BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trần Thị Thu Hà, Chu Thị Thủy, Nguyễn Văn Nam
BÀI GIẢNG
TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
Hà Nội - 2013
2
3
Câu hỏi ôn tập 99
Chương 7. VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN CUỐI CHIẾN TRANH THẾ GIỚI
THỨ NHẤT 100
7.1. Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp và hậu quả của nó 100
7.2. Phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX 103
7.3. Việt Nam trong chiến tranh thế giới thứ nhất 109
Câu hỏi ôn tập 113
4
Chương 8. VIỆT NAM TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT ĐẾN ĐẦU
1930 114
8.1. Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp và tác động của nó đến xã hội
Việt Nam 114
8.2. Phong trào đấu tranh dân tộc (1919-1925) 116
8.3. Phong trào đấu tranh dân tộc (1925-1930) 120
Câu hỏi ôn tập 126
Chương 9. VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1930 -1945 127
9.1. Việt Nam trong những năm 1930 -1939 127
9.2. Việt Nam trong những năm 1939 -1945 136
9.3. Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa 143
Câu hỏi ôn tập 146
Chương 10. VIỆT NAM BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ
KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP ( 1945-1954) 147
10.1. Công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ nền dân chủ cộng hòa (1945-1946) 147
10.2. Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ và tiến triển của cuộc kháng chiến từ (1946-
1950) 150
10.3. Tiến triển của cuộc kháng chiến trong những năm 1951-1954 154
Câu hỏi ôn tập 160
Chương 11. VIỆT NAM THỜI KỲ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC
VÀ ĐẤU TRANH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1954-1975) 161
khoa học lịch sử. Nội dung của bài giảng bám sát chương trình cơ bản với khối lượng kiến thức
vừa phải, bảo đảm tính hiện đại, hệ thống của lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc cho đến nay. Qua
đó, sinh viên có thể dùng làm tài liệu học tập, tài liệu ôn tập và tài liệu tham khảo.
Môn Tiến trình Lịch sử Việt Nam gồm 2 tín chỉ và được biên soạn thành 12 chương:
Chương 1: Việt Nam thời nguyên thuỷ và dựng nước
Chương 2: Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc (179 TCN - 938)
Chương 3: Việt Nam từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XV
Chương 4:Việt Nam từ đầu thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVIII
Chương 5: Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX
Chương 6: Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX
Chương 7: Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến trước Chiến tranh thế giới thứ nhất
Chương 8: Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến đầu 1930
Chương 9: Việt Nam trong những năm 1930 - 1945
Chương 10: Việt Nam bước đầu xây dựng nền dân chủ cộng hoà và kháng chiến chống
Pháp (1946-1954)
Chương 11: Việt Nam thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống
nhất đất nước (1954-1975)
Chương 12: Việt Nam xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ 1975 đến
nay
Mặc dù các tác giả đã có nhiều cố gắng, song không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện tập bài giảng Môn Tiến trình Lịch sử
Việt Nam.
6
7
Chương 1. VIỆT NAM THỜI NGUYÊN THỦY VÀ DỰNG NƯỚC
1.1. Việt Nam thời nguyên thủy
1.1.1. Giai đoạn bầy người nguyên thủy
1.1.1.1. Điều kiện thuận lợi để người nguyên thuỷ Việt Nam xuất hiện và phát triển
Điều kiện tự nhiên: Việt Nam nằm ở cực Đông Nam của Châu Á với chiều dài 1650km.
trong đó có hóa thạch người vượn tại Ôn-đu-wai đặt tên là Hô-mô-ha-bi-lis (người khéo léo).
Khi nghiên cứu di tích Chu Khẩu Điếm nhà giải phẫu học người Đức là Wei-den-rich đã
xây dựng mô hình phát tán người vượn từ châu Phi ra khắp cựu thế giới gồm châu Phi, Á, Âu.
8
Đối với Châu Á người vượn Chu Khẩu Điếm được coi là cội nguồn đại chủng Môn gô lô it,
còn ở châu Âu thì người vượn tiến hóa qua người Nê-an-dec-tan trở thành người châu Âu hiện
đại.
Gần đây các nhà sinh học phân tử qua nghiên cứu DNA đã kết luận con người hiện đại
sinh ra từ một tổ tiên chung ở châu Phi trong khoảng 200.000 năm trước. Tuy nhiên tư liệu hóa
thạch lại không ủng hộ thuyết một trung tâm phát sinh người.
Di tích hóa thạch người ở Việt Nam
Tại hang Thẩm Khuyên và Thẩm Hai lạng Sơn đã phát hiện 10 răng hóa thạch của người
vượn Hô mô E rec tus.
Cùng với đó là các hóa thạch động vật như vượn khổng lồ, đười ươi lùn, voi răng kiếm,
lợn vòi, tê giác, gấu tre lớn…
Niên đại người vượn 250.000 năm. Mới đây hóa thạch người vượn hang Thẩm Khuyên
được xác định bằng phương pháp cộng hưởng điện tử Spin cho tuổi 401.000 – 534.000 năm,
tương đương người vượn Bắc Kinh.
