BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
PHẠM THỊ LOAN
NHÂN VẬT TUỔI TRẺ
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI
THỜI ĐỔI MỚI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực,
không trùng hợp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan mọi sự giúp đỡ
cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn
trong luận văn đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Tác giả Luận văn Phạm Thị Loan MC LC
M U 1
1. Lý do chn ti 1
2. Mc ớch nghiờn cu 6
3. Nhim v nghiờn cu 6
4. i tng v phm vi nghiờn cu 7
5. Phng phỏp nghiờn cu 7
6. D kin úng gúp ca lun vn 7
7. Cu trỳc ni dung ca lun vn 8
NI DUNG 9
CHNG 1. QUAN NIM NGH THUT V CON NGI V TH
GII NHN VT TUI TR TRONG TIU THUYT CA NGUYN
KHI THI I MI 9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nguyễn Khải là một tác gia tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam
hiện đại sau 1945. Bám sát từng bƣớc đi của đời sống với ý thức là "người thư
ký trung thành của thời đại”, ngòi bút hiện thực đặc sắc Nguyễn Khải đã
mang đến cho ngƣời đọc những trang văn vừa nồng đậm hơi thở cuộc sống
vừa nặng trĩu suy tƣ, trách nhiệm trƣớc bao vấn đề cơ bản của đất nƣớc và
con ngƣời. Mỗi tác phẩm của ông là một cách lý giải bằng nghệ thuật một vấn
đề xã hội nhất định, một phát hiện những khía cạnh của con ngƣời thời đại.
Khám phá về con ngƣời là nét hết sức độc đáo trong sự tìm tòi của Nguyễn
Khải thời kỳ đổi mới. So với những nhà văn cùng thời nhƣ Nguyễn Minh
Châu, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng v.v… Nguyễn Khải nổi lên với một
phong cách sáng tác độc đáo, góp phần mở ra khuynh hƣớng văn xuôi chính
luận, triết luận trong văn học Việt Nam đƣơng đại.
Nguyễn Khải thuộc thế hệ những nhà văn cách mạng trƣởng thành từ
cuộc kháng chiến chống Pháp. Là ngƣời chiến sĩ cầm bút, Nguyễn Khải suốt
đời gắn bó với sự nghiệp của Đảng, của dân tộc không bao giờ đi chệch
hƣớng mà ông đã chọn đó là đi theo con đƣờng cách mạng. Cuộc cách mạng
giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa đã tạo nên sự nghiệp, nuôi
dƣỡng tài năng và phong cách của nhà văn.
Có thể nói Nguyễn Khải là một nhà văn tài năng, ông thƣờng có mặt ở
vị trí hàng đầu của đời sống văn học. Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại:
tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, bút ký, kịch, tản văn…, và dƣờng nhƣ ở
thể loại nào ông cũng đƣợc đông đảo bạn đọc hào hứng đón nhận.
Ông là nhà văn đã bƣớc vào trái tim độc giả và ở lại bằng những tác
phẩm đề cập đến nhiều vấn đề đƣợc xã hội quan tâm trong cuộc sống hôm
2
tƣởng tƣợng. Nhân vật của Nguyễn Khải không bị lý tƣởng hoá đồng thời
cũng không bị bôi nhọ quá đáng. Nhận xét này của Đoàn Trọng Huy đã khái
quát đƣợc đặc điểm cơ bản nhất làm nên thế giới nhân vật Nguyễn Khải.
Quan điểm của tác giả Bích Thu trong một bài viết nghiên cứu về
truyện ngắn Nguyễn Khải ở góc độ thi pháp [72, tr.123] cũng đồng nhất với
một số nhà nghiên cứu khác ở chỗ cho rằng Nguyễn Khải không chủ trƣơng
xây dựng tính cách, hình tƣợng khách quan của nhân vật. Trong khi đi khắc
hoạ tính cách nhân vật ông thƣờng thiên về xây dựng ý kiến của nhân vật về
bản thân và về thế giới.
Tác giả Nguyễn Thị Bình, trong nhiều công trình nghiên cứu về
Nguyễn Khải cũng đã đƣa ra những nhận xét rất lý thú và sâu sắc về đặc điểm
nhân vật trong sáng tác Nguyễn Khải. Chẳng hạn nhƣ Nguyễn Khải thƣờng
gửi gắm trong các nhân vật yêu quý của ông những phát ngôn về niềm khát
vọng khôn cùng và những lý tƣởng cao cả. Các nhân vật trong tác phẩm
Nguyễn Khải ở giai đoạn sáng tác trƣớc 1975 nhìn chung không phải loại đơn
giản hay phiến diện nhƣng phải đến giai đoạn sau này, ông mới dành toàn bộ
sự chú ý vào con ngƣời, lấy việc khám phá con ngƣời làm mục đích trung
tâm. Nguyễn Thị Bình cũng khẳng định trí tuệ là phẩm chất hàng đầu của các
nhân vật tâm đắc của Nguyễn Khải.
