kiểu. Có thể
hướng dẫn các em viết câu lời giải theo 1 số cách sau:
trang18
Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi)và cuối (mấy quả bóng?)
để có câu lời giải: “An có :” hoặc thêm từ là để có câu lời giải An có số quả bóng là:”
Cách 2: Đưa từ “quả bóng” ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ “Hỏi” và thêm từ
Số (ở đầu câu), là ở cuối câu để có “ Số quả bóng An có tất cả là:”
Cách 3: Dựa vào dòng cuối cùng của câu tóm t`t coi đó là “từ khoá” của câu lời giải
rồi thêm th`t chút ít. Vídụ: Từ dòng cuối của tóm t`t “Có mấy quả bóng?”. Học sinh
viết câu lời giải:Có tất cả là:”.
Cách 4: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: “Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?” để học sinh
trả lời miệng: “ Cả hai bạn có là” rồi chèn phép tính vào để có cả bước giải (gồm câu
lời giải và phép tính):
Tất cả An có là:
4+ 5 = 9 (quả bóng)
Cách 5: Sau khi học sinh tính xong: 4 + 5 = 9 (quả bóng). Giáo viên chỉ vào 9 rồi
hỏi: “ 9 quả bóng này là của ai? ” ( số bóng của An có tất cả). Từ câu trả lời của học
sinh ta giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải: “Số bóng của An có tất cả là”…Vậy
là có rất nhiều câu lời giải khác nhau. Tiếp tục hướng dẫn học sinh viết các phép tính.
- Tôi nêu tiếp: “Muốn biết An có mấy quả bóng ta làm tính gì? (tính cộng); Mấy cộng
với mấy? (4 + 5 = 9) hoặc 5 cộng 4 bằng mấy? (5 +4 = 9);
Tiếp tục tôi gợi ý để học sinh nêu tiếp “9 này là 9 quả bóng) nên ta viết “quả
bóng” vào dấu ngoặc đơn: 4 + 5 = 9 ( quả bóng). Để bài toán đầy đủ các bước giáo
Bài giải
An có tất cả số quả bóng là:
4 + 5 = 9 ( quả bóng)
Đáp số: 9 quả bóng.
Khi dạy học sinh lớp 1 giải bài toán có lời văn phương pháp luận để giải quyết
bài toán như sau:
- Đọc thật kỹ đề bài
- Hiểu rõ câu hỏi
- Tìm các yếu tố liên quan đến câu hỏi
- Từ đó tìm ra phép tóan cần thiết (+, -, … ) để sử dụng
- Làm toán và sau đó kiểm tra lại
Để dạy học sinh lớp 1quen phương pháp luận như vậy cần dành thời gian giải
các bài toán cùng trẻ theo từng bước như trên, sau một thời gian trẻ có thể tự
làm, giải các bài toán có lời văn một cách thành thạo.
6. Quá trình nghiên cứu và thực nghiệm:
a- Bài toán có lời văn
Có bạn, có thêm bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn?
trang20
HS quan sát tranh và trả lời câu hỏi
Điền vào chỗ chấm số 1 và số 2
- Bài 2 tương tự
Qua tìm hiểu bài toán giúp cho học sinh xác định được bài có lời văn gồm 2 phần:
- Thông tin đã biết gồm 2 yếu tố
- Câu hỏi ( thông tin cần tìm )
Từ đó học sinh xác định được phần còn thiếu trong bài tập ở trang116
Có 1 con gà mẹ và 7con gà con. Hỏi có tất cả bao nhiêu con gà?
Kết hợp giữa việc quan sát tranh và trả lời câu hỏi gợi ý của giáo viên, học sinh
hoàn thành bài toán
Có 4 con chim đậu trên cành , có thêm 2 con chim bay đến. Hỏi có tất cả bao
nhiêu con chim?
phần tóm t`t + thêm chữ là:
VD - Cả hai bạn có là:
- Có tất cả là:
b. Luyện tập
Những câu lời giải được mở rộng hơn bằng cách thêm cụm từ chỉ vị trí vào
trước cụm từ có tất cả là . Cụ thể là
Trong vườn có tất cả là:
Trên tường có tất cả là:
Luyện tập
HS đọc đề toán – phân tích bài toán ( như trên )
Điền số vào tóm t`t .Vài ba học sinh nêu câu lời giải khác nhau
GV chốt lại một cách trả lời mẫu:
-Số quả bóng của An có tất cả là:
Tương tự
Bài 2 trang122
- Số bạn của tổ em có là:
Bài 3 trang122
- Số gà có tất cả là:
trang22
Vậy qua 3 bài tập trên học sinh đã mở rộng được nhiều cách viêt câu lời giải khác
nhau ,song GV chốt lại cách viết lời giải như sau:
Thêm chữ Số+ đơn vị tính của bài toán trước cụm từ có tất cả là như ở tiết 82 đã
làm .
Riêng với loại bài mà đơn vị tính là đơn vị đo độ dài( cm) cần thêm chữ dài vào
trước chữ là
VD cụ thể
Tóm t`t
Đoạn thẳng AB : 5cm
Đoạn thẳng BC : 3cm
Cả hai đoạn thẳng : cm?
Còn lại : con chim?
Bài giải
trang24
Số chim còn lại là:
8 - 2 = 6( con chim)
Đáp số : 6 con chim.
Bài 2 trang 149
Tóm t`t
Có : 8 quả bóng
Đã thả :3 quả bóng
Còn lại: quả bóng?
Bài giải
Số bóng còn lại là :
8 - 3 = 5( quả bóng)
Đáp số: 5 quả bóng .
Bài 3 trang 149:Tóm t`t
trang25