Người vượn xuất hiện ở Việt Nam đẩu tiên nửa triệu năm, mốc mở đầu cho Lịch sử Việt
Nam. “Thời nguyên thủy loài người bước ra khỏi loài động vật như thế nào – nói theo nghĩa
hẹp – thì họ cũng bước vào lịch sử như thế ấy” (Chống Đuy Rinh – Ăng ghen)
Qua các di tích có thể thấy: Số lượng người còn ít ỏi, những động vật có thể là con mồi
mà họ săn được, chưa thấy công cụ lao động của người vượn.
1.1.1.3. Sơ kỳ thời đại đồ đá cũ
Các di chỉ: Núi Đọ (Thanh Hóa), Xuân Lộc (Đồng Nai), Núi Uông (Thanh Hóa), Gia Tân
(Đồng Nai) và An Lộc (Bình Phước), núi Đầu Voi (Lâm Đồng).
Công cụ lao động: Có các loại hình công cụ như: mảnh tước, hạch đá, rìu tay kỹ thuật
chế tạo còn thô sơ, chủ yếu là ghè đẽo.
Nhà nghiên cứu người Canada Meelin- Đô-nal đã chia quá trình tiến hóa loài người thành
3 giai đoạn:
Các hóa thạch người khôn ngoan giai đoạn muộn phát hiện ở hang Thung Lang (Ninh
Bình), Hang Kéo Lèng (Lạng Sơn) cách ngày nay 30.000 năm.
Hệ thống văn hóa Ngườm
Di chỉ: hệ thống hang động ở Thái Nguyên (Miệng Hổ, Nà Khù, Mái đá Ngườm) ở Lạng
Sơn (Lạng Nắc, Hang Dơi) và Cao Bằng (Nà Cooc, Nà Nông).
Công cụ lao động: có tiến bộ hơn so với cư dân núi Đọ, có nhiều mảnh tước, phiến tước,
hình dáng nhỏ hơn. Ngoài công cụ bằng đá còn có công cụ bằng xương động vật. Di chỉ
Ngườm có 3 mức văn hóa phát triển liên tục từ sớm đến muộn. Tại đây phát hiện 618 công cụ
hạch cuội, 10.146 công cụ mảnh tước, 13.494 mảnh tước và 75 hạch đá. Có ý kiến đề xuất gọi
là kỹ nghệ Ngườm, nhưng hợp lý hơn là hệ thống văn hóa Ngườm. Cư dân Ngườm chưa biết
đến kỹ thuật mài.
Hoạt động kinh tế: Hái lượm và săn bắt để sinh sống (giai đoạn này, các nhà khảo cổ học
tìm thấy nhiều xương lợn và khỉ). Di tích thức ăn chứng tỏ người tiền sử nơi đây đã có sự phân
công lao động theo giới tính và theo lứa tuổi. Đàn ông khỏe mạnh thì chế tác công cụ và săn
bắt, phụ nữ thu lượm các loại ốc núi, suối, rau củ quả.
Hệ thống văn hóa Sơn Vi
Di chỉ: khắp Bắc trung bộ và Bắc bộ, với hơn 200 địa điểm dọc theo các con sông lớn,
thậm chí tìm thấy cả ở Sa Thầy (Kon Tum). Tên gọi Sơn Vi: đây là một địa danh ở Lâm Thao
– Phú Thọ, được lấy tên để đăt cho một tập hợp những thành tựu nghiên cứu về cuộc sống cư
dân Việt Nam thời hậu kỳ đá cũ sau văn hóa Ngườm.
Công cụ lao động: chủ yếu nguyên liệu làm từ hòn cuội quartz và quartzit, ghè đẽo một
mặt là chính, vết ghè trên một rìa cạnh tạo ra công cụ mũi nhọn, rìa lưỡi dọc, rìa lưỡi ngang,
phần tư viên cuội, hai hoặc ba rìa; cùng với một số công cụ mảnh tước kém định hình. Ngoài ra
10
còn có gỗ, tre, nứa làm công cụ vũ khí cung tên bẫy thú…Kỹ thuật chế tác: đã biết lấy xương
động vật làm công cụ chế tác. Bộ công cụ mũi nhọn; để chặt cây, đào bới đất, xẻ thịt thú; công
cụ rìa cạnh: để cắt thái; các mảnh tước dùng như dao.
Niên đại C14: gần 2 vạn năm đến hơn 1 vạn năm cách ngày nay.
Nơi cư trú: bậc thềm các dòng sông, một ít trong các hang động.
Tổ chức xã hội: cơ cấu tổ chức bộ lạc. Bằng chứng là tại hang Con Muông đã tìm thấy
nhiều hơn sâu sắc hơn. Đòi hỏi phải biết quan sát, phân loại môi trường sinh thái, phân loại
mùa, đối tượng hái lượm tạo tiền đề điều kiện tiến đần đến nền nông nghiệp sơ khai.
Ngày nay mối quan tâm của các nhà sử học không còn bó hẹo trong nông nghiệp mà vấn
đề quan tâm lớn hơn là tri thức bản địa về hệ thống sinh thái. Phán đoán lịch sử nông nghiệp
11
Đông Nam Á chia làm hai giai đoạn: giai đọan trồng rau củ và giai đoạn trồng lúa đã không
còn thuyết phục. Khả năng người tiền sử biết chăm sóc lúa hoang chịu hạn không hề muộn hơn
việc họ biết gieo trồng rau củ. Bằng quan sát họ đã biết kết hợp khai thác và chăm sóc để thu
hái vào mùa sau. Một quan điểm sai lầm khác là nông nghiệp luôn gắn liền với định cư. Thực
tế là có những mô hình nông nghiệp du canh du cư với mục đích vừa khai thác vừa nuôi dưỡng
đất đai và môi trường.
Chủ nhân văn hóa Hòa Bình: cư dân bản địa có sự hòa huyết với các tộc người ở khu vực
xung quanh (Astralo – Môn-gô-lô-it, giống loại hình Anh-đô-nê-diêng phát hiện ở Nam Trung
Hoa)
Đời sống tinh thần: Cư dân Hòa Bình có tập tục chôn người chết ở nơi cư trú, trong các
hang động đá vôi ở tư thế nằm co như đang ngủ, kèm theo rất nhiều hiện vật thân thiết; Điều
này chứng tỏ họ đã có một tư duy khá phát triển, có quan niệm rõ rang về hai thế giới. Hai thế
giới gần gũi, không cách biệt giống như thế giới người đang thức và bên kia là của người đang ngủ.
Tình cảm này bác bỏ quan điểm cho rằng cư dân Hòa Bình trói người chết khi chôn vì sợ họ quay
về làm hại. Tư thế bó gối là tư thế ngủ của người tiền sử và nằm co là để tránh lạnh.
Họ đã biết làm đẹp (Họ biết đồ trang sức bằng vỏ ốc biển mài, đục lỗ xâu vào để đeo,
bôi thổ hoàng lên xác người chết), đã nảy sinh ý tưởng tín ngưỡng vật tổ sơ khai. Cư dân Hòa
bình đã có một vốn tri thức biểu tượng. Trên vách hang Đồng Nội (Hòa Bình) có khắc hình
một con thú ăn cỏ và ba mặt người có sừng, vậy thì đó là hình khắc nghệ thuật hay biểu tượng
vật tổ, hay một loại chữ. Mỗi người có một câu trả lời riêng nhưng thực sự đó là một cuộc cách
mạng biểu tượng.
Văn hóa Bắc Sơn:
Niên đại: Cách ngày nay khoảng 11.000 + 200 đến 7.875 +100 năm.
Tên gọi: Thuật ngữ Văn hóa Bắc Sơn. Trước đây đa số các nhà khảo cổ học cho rằng
Văn hóa Bắc Sơn thuộc thời đại đá mới có niên đại sau Văn hóa Hòa Bình, nảy sinh từ văn hóa
Văn hóa Đa Bút - Quỳnh Văn – Bàu Tró
Giai đoạn cuối văn hóa Hòa Bình (6000-5000 năm cách nay) nước biển dâng cao tạo ra
dải đồng bằng nhiều đầm lầy vũng vinh với sản vật phong phú, các cư dân Hòa Bình tiến theo
các sông lớn về khai thác vùng ven biển, trở thành chủ nhân đầu tiên của các đồng bằng ven
biển đang hình thành.
Loại hình Đa Bút (Thanh Hóa)
Khai quật năm 1926 -1927
Công cụ lao động: cuội ghè đẽo và mài lưỡi, làm gốm.
Nơi cư trú: không còn là các hang động nữa.
Hoạt động kinh tế: kết hợp săn bắt hái lượm làm nông chăn nuôi và nghề thủ công chế
tác đá truyền thống và làm gốm.
Săn bắt giảm đáng kể, vì biển tiến thiếu rừng và ngập mặn.
Việc phát hiện rất nhiều xương răng của các loài thú, nhất là việc tìm thấy xương trâu bò
nhà và xương lợn sữa chứng tỏ họ đã biết đến chăn nuôi.
Cư dân Đa Bút đã xây dựng một mô hình phát triển: kết hợp làm nông trồng lúa nước –
chăn nuôi, thủ công làm gốm, chế tác đá, đánh bắt thủy hải sản, săn bắt hái lượm bổ sung.
Loại hình Quỳnh Văn (Nghệ An)
Cư dân Quỳnh Văn:có thể là hậu duệ của cư dân Hòa Bình, cũng có thể là một nhóm tách
ra từ Đa Bút. Về tộc thuộc: nghiên cứu 30 mộ ở các cồn sò điệp Quỳnh Văn cho thấy những
nét hỗn chủng Ôt tra lô – Môn gô lô it
So với các cư dân thời tiền sử, cư dân Quỳnh Văn là người có óc thực tế nhất
Công cụ lao động: sử dụng các nguồn đá cuội lớn tại chỗ, thành hình công cụ đơn giản
đập vỏ sò, vỏ ốc.
13
Bên cạnh chế tác đá người Quỳnh Văn còn có nghề làm thủ công gốm rất phát triển mà
đặc trưng là gốm đáy nhọn, rất thực tế với môi trường nhiều cát.
Có 100 mộ táng Cồn Cổ Ngựa gần như không có có sự phân biệt về thân phận, chứng tỏ
cuộc sống của họ còn đơn giản, chỉ là những nhóm người theo chế độ bình quân.
Loại hình Bàu Dũ (Tam Kỳ - Quảng Nam)
Niên đại: cách nay 5030 + 60 năm
Cư dân Cái Bèo tỏa ra khắp vùng Vịnh Hạ Long, nhưng sau do biển tiến họ lui dần lên
cao như đảo Cát Bà, núi đá vôi, các chân núi dọc quốc lộ 18B.
14
Văn hóa Hạ Long
Sau đợt biển tiến kéo dài vài trăm năm, cấu trúc kinh tế xã hội văn hóa của cư dân Cái
Bèo giải thể. Các nhóm cư dân cũ thích ứng vói môi trường sống mới đã trở thành những nhóm
người Hạ Long phân bố trên địa bàn rộng gấp hai lần trước đó của cư dân Cái Bèo.
Di chỉ: Các nhóm Hạ Long sớm có: Thoi Giếng, Thôn Nam, Gò Mừng, Gò Chùa…vùng
phía Bắc vịnh Bái Tử Long.
Các nhóm cư dân Hạ Long muộn: vào khoảng 4700 – 4500 năm trước nước biển rút
xuống, cư dân Hạ Long sớn tiến ra các nơi biển bồi lấp tạo nên các nhóm cư dân Hạ Long
muộn. Di chỉ: hang Bái Tử Long, hang Dơi, ở ngoài trời như Ngọc Vừng, Đồng Mang…
Đời sống: nghề thủ công làm đá, độc đáo nhất có những chiếc rìu bôn có vai có nấc.
Nghề thủ công làm gốm có những biến đổi lớn với các sản phẩm gốm xốp đặc trưng. Nghề
khai thác biển có dấu hiệu sử dụng thuyền mà bằng chứng là đã phát hiện ra nhiều chiếc đục
lớn và dài để đục đẽo các thuyền độc mộc lớn. Ngoài ra có lẽ thời kì này cư dân ở đây cũng
biết trao đổi lương thực, sản phẩm mang tính hàng hóa, làm hiện vật trao đổi có vai trò tiền tệ
là các con ốc xà cừ.
Cư dân Hạ Long đã có những đóng góp to lớn về tri thức đi biển, quan sát trăng sao con
nước lên xuống thủy triều. Nhò có những kiến thức này hệ thống lịch pháp cổ mới có thể hoàn
chỉnh.
Về cấu trúc xã hội: ngay từ cư dân Hạ Long giai đoạn sớm họ đã cư trú tập trung thành
các ngôi làng sơ khai ở khu vực xã Vạn Ninh (Móng Cái). Các ngôi làng này đã đóng vai trò là
những trạm trung chuyển văn hóa từ Đông Á và Đông Nam Á vào khu vực Đồng bằng sông
Hồng.
Về cấu trúc gia đình: hình thức thị tộc đã bước đầu phân hóa cho một loại gia đình sơ
khai mới – dấn đến sự tồn tại cấu trúc kép bao gồm cả gia đình hạt nhân và gia đình thị tộc.
1.1.2.3. Thời đại kim khí và quá trình tan rã của xã hội nguyên thuỷ
Thời đại kim khí: Thuật ngữ khảo cổ học chỉ khái quát giai đoạn phát triển lịch sử sau
thời đại đá khi chưa cần xác định rõ ràng thuộc về thời đại đồ đồng hay thời đại sắt sớm. Trong
Sở dĩ coi cư dân Phùng Nguyên bước vào thời đại kim khí vì trong một số di chỉ đã tìm
thấy gỉ đồng và những mẩu đồng thau nhỏ, là hợp kim của đồng và thiếc, ở Bãi Tự tìm thấy
một mảnh vòng hoặc một đoạn dây kim loại bằng chì.
Các cư dân văn hóa Đồng Đậu
Tên gọi bắt nguồn từ di chỉ Đồng Đậu, thuộc xã Minh Tân huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc.
Địa bàn phân bố các di tích Đồng đậu cơ bản trùng với Phùng Nguyên. Nếu ở Phùng
Nguyên mật độ tập trung lớn hơn ở Phú Thọ thì đến Đồng Đậu, người tiền sử có xu hướng tiến
xa hơn về phía đồng bằng ven biển.
Nơi cư trú: chọn các gò đát bằng phẳng để ở.
Niên đại C14: 3.390 + 70 – 2.650 + 130 năm cách nay thuộc trung kỳ đồng thau.
Hoạt động sản xuất: cư dân Đồng Đậu là những thợ luyện kim thành thạo. giai đọa Phùng
Nguyên chưa phát hiện thấy các sản phẩm đồng thau hoàn chỉnh thì giai đoạn này đã phát hiện
những mũi tên, mũi nhọn bằng đồng.
Tại di chỉ Tiên Hội đã tìm thấy khuôn đúc hai mang. Tại các di chỉ khác giai đoạn này
cũng đã tìm thấy khuôn đúc và nồi rót đồng. Đồ đồng gồm nhiều loại như rìu, giáo, lao, mũi
tên, lưỡi câu, mũi nhọn…có 3 loại rìu đặc trưng là rìu hình chữ nhật, rìu xòe cân và rìu lưỡi lệch.
Đồ đá vẫn được sử dụng nhưng ngoại trừ đồ trang sức đá thì các loại công cụ đã giảm
đáng kể do sự xuất hiện đồ đồng.
Nghề thủ công làm gốm tiếp tục phát triển với nhiều loại hình như bát, chậu, vò bình, các
loại nồi đáy tròn hay đáy bằng. Xuất hiện một số mô tip hoa văn mới như khuông nhạc hay
đường tròn đồng tâm. Riêng hoa văn loại hình đồng tâm có thể là một trong những nguồn gốc
của hoa văn trống đồng Đông Sơn.
16
Nghề thủ công điêu luyện khác là đan lát, trên nhiều mảnh gốm còn để lại những dấu đan.
Cư dân Đồng Đậu là những cư dân làm nông, hậu duệ trực tiếp của người Phùng
Nguyên. Hình thức canh tác có thể là ruộng nước có thể là ruộng khô.
Chăn nuôi đã rất phát triển trong các cộng đồng làm nông Đồng Đậu (phát hiện nhiều
xương răng trâu bò, lợn, gà đã thuần dưỡng)
Săn bắt hái lượm vẫn đóng vai trò quan trọng.
Bộ công cụ vũ khí săn bắt cũng rất phát triển. Họ cũng biết làm tượng dựa vào các con
Bước tiến trong công cụ lao động đã dẫn tới bước tiến trong sản xuất và phân công lao động.
Trong phân công lao động:
17
Về nông nghiệp:
Trong trong trồng trọt: với việc tạo ra lưỡi cày thì nông nghiệp dùng cày đã thay nông
nghiệp dùng cuốc. Họ biết sử dụng trâu bò làm sức kéo trong sản xuất nên diện tích canh tác
được mở rộng. Ngoài trồng lúa họ còn biết trồng màu và cây ăn quả.
Trong chăn nuôi: đánh cá, nuôi con vật thuần hoá làm thức ăn, sức kéo và phân bón.
Vê thủ công nghiệp: tách ra thành một ngành riêng, xuất hiện thợ thủ công chuyên nghiệp.
Về thương nghiệp: trở thành một ngành mới buôn bán cả trong và ngoài nước.
1.2.1.2. Những chuyển biến trong xã hội
Chuyển biến trong kinh tế dẫn tới chuyển biến trong xã hội: công cụ lao động cải tiến-
>năng suất lao động tăng -> kinh tế phát triển sản phẩm dư thừa ->tư hữu xã hội->phân hoá xã
hội giàu nghèo ->tan rã công xã nguyên thuỷ.
Từ thời kì Phùng Nguyên phân hoá xã hội đã xuất hiện, đến Đồng Đậu Gò Mun và nhất
là Đông Sơn thì đã ngày càng rõ nét, xuất hiện các tầng lớp:Quý tộc, dân tự do, nô tì
Chế độ phụ hệ manh nha từ thời kì Phùng Nguyên đến thời kì Đông Sơn chắc chắn đã
được thiết lập.
Kinh tế phát triển cư dân tiến xuống đồng bằng hình thành những xóm làng tụ cư định cư
đông đúc trên cơ sở các công xã nông thôn.
1.2.2. Quá trình hình thành nhà nước Văn Lang
1.2.2.1. Thời gian và địa bàn cư trú
Thời gian: thế kỷ VII TCN. Trải qua 4 giai đoạn:
Phùng Nguyên (ở nửa đầu thiên niên kỷ thứ II TCN – 4000 năm)
Đồng Đậu (ở nửa sau thiên niên kỷ thứ II TCN – 3000 năm)
Gò Mun (ở nửa đầu thiên niên kỷ I đến thế kỉ VII TCN)
Đông Sơn: từ thế kỉ VII TCN đến thế kỉ II SCN.
Địa bàn cư trú:
Tương ứng với vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ của nước ta ngày nay mà chủ yếu sống tập
trung trong các đồng bằng thuộc lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả.
Sự phát triển của kinh tế trên nhiều mặt là cơ sở cho sự mở rộng trao đổi hàng hóa với
nước ngoài: một số trống đồng loại I Hêghơ của nước Văn Lang ở Thái Lan, Malaixia…
* Sự chuyển biến xã hội:
Sự phân hóa giàu nghèo thành nhiều tầng lớp khác nhau: căn cứ vào đồ tuỳ táng chôn
theo các ngôi mộ để người ta đi đến nhận thức về xã hội và mức độ phân hóa thành giàu nghèo.
Ví dụ: Các gia đình nghèo là các gia đình mà trong mộ táng không có hiện vật hoặc có
dưới 5 hiện vật chôn theo.
Dân tự do là trong mộ táng có từ 1-5 hiện vật bằng đồng thau, 1 hiện vật bằng đồ sắt, 1
số công cụ đồ dùng trong gia đình và đồ trang sức.
Giàu có là có nhiều đồ tuỳ táng chôn theo từ 20 hiện vật trở lên bằng đồng, sắt, gốm.
Gắn liền với hiện tượng này là sự ra đời của các nô lệ gia trưởng dẫn tới sự hình thành
các tầng lớp xã hội khác nhau:
Quý tộc (gồm các tộc trưởng, tù trưởng bộ lạc, thủ lĩnh liên minh bộ lạc và những người
giàu có khác)
Nô tì hay còn gọi là “nô lệ vì nợ”
Tầng lớp dân tự do
19
=> Tầng lớp trên của xã hội ngày càng giàu có và nắm giữ các công việc quản lí các công
việc công cộng của chiềng, chạ => như vậy, những tiền đề đầu tiên cho sự hình thành quốc gia
và nhà nước thời Hùng Vương vào giai đoạn cuối Đông Sơn đã xuất hiện.
Sự giải thể của công xã thị tộc và sự ra đời của công xã nông thôn: đây là một bằng
chứng chứng minh sự ra đời của nhà nước. Vì công xã nông thôn gồm làng, xã. Một nhà nước
muốn tồn tại phải có tài chính lấy từ dân thuộc các làng, xã; phải có quân đội lấy từ làng xã =>
làng, xã trở thành cấp hành chính để nhà nước quản lí.
Sự ra đời của gia đình 1 vợ, 1 chồng theo chế độ phụ hệ: là một trong những cơ sở đưa
đến sự ra đời của nhà nước đầu tiên.
* Nhân tố thuỷ lợi
Để khắc phục những trở ngại của thiên nhiên (mưa nguồn, nước lũ, bão tố, hạn hán) đòi
hỏi mọi thành viên không phải chỉ có trong từng công xã mà nhiều công xã phải liên kết với
nhau để tiến hành các công trình tưới tiêu…
Năm 221 TCN, nước Tần tiêu diệt 6 nước kết thúc cục diện “thất hùng” thời chiến quốc,
thống nhất Trung Quốc. Tần Thuỷ Hoàng thiết lập một nhà nước quân chủ trung ương tập
quyền chuyên chế lớn mạnh, tiếp tục mở rộng tham vọng bành trướng lãnh thổ, phát động cuộc
chiến tranh xâm lược ở phía Nam Trung Quốc.
Năm 218 TCN, Tần Thuỷ Hoàng cử 50 vạn quân tiến về phía Nam xâm lược các quốc
gia dân tộc Bách Việt.
Năm 214 TCN quân Tần đánh xuống vùng đất của bộ lạc Tây Âu của Thục Phán (phía
Bắc Văn Lang) và xâm lược lãnh thổ Văn Lang.
=> Trước tình hình đó, nhân dân Lạc Việt và Âu Việt dưới sự lãnh đạo của Thục Phán
tiến hành cuộc chiến tranh kéo dài từ 214 – 208 TCN.
Năm 210 Tần Thuỷ Hoàng chết, Tần Nhị Thế lên thay => mâu thuẫn nội bộ sâu sắc và
suy yếu. Khắp nơi các thế lực nổi dậy, nhân dân Lạc Việt và Âu Việt đẩy mạnh cuộc chiến
tranh buộc quân Tần phải rút khỏi Văn Lang và Âu Việt vào năm 208 TCN. Cuộc kháng chiến
thắng lợi, Thục Phán lên ngôi vua lấy hiệu là Thục An Dương Vương và đặt quốc hiệu là Âu
Lạc.
Âu Lạc ra đời là thành quả chung của nhân dân Lạc Việt và Âu Việt trong cuộc chiến
tranh suốt 6 năm.
1.2.3.2. Cấu trúc bộ máy nhà nước Âu Lạc
Giống nhà nước Văn Lang theo mô hình nhà nước cổ đại chuyên chế phương Đông, đang
nằm trong giai đoạn sơ khai chưa hoàn chỉnh nhưng nhà nước Âu Lạc được tổ chức có qui củ
hơn và đây là nhà nước mạnh hơn.
Nhà nước Âu Lạc đã có quân đội khá hùng mạnh được trang bị vũ khí tốt như: cung, nỏ,
vũ khí bằng đồng khác.
Xây dựng thành trì kiên cố - thành cổ Loa, vừa là kinh đô của nhà nước, vừa là pháo đài,
công trình phòng thủ vững chắc.
1.2.4. Nền văn minh Việt cổ - văn minh sông Hồng
1.2.4.1. Khái niệm văn hóa, văn minh
Văn hóa là tổng hòa các giá trị về vật chất, tinh thần do con người lao động, sáng tạo ra
để phục vụ cho cuộc sống của mình.
Văn minh là khái niệm chỉ một nền văn hóa phát triển ở đỉnh cao, ngang tầm với văn
Nghề chăn nuôi và săn bắt phát triển: gia súc, gia cầm…
Trong tập quán ăn uống của người Việt phải kể đến tục uống rượu và ăn trầu.
- Mặc: do TCN phát triển nên làm ra được nhiều quần áo bằng sợi, vải tơ tằm. Nam thì
đóng khố, nữ mặc váy (Khố của nam giới có loại quấn đơn và loại quấn kép, váy của nữ giới
có loại váy quần và loại váy chui được làm từ 1 mảnh vải dài, rộng). Đầu tóc, có 4 kiểu: cắt
ngắn, búi tó, tết bím và cuốn tóc ngược lên đỉnh đầu.
- Ở: Thời kỳ Đông Sơn chủ yếu làm nhà sàn để ở, có nhiều kiểu dáng khác nhau: mái
cong, buông hai mái gần sát đất, mái tròn có 4-6 cột phủ 4 phía trên mái.
* Đời sống tinh thần:
Cư dân Việt cổ thích sử dụng đồ trang sức để làm duyên, làm đẹp. Nguyên liệu làm trang
sức là: đồng, xương, vỏ ốc, vỏ sò… và sử dụng các phẩm màu gọi chung là thổ hoàng.Tập
quán thích dùng trống đồng, nhạc khí bằng đồng trong nghi lễ, hội hè
22
Trình độ tư duy khoa khá phát triển thể hiện ở trình độ luyện kim, làm hoa văn trên gốm,
hình được khắc trên trống đồng, thạp đồng…
Tôn giáo: bên cạnh sử dụng tín ngưỡng tôtem giáo – tôn giáo nguyên thủy còn có tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên, anh hùng dân tộc.
Sử dụng tổng hợp và hài hòa các loại nhạc khí trong lễ hội hàng năm, kết hợp bộ hơi và bộ
gõ.
1.2.4.4. Đặc điểm, ý nghĩa
Phán ánh tính bản địa của nền văn hóa Đông Sơn
Văn minh sông Hồng hình thành và phát triển trên cơ sở của nghề luyện kim, nghề đúc
đồng đạt đến mức hoàn thiện, đỉnh cao, bước vào buổi đầu của nghề luyện sắt. Đây là kết quả
nội tại của sự phát triển kinh tế xã hội của người Việt cổ
Văn minh sông Hồng thực chất là văn minh nông nghiệp trồng lúa nước được in đậm trên
các mặt văn hóa, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghi lễ đương thời…
Văn minh sông Hồng là nền văn minh bản địa, hình thành trải qua một quá trình lâu dài
từ văn hóa Phùng Nguyên đến văn hóa Đông Sơn
Tính thống nhất trong đa dạng, kết tinh trong đó bản sắc dân tộc của người Việt cổ, ý
thức cốt lõi là độc lập tự chủ và yêu nước.
Nhà Tây Hán chia quận Âu Lạc thành ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và sáu
quận nhà Hán => thành lập bộ Giao Chỉ, âm mưu biến Âu Lạc thành một bộ phận của nhà Hán
ngày càng rõ: không giữ nguyên quận huyện như trước mà cắt xén, nhập vào các vùng đất của
Trung Quốc.
Đứng đầu Giao Chỉ là một viên Thứ sử
Đứng đầu quận là Thái thú (võ quan) trông coi hành chính, chính quyền, thuế.
Giúp việc cho Thái thú là đô uý phụ trách quân sự.
Ở cấp huyện vẫn giữ chế độ Lạc tướng trực tiếp cai trị gọi là huyện lệnh.
Đông Hán (25 – 210 TCN)
Tổ chức chính quyền đô hộ ở Âu Lạc cũ có một số thay đổi: thứ sử được tăng cường
trách nhiệm. Nhà Hán qui định trách nhiệm thứ sử không được về nước kể cả khi có tang cha
mẹ.
Giúp việc cho thứ sử có một cả một bộ máy cai trị đông đảo. Đứng đầu quận là Thái thú.
Giúp việc cho Thái thú là quận thừa, có thêm chức Trưởng sử. Dưới trưởng sử có 1 viên quan
phụ trách quân đội (đô uý).
24
Sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nhà Hán thấy rằng không thể dùng chính sách dung dưỡng
để cai trị nên chuyển sang chính sách trực trị.
* Từ Ngô đến triều Lương (210-542)
Năm 264, nhà Ngô cắt 3 quận Nam Hải, Thương Ngô và Uất Lâm đặt làm Quẳng Châu,
còn “Giao Chỉ,Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố là Giao Châu,châu lị ở Long Biên. Việc chia
ra Giao Châu và Quảng Châu bắt đầu từ đấy”. Từ thời điểm này trở đi trong các chính sách
thống trị của Trung Quốc Giao Châu và Quảng Châu hoàn toàn tách biệt nhau.
Năm 280, Tấn diệt Ngô tạm thời thống nhất Trung Quốc. Quan Mục của nhà Ngô ở Giao
Châu là Đào Hoàng đầu hàng nhà Tấn. Vua Tấn cho Đào Hoàng giữ chức cũ. Khu vực nước ta
chuyển sang ách đô hộ của nhà Tấn kéo dài cho đến đầu thế kỉ V. Trung Quốc hình thành cục
diện “Nam- Bắc triều”, trong đó Giao Châu phụ thuộc một cách lỏng lẻo vào các thế lực phong
kiến Nam triều: Tống ( 420 - 49), Tề (479 - 502), Lương ( 502-557), Trần(557-589).
Chế độ lạc tướng và các truyền thống tập quán cổ truyền của người Việt chính thức bị bãi
bỏ. Chế độ quận huyện với các quy định chặt chẽ về luật pháp, lối sống, văn hóa, phong tục đã
hộ của tập đoàn địa chủ Hoa Bắc lật đổ nhà Tùy, lập ra nhà Đường, kết thúc cục diện cát cứ,
mở ra một thời kỳ phát triển huy hoàng của lịch sử, văn hóa Trung Hoa. Khu vực Giao Chỉ
cuyển sang ách đô hộ của nhà Đường.
Nhà Đường bãi bỏ các quận do nhà Tùy lập ra và khôi phục lại các Châu nhỏ thời Nam
triều, đặt ra Giao Châu Đại tổng quản phủ để lãnh. Thái thú Khâu Hòa là Giao Châu đại tổng
quản đầu tiên của nhà Đường. Năm 622, nhà Đường, Đường Cao Tông chia đất Giao Châu làm
12 Châu và gọi Giao Châu đô hộ phủ thành An Nam đô hộ phủ, đứng đầu các châu là Thứ sử.
Trong An Nam đô hộ phủ, Nhà Đường đã tìm đủ mọi cách để mở rộng hệ thống cai trị
xuống tận cấp cơ sở. Ngay từ đầu thời kì mới xác lập chế độ thống trị Khâu Hòa với tư cách là
Giao Châu đại tổng quản của nhà Đường đã đề ra chính sách khuôn làng Việt vào mô hình
thống trị của Trung Quốc
An Nam đô hộ phủ lúc đầu phụ thuộc trực tiếp vào chính quyền trung ương của nhà
Đường, có quyền hạn rất lớn. Vào thế kỉ VIII, An Nam đô hộ phủ thuộc vào tiết độ sứ Lĩnh Nam
ở Quảng Châu, nhưng đến khoảng thế kỉ thứ IX, An Nam đô hộ phủ lại có tiết độ sứ riêng…
2.1.1.2. Chính sách đồng hóa dân tộc (Hán hóa Việt tộc)
Để thủ tiêu ý thức dân tộc của người Việt, để người Việt không còn tinh thần đấu tranh,
cam tâm làm nô lệ, các triều đại phong kiến phương Bắc từ Hán cho đến Đường đều thi hành
những chính sách đồng hóa về mục tiêu và bản chất là nhất quán.
Kinh tế:
Cướp ruộng đất chuyển cho quan lại người Hán
Bóc lột về tô thuế lao dịch: tô, dung, điệu, lưỡng thuế.
Nắm độc quyền một số hàng hóa
Cống nạp những đặc sản
Bắt thợ giỏi sang Trung Quốc làm cho nghề thủ công truyền thống của chúng ta mai một
đi.
Chính trị - xã hội
Các triều đại phong kiến phương Bắc đã áp đặt mô hình tổ chức chính trị và sinh hoạt xã
hội của người Hán lên đất nước Âu Lạc cũ để nhằm tạo nên ở Âu Lạc một cơ cấu xã hội, một
thể chế chính trị, một phong tục tập quán giống cư dân ở Trung Quốc.
Biểu hiện