Đọc bài viết Cảm nhận về con người trong sáng tác của Nguyễn Khải
những năm gần đây của Nguyễn Thị Huệ đăng trên tạp chí Diễn đàn văn nghệ
Việt Nam, tháng 10/1999, ta thấy tác giả bài viết đã có những tìm tòi phát hiện
đáng giá về sự thể hiện con ngƣời trong sáng tác Nguyễn Khải. Theo nhà
nghiên cứu Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Khải đã miêu tả, khám phá con ngƣời
trong mối quan hệ với thời gian, nhìn con ngƣời trong tƣơng quan với sự
nghiệp, nghiên cứu con ngƣời trong mối quan hệ giữa các thế hệ lịch sử. Đây
4
là một hƣớng đào sâu, một cách tiếp cận mới của Nguyễn Khải. Đặc biệt, do
sự chuyển hƣớng của quan niệm nghệ thuật về con ngƣời nên trong các sáng
sống, Nguyễn Khải đã xây dựng nên một thế giới nhân vật đa sắc, đa thanh,
lấp lánh cát bụi phận người. Thời gian của đời Nguyễn Mạnh Khải đã khép
lại nhưng thế giới nhân vật của nhà văn Nguyễn Khải còn đấy, đồng hành với
chúng ta trong cái hôm nay” [45, tr.211].
Dù ở vào những thời điểm khác nhau và xuất phát ở những góc độ
không giống nhau nhƣng nhìn chung các học giả đều gặp nhau trong cách
đánh giá chung khái quát. Đó là, Nguyễn khải là nhà văn có nhiều đóng góp
cho văn học đƣơng đại. Tác phẩm của ông phản ánh một cách kịp thời, sâu
sắc hiện thực lịch sử cũng nhƣ đời sống tinh thần của con ngƣời thời đại. Văn
của ông luôn hấp dẫn, mới mẻ, độc đáo. Các tác phẩm của ông không chỉ
đánh dấu những bƣớc đi của đời sống hiện thực mà còn của cả những tìm tòi
trăn trở của nhà văn trên con đƣờng sáng tạo.
Nguyễn Khải là nhà văn của thời sự, của tâm lý nhân vật, ông đã tạo
dựng nhiều loại nhân vật của nhiều thời khắc. Thế giới nhân vật Nguyễn Khải
rất phong phú, đa dạng phản ánh quan niệm nghệ thuật về con ngƣời của nhà
văn qua từng giai đoạn sáng tác. Thời kì đất nƣớc tiến hành đổi mới từ năm
1986, đặc biệt là sự xất hiện của nền kinh tế thị trƣờng kéo theo nhiều sự thay
đổi về các quan hệ xã hội và ngay cả trong quan niệm về cuộc sống của con
ngƣời Nguyễn Khải có dịp đến với nhiều miền đất lạ ở Miền Nam sau giải
phóng. Thời thế đem đến cho ông những cách nhìn mới lạ, nhƣ là sự tự phát
hiện lại mình. Ông viết: “Vẫn đất nước mình mà thêm một bước đi là một
bước lạ. Vẫn là con người Việt Nam mình mà gặp thêm một người lại tưởng
như buộc mình phải hiểu lại chút ít về con người”.[41, tr.206]
6
Ông đã cho ra đời các tác phẩm: Gặp gỡ cuối năm(1982);Thời gian của
người(1985); Điều tra về một cái chết (1986); Vòng sóng đến vô cùng (1987);
Một cõi nhân gian bé tí (1989), Thượng đế thì cười (2003) chứa đựng nhiều
suy nghĩ về con ngƣời, kiếp nhân sinh và thời cuộc.
Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu đi trƣớc,
Nguyễn Khải: Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người, Điều tra về một cái
chết, Vòng sóng đến vô cùng, Một cõi nhân gian bé tí, Thượng đế thì cười.
Trong trƣờng hợp cần thiết luận văn cũng sử dụng các sáng tác khác của nhà
văn và các nhà văn cùng thời để so sánh làm rõ các luận điểm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lí luận
về đối tƣợng của văn học; về nghệ thuật xây dựng hình tƣợng nhân vật tuổi
trẻ trong tiểu thuyết. Đặc biệt luận văn khảo sát các tiểu thuyết: Gặp gỡ cuối
năm(1982), Thời gian của người( 1985), Điều tra về một cái chết (1986);
Vòng sóng đến vô cùng (1987); Một cõi nhân gian bé tí (1989),Thượng đế thì
cười( 2003) cùng một số sáng tác khác của nhà văn khi cần thiết.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để có thể tìm hiểu nhân vật tuổi trong tiểu thuyết của Nguyễn Khải và
nghệ thuật xây dựng nhân vật của ông, chúng tôi vận dụng kết hợp các
phƣơng pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
Phƣơng pháp nghiên cứu tác phẩm văn học.
Phƣơng pháp phân tích, đối chiếu – so sánh
Phƣơng pháp phân tích theo hƣớng thi pháp học, tự sự học.
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
Khảo sát hình tƣợng nhân vật tuổi trẻ trong tiểu thuyết của Nguyễn
Khải và các yếu tố nghệ thuật có liên quan, luận văn hƣớng tới làm rõ nét
những khám phá của nhà văn về tâm hồn con ngƣời, nét đặc sắc trong bút
8
pháp xây dựng hình tƣợng nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Khải. Từ đó
góp phần khẳng định tài năng và đóng góp to lớn của ông cho nền văn học
nƣớc nhà.
7. Cấu trúc nội dung của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung chính của luận văn gồm ba chƣơng:
nó là cái đích đi tới của văn học. Viết về con ngƣời những tiểu vũ trụ tiềm ẩn
biết bao điều bí mật, để hiểu tận đáy sâu tâm hồn con ngƣời là một thách thức
đối với ngƣời cầm bút.
Thi pháp học hiện đại cho rằng quan niệm nghệ thuật về con ngƣời là
sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con ngƣời đã đƣợc hóa thân thành các
nguyên tắc, phƣơng tiện, biện pháp hình thức thể hiện con ngƣời trong văn
học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tƣợng nhân vật. “Văn
học là nhân học” (M.Gorki). Văn học lấy con ngƣời làm đối tƣợng phản ánh,
nghiên cứu chủ yếu. Mục tiêu của văn học là khám phá thể hiện con ngƣời với
thế giới bên trong của nó. Lịch sử văn học là lịch sử khám phá tâm hồn con
ngƣời và sự khám phá ấy là không có giới hạn.
Trong Từ điển thuật ngữ Văn học, nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng để tái hiện cuộc sống con ngƣời, nhà văn
10
phải hiểu cách họ giao tiếp với nhau, với thế giới và với bản thân, hiểu cách
họ sống, hành động, suy nghĩ, điều họ quan tâm và không quan tâm trong
cuộc đời. Tổng hợp tất cả mọi điều đó tạo nên mô hình nghệ thuật về thế giới
và con ngƣời mà từ đó tác giả khắc họa hình tƣợng của những con ngƣời và
số phận cụ thể, tổ chức quan hệ của các nhân vật, giải quyết xung đột, xây
dựng kết cấu tác phẩm. “Quan niệm nghệ thuật thể hiện cái giới hạn tối đa
trong cách hiểu thế giới và con người của một hệ thống nghệ thuật, thể hiện
khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó” [17,tr.274].
Tầm vóc của một nền văn học thể hiện ở cách đặt vấn đề về con ngƣời.
Nghệ thuật cổ đại Hy Lạp, nghệ thuật Phục Hƣng, nghệ thuật của chủ nghĩa
lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực cho ta thấy rõ điều đó. Con ngƣời trong văn
học thực chất là sự cắt nghĩa và quan niệm về con ngƣời đƣợc thể hiện bằng
hình tƣợng nghệ thuật, trong các bình diện con ngƣời đƣợc miêu tả, trong
tƣơng quan với không gian, thời gian và trong các nguyên tắc miêu tả tính
cách, tâm lí Ngƣời ta gọi đó là quan niệm nghệ thuật về con ngƣời. Các
quan niệm nghệ thuật khác nhau về con ngƣời. Trong quá khứ, sáng tác của
những nhà văn lớn nhƣ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hƣơng, Đoàn Thị Điểm đã
góp phần đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngƣời trong giai đoạn trƣớc
đó. Các nhân vật Thúy Kiều, ngƣời chinh phụ, ngƣời phụ nữ “cố đấm ăn xôi,
xôi lại hẩm” thơ (Hồ Xuân Hƣơng) thể hiện quan niệm về con ngƣời tự nhiên,
luôn luôn khao khát hạnh phúc đời thƣờng.
Đối với mỗi nhà văn, sự biến đổi trong quan niệm nghệ thuật về con
ngƣời sẽ ảnh hƣởng tới tƣ tƣởng sáng tác và phong cách sáng tác của họ, đặc
biệt là thể hiện rất rõ trong các kiểu nhân vật mà họ miêu tả. Điều này đƣợc
bộc lộ ở một số tác giả của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới nhƣ Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Tô Hoài
12
Nguyên nhân dẫn tới sự vận động trong quan niệm nghệ thuật về con
ngƣời của văn học nói chung, của nhà văn nói riêng là do tác động của các yếu
tố nhƣ thời đại, đặc tính của nền văn học đƣơng thời và cá tính sáng tạo của
nhà văn. Cũng cần thấy rằng quan niệm về con ngƣời là cốt lõi tƣ tƣởng của
một nhà văn, “là thước đo sự tiến bộ nghệ thuật từ xưa tới nay” [60]. Văn học
cần đi sâu vào khám phá con ngƣời thì càng thể hiện tầm nhân văn cao cả.
Quan niệm về con ngƣời trong các tác phẩm đều đƣợc các nhà văn gửi
gắm vào nhân vật. Thế giới nhân vật là nơi để các tác giả làm nổi bật chủ để
tác phẩm. Suy cho cùng, qua nhân vật văn học nhà văn muốn truyền tải tƣ
tƣởng của chính mình. Vì vậy nói tới con ngƣời là nói tới nhân vật và ngƣợc
lại, dù các nhà văn có biến tấu nhân vật của mình ra thành cỏ cây, hoa lá, đồ
vật hay con vật thì mục đích cuối cùng đều hƣớng tới cuộc sống của con
ngƣời mà thôi.
Nhân vật văn học rất đa dạng, cụ thể là con ngƣời nhƣng cũng cú thể là
những sự vật, loài vật mang búng dỏng, tớnh cỏch con ngƣời. Nhõn vật văn
học là đối tƣợng cụ thể đƣợc tác giả miêu tả trong tác phẩm văn học nhằm
phản ánh hiện thực cuộc sống bằng nghệ thuật ngôn từ. Theo quan niệm của
rằng: Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những
bản dập của những con người sống, mà là những hình tượng được khắc họa
phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả [64, tr.18].
Trong tác phẩm văn học, nhân vật là phƣơng tiện tất yếu quan trọng để
thể hiện tƣ tƣởng (đặc biệt là các tác phẩm tự sự và kịch). Nhân vật là phƣơng
diện có tính thứ nhất trong hình thức của các tác phẩm văn học, có vai trò
quyết định phần lớn đối với cốt truyện, chi tiết, sự lựa chọn phƣơng tiện ngôn
ngữ biểu đạt và thậm chí có thể cả kết cấu của tác phẩm.
14
Trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn chƣơng, nhân vật văn học
là hiện tƣợng hết sức đa dạng, là yếu tố phong phú, biến hóa vô cùng vô tận.
Khả năng sáng tạo nhân vật rất dồi dào, đòi hỏi nhiều công phu của ngƣời
viết. Tên tuổi của nhà văn gắn với tác phẩm chủ yếu là thông qua nhân vật.
Sức sống của nhân vật, giá trị điển hình của nhân vật thể hiện rõ tài năng sáng
tạo nghệ thuật và bản lĩnh ngƣời nghệ sĩ. “Những nhân vật thành công thường
là kết quả một sự hiểu biết sâu sắc về con người, một sự phát hiện độc đáo
những vấn đề quan trọng, mới mẻ của cuộc sống, của thời đại” [19, tr.122].
Những nhân vật thành công của các nhà văn lớn thƣờng là những sáng
tạo độc đáo không lặp lại. Tuy nhiên xét về mặt nội dung, cấu trúc, chức
năng, nhân vật có thể chia thành nhiều loại. Để chiếm lĩnh thế giới nhân vật
văn học đa dạng, cần tìm hiểu phƣơng diện loại hình của chúng.
Lý luận văn học căn cứ vào một số tiêu chí nhất định để phân loại các
kiểu nhân vật văn học nhƣ sau:
Căn cứ vào phƣơng pháp sáng tác có nhân vật cổ điển, nhân vật lãng
mạn và nhân vật hiện thực.
Căn cứ vào chức năng nghệ thuật có loại nhân vật chính, nhân vật phụ,
nhân vật trung tâm, nhân vật chính diện và nhân vật phản diện.
Căn cứ vào thể loại văn học có nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình, nhân
vật kịch.
của đời thƣờng, đứng trƣớc sự lựa chọn để thích ứng, con ngƣời của niềm tin.
Nếu nhƣ ở giai đoạn trƣớc, các nhân vật của Nguyễn Khải về một mặt
nào đó có phần đơn giản, thiếu một chiều sâu tâm lý, tính cách thì đến giai
đoạn này nhà văn đã chú ý hơn tới việc xây dựng những chân dung nhân vật là
những con ngƣời phức tạp, nhiