Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn bệnh viện y học cổ truyền và bệnh viện đa khoa tỉnh hưng yên, tại thành phố hưng yên, tỉnh hưng yên - Pdf 30



HÀ NỘI, NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH HƯNG YÊN TẠI THÀNH PHỐ
HƯNG YÊN, T
ỈNH H
ƯNG YÊN BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

o0o

LÊ THỊ ĐIỆP
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH HƯNG YÊN TẠI THÀNH PHỐ
HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN
HÀ NỘI, NĂM 2014
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60.44.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.ĐỖ NGUYÊN HẢI
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn
Lê Thị Điệp Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở lý luận chung về chất thải rắn y tế 3
1.1.1. Các khái niệm cơ bản 3
1.1.2. Nguồn gốc phát sinh, phân loại và thành phần chất thải rắn y tế 4
1.1.2.1. Nguồn gốc phát sinh 4
1.1.2.2. Phân loại chất thải rắn y tế 5
1.1.2.3. Thành phần chất thải rắn y tế 7
1.1.3. Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và con người 8
1.1.3.1. Tác động của chất thải rắn y tế đến môi trường 9
1.1.3.2. Tác động của chất thải rắn y tế đến con người 10
1.1.3.3. Sự tồn lưu tác nhân gây bệnh trong môi trường 11
1.1.4. Nguyên tắc phân loại, thu gom,vận chuyển và lưu giữ CTR tại các
cơ sở y tế 12
1.1.4.1. Phân loại chất thải rắn trong các cơ sở tế 12

3.1.1.1. Vị trí địa lý bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên 34
3.1.1.2. Vị trí địa lý bệnh viện Y học cổ truyền 34
3.1.2. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của 2 bệnh viện 35
3.1.2.1. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên 35
3.1.2.2. Bệnh viện Y học cổ truyền 38
3.1.3. Đánh giá thực trạng môi trường 2 bệnh viện nghiên cứu 39
3.1.3.1. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên 39
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v

3.1.3.2. Bệnh viện Y học cổ truyền 4
3.2. Hiện trạng chất thải rắn tại 2 bệnh viện 42
3.2.1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn tại 2 bệnh viện 42
3.2.2. Khối lượng và thành phần CTR 2 bệnh viện 44
3.2.2.1. Khối lượng chất thải rắn 2 bệnh viện 44
3.2.2.2. Thành phần chất thải rắn 2 bệnh viện 53
3.3. Thực trạng quản lý CTR tại 2 bệnh viện 56
3.3.1. Quản lý hành chính 56
3.3.1.1. Về cơ cấu tổ chức 56
3.3.1.2. Về pháp luật 59
3.3.1.3. Về tài chính 60
3.3.2. Quản lý về kỹ thuật 60
3.3.2.1. Thực trạng quản lý CTR y tế về mặt kỹ thuật tại bệnh viện Đa khoa
tỉnh Hưng Yên 60
3.3.2.2. Thực trạng quản lý CTR y tế về mặt kỹ thuật tại bệnh viện Y học cổ
truyền 66
3.3.3. Thực trạng quản lý CTR 2 bệnh viện qua điều tra phỏng vấn
bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, cán bộ quản lý và nhân viên thu
gom CTR bệnh viện 70
3.3.3.1. Tổng hợp ý kiến của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về quản
lý CTR của 2 bệnh viện 70

2. Kiến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BV : Bệnh viện
BYT
CBCNV
:
:
Bộ Y tế
Cán bộ công nhân viên
CTR : Chất thải rắn
CTYT : Chất thải y tế
CTRYTNH : Chất thải rắn y tế nguy hại
CTRTT : Chất thải rắn thông thường
CTRSH : Chất thải rắn sinh hoạt
CTRYT : Chất thải rắn y tế
ĐK : Đa khoa
HY : Hưng Yên
ICT : Công ty Kỹ thuật làm sạch và thương
mại Quốc tế

Bảng 1.5. Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 20
Bảng 1.6. Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại các bệnh
viện trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010 23
Bảng 1.7. Các phương thức xử lý CTRYT ở Việt Nam 26
Bảng 3.1. Lượng CTRYTNH phát sinh tại các khoa bệnh viện Đa khoa tỉnh
Hưng Yên năm 2013 47
Bảng 3.2. Lượng CTRYTNH phát sinh tại các khoa trong bệnh viện Y
học cổ truyền năm 2013 51
Bảng 3.3. Tỷ lệ thành phần các loại CTR của 2 bệnh viện 54
Bảng 3.4. Ý kiến của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về công tác quản
lý CTR và môi trường bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên 71
Bảng 3.5. Ý kiến của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về công tác
quản lý CTR và môi trường bệnh viện YHCT 72
Bảng 3.6. Ý kiến của cán bộ quản lý và nhân viên thu gom về thực
trạng quản lý CTR 2 bệnh viện 73
Bảng 3.7. Sự khác nhau trong công tác quản lý CTR giữa 2 bệnh viện 76
Bảng 3.8. Dự báo khối lượng CTR phát sinh tại bệnh viện Đa khoa tỉnh HY 82
Bảng 3.9. Dự báo khối lượng CTR phát sinh tại bệnh viện YHCT 83
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ix
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế 4
Hình 1.2. Sơ đồ tác động của CTRYT đến môi trường và con người 9
Hình 1.3. Biểu đồ gia tăng CTYT của 1 số địa phương giai đoạn 2005-2009 20
Hình 1.4. Biểu đồ tình hình phát sinh CTRYT của 19 bệnh viện tuyến TW 21

tích cực góp phần nâng cao đời sống của người dân. Khi mức sống của con người
được nâng cao thì nhu cầu về chăm sóc sức khỏe cũng gia tăng. Vì vậy, các cơ sở
khám chữa bệnh hiện nay không chỉ phát triển về số lượng mà còn phát triển về
mặt chất lượng. Từ đó, lượng chất thải rắn y tế (CTRYT) phát sinh ngày càng
nhiều và tính độc hại ngày càng cao làm lan truyền mầm bệnh và gây ô nhiễm
các thành phần môi trường xung quanh.
Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường (TN & MT), nước ta có khoảng 13.511 cơ sở khám chữa bệnh. Tổng
lượng CTRYT trên toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-30
tấn/ngày là CTRYT nguy hại (CTRYTNH). Vấn đề quản lý chất thải rắn y tế
hiện nay của nước ta còn thiếu đồng bộ, chưa đạt hiệu quả cao. Kết quả khảo sát
834 bệnh viện của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường năm 2006 và báo
cáo của các Sở Y tế từ các địa phương từ 2007-2009 cho thấy có 90,9% các bệnh
viện tiến hành thu gom CTR hàng ngày. Tuy nhiên, phương tiện thu gom còn
thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn, chỉ có một số ít bệnh viện có
thùng đựng chất thải theo đúng quy chế, 53% số bệnh viện chất thải được vận
chuyển trong xe có nắp đậy; 45,3 % đạt yêu cầu về nơi lưu giữ. Báo cáo của Bộ
TN & MT năm 2010 cho thấy các lò đốt đạt tiêu chuẩn môi trường hiện chỉ mới
xử lý chất thải y tế cho khoảng 40% số bệnh viện, khoảng 30% bệnh viện sử
dụng lò đốt thủ công và một số lò đốt không được vận hành hoặc vận hành không
hết công suất, nhiều lò đốt không đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, 30% bệnh viện
tự chôn lấp chất thải y tế nguy hại trong khuôn viên hoặc chuyển đến nơi chôn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2

lấp ở bãi rác chôn lấp chung của địa phương. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào
để công tác quản lý CTRYT phù hợp và hiệu quả nhất vẫn là bài toán khó đối với
các cơ quan chức năng và nhà quản lý môi trường.
Việc quá tải ở các bệnh viện tuyến Trung ương đã khiến lượng bệnh nhân
đổ dồn về các bệnh viện tuyến tỉnh ngày càng đông dẫn đến lượng CTR ở đây
ngày càng nhiều. Hưng Yên (HY) cũng như các tỉnh khác trong cả nước, tình

kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. CTR bao gồm CTR
thông thường và CTR nguy hại (Nghị định số 59/2007/NĐ-CP).
- Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT: chất thải rắn y tế là vật chất ở thể rắn
được thải ra từ các cơ sở y tế, bao gồm chất thải rắn y tế nguy hại và chất thải rắn
thông thường.
- Theo Tổ chức Y tế Thế giới – WHO: chất thải rắn y tế còn bao gồm cả
những chất thải có nguồn gốc từ các nguồn khác, như được tạo ra trong quá trình
chăm sóc sức khỏe tại nhà (lọc máu, tiêm…).
- Một số thuật ngữ khác liên quan đến chất thải rắn y tế được quy định từ
Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ y tế ban hành kèm QĐ số 43/2007/QĐ-BYT
như sau:
+ Chất thải rắn y tế nguy hại: là chất thải rắn y tế chứa yếu tố nguy hại
cho sức khỏe con người và môi trường như: dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng
xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải
này không được tiêu hủy an toàn.
+ Chất thải rắn y tế thông thường: là những chất thải rắn y tế không được
xem là chất thải rắn y tế nguy hại; không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học
nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ.
+ Quản lý chất thải rắn y tế: là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban
đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu
hủy chất thải rắn y tế và kiểm soát việc thực hiện.
+ Giảm thiểu chất thải rắn y tế: là hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát
thải chất thải rắn y tế, bao gồm: giảm lượng chất thải rắn y tế tại nguồn, sử dụng
các sản phẩm có thể tái sử dụng, tái chế, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình
thực hành và phân loại chất thải rắn y tế một cách chính xác.
+ Tái sử dụng chất thải rắn y tế: là việc sử dụng một sản phẩm y tế nhiều
lần cho đến hết tuổi thọ sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo chức năng mới,
mục đích mới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4


Chất thải phóng xạ
Phòng bệnh nhân
không lây nhiễm
Buồng tiêm
Phòng mổ
Phòng xét nghiệm,
chụp phim
Phòng cấp cứu
Phòng bệnh nhân
truyền nhiễm
Khu bào chế dược
Khu vực hành chính
CTRYT
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5

Việc xác định chính xác nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế là rất cần
thiết để từ đó có biện pháp quản lý cho phù hợp.
1.1.2.2. Phân loại chất thải rắn y tế
Phân loại chất thải là một khâu rất quan trọng trong việc quản lý và xử lý
chất thải. Nếu hoạt động phân loại tiến hành tốt ngay từ đầu thì những khâu sau
sẽ đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa sự ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi
trường xung quanh.
- Theo Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kính (2005), chất thải rắn y tế
được phân loại như sau:
+ Chất thải rắn y tế thông thường: bao gồm tất cả các chất thải rắn y tế
không độc hại, nó tương tự như chất thải rắn sinh hoạt.
+ Chất thải rắn là bệnh phẩm: gồm mô, cơ quan, phần cơ thể, bào thai
người, xác động vật thí nghiệm, máu và dịch cơ thể
+ Chất thải rắn chứa phóng xạ: chất thải rắn từ quá trình chiếu, chụp X
quang, phân tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trú khối u

Chất thải rắn chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy
ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa); cadimi (từ pin, acquy); chì (từ tấm
gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn
đoán hình ảnh, xạ trị).
+ Chất thải phóng xạ
Chất thải rắn phóng xạ phát sinh từ hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên
cứu và sản xuất. Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong
chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày
24/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
+ Bình chứa áp suất
Bao gồm bình đựng oxy, CO
2
, bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ
gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
+ Chất thải rắn thông thường
Chất thải rắn thông thường là các chất thải không chứa các yếu tố lây
nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7

Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh
cách ly).
Chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ
thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương
kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học
nguy hại.
Chất thải rắn phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật
liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
Chất thải rắn ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.
1.1.2.3. Thành phần chất thải rắn y tế
Theo Nguyễn Tất Hà (1997), chất thải rắn y tế bao gồm các thành phần

Các bệnh phẩm sau mổ 0.6 Có
Đất, cát, sành sứ và chất rắn khác 20.9 Không
Tổng cộng 100
Tỷ lệ chất thải nguy hại (%) 22.6
(Nguồn: Nguyễn Đức Khiển, 2003)
1.1.3. Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và con người
Rác thải y tế là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và
tác động xấu lên sức khoẻ con người. Rác thải y tế là phế thải từ bệnh viện qua
những dịch vụ y tế như chữa trị, mổ xẻ và thử nghiệm. Khi nhu cầu khám chữa
bệnh của con người càng tăng thì rác thải y tế cũng không ngừng phát triển. Rác
thải y tế thường mang mầm bệnh và có nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe con
người sống xung quanh bệnh viện, nếu không được xử lý. Ước tính cứ 4 kg rác
thải y tế lại có 1 kg đã bị nhiễm vi khuẩn nguy hiểm. Do đó, rác thải y tế có thể
trực tiếp ảnh hưởng tức khắc lên sức khỏe của con người và gây ra bệnh dịch
(Phạm Văn Kiên, 2007).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
Bình chứa áp
su
ất

Chất thải
thông thường
Môi trường
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10

khi rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen. Việc đốt chất thải y tế
đựng trong túi nilon PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất định, có thể tạo ra
khí axit, thường là HCl and SO
2
. Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (F, Cl,
Br, I ) ở nhiệt độ thấp thường tạo ra axit như: hydrochloride (HCl). Điều đó dẫn
đến nguy cơ tạo thành dioxin, một loại hóa chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng
độ thấp. Các kim loại nặng như thủy ngân có thể phát thải theo khí lò đốt (Bộ Y
tế, 2010).
Những nguy cơ môi trường này có thể tác động tới hệ sinh thái và sức
khỏe con người trong dài hạn (Bộ Y tế, 2010).
Tác động tiềm ẩn khác đối với môi trường là khi chất thải gây độc gen
được thải vào môi trường có thể gây ra hậu quả suy thoái về sinh thái. Ngoài ra,
các bãi tập kết chất thải rắn y tế không hợp lý sẽ gây mất mỹ quan, là điểm bùng
phát các dịch bệnh.
1.1.3.2. Tác động của chất thải rắn y tế đến con người
Đối tượng có nguy cơ bị tác động bởi chất thải rắn y tế rất nhiều, đó có thể
là nhân viên và bệnh nhân trong các cơ sở y tế, những người trực tiếp tham gia
xử lý CTRYT và cộng đồng dân cư xung quanh các cơ sở y tế trong trường hợp
chất thải rắn y tế không được xử lý hiệu quả.
- Nguy cơ và tác động của chất thải lây nhiễm

- Nguy cơ và tác động của chất thải gây độc tế bào
Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào. Chúng có thể gây
kích thích hay gây tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt,
buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da. Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người
chịu trách nhiệm thu gom chất thải, có thể phơi nhiễm với các thuốc điều trị ung
thư qua hít thở hoặc hạt lơ lửng trong không khí, hấp thu qua da, tiêu hóa qua
thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc tế bào (Bộ Y tế, 2010).
- Nguy cơ và tác động của chất thải phóng xạ
Những bệnh do các chất phóng xạ gây nên được xác định bởi liều lượng
và kiểu phơi nhiễm. Cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết
định những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến
các vấn đề đột biến gen trong dài hạn (Bộ Y tế, 2010).
1.1.3.3. Sự tồn lưu tác nhân gây bệnh trong môi trường
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12

Các vi khuẩn có trong chất thải y tế, được phát thải ra trong môi trường,
có thời gian tồn lưu ngoài môi trường trong điều kiện tự nhiên. Thời gian tồn lưu
tác nhân gây bệnh ngoài môi trường có giới hạn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
chủ yếu là yếu tố lý học, hoá học môi trường như nhiệt độ môi trường, hoạt độ
nước, tia cực tím, pH của môi trường, oxy tự do, v.v (Vũ Đình Phong, 2009).
Virus viêm gan B khá bền vững trong điều kiện không khí khô và có thể
tồn lưu trong nhiều tuần lễ trên một số các bề mặt vật ô nhiễm. Loại tác nhân này
có thể vẫn tồn lưu trong dung dịch sát khuẩn 70% cồn ethanol hay tồn tại tới 10
giờ trong nhiệt độ 60
0
C. Hiệp hội Nhật Bản nghiên cứu về chất thải cho biết, tác
nhân virus viêm gan B và C có thể tồn tại cả tuần lễ trong các giọt máu còn lưu
lại trong kim tiêm (Thanh Hằng, 2012).
Virus HIV có thời gian tồn lưu ngắn hơn, chúng có thể tồn tại không quá
15 phút khi bị tác động của cồn ethanol 70% hoặc là chỉ có thể tồn lưu từ 3-7

gom.
+ Sử dụng thùng đựng chất thải theo đúng tiêu chuẩn quy định và phải
được vệ sinh hàng ngày.
+ Túi sạch thu gom chất thải phải luôn có sẵn tại nơi chất thải phát sinh để
thay thế cho túi cùng loại đã được chuyển về nơi lưu giữ tạm thời chất thải của
cơ sở y tế.
- Mỗi loại chất thải được thu gom vào các dụng cụ thu gom theo mã mầu
quy định và phải có dán nhãn hoặc ghi bên ngoài túi nơi phát sinh chất thải.
- Các chất thải y tế nguy hại không được để lẫn trong chất thải thông
thường. Nếu vô tình để lẫn chất thải y tế nguy hại vào chất thải thông thường thì
hỗn hợp chất thải đó phải được xử lý và tiêu hủy như chất thải y tế nguy hại.
- Lượng chất thải chứa trong mỗi túi chỉ đầy tới 3/4 túi, sau đó buộc cổ túi
lại.
- Tần suất thu gom: Hộ lý hoặc nhân viên được phân công hàng ngày chịu
trách nhiệm thu gom các chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường từ nơi
chất thải phát sinh về nơi tập trung chất thải của khoa ít nhất 1 lần trong ngày và
khi cần.
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao trước khi thu gom về nơi tập trung
chất thải của cơ sở y tế phải được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh. (Bộ y tế, 2007)
1.1.4.3. Lưu giữ chất thải rắn tại các cơ sở y tế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14

- Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu giữ trong các
buồng riêng biệt.
- Chất thải để tái sử dụng, tái chế phải được lưu giữ riêng.
- Nơi lưu giữ chất thải tại các cơ sở y tế phải có đủ các điều kiện sau:
+ Cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đông
người tối thiểu là 10m. Có đường để xe chuyên chở chất thải từ bên ngoài đến.
+ Diện tích phù hợp với lượng chất thải phát sinh của cơ sở y tế.
+ Nhà lưu giữ phải có mái che, có hàng rào bảo vệ, có cửa và có khóa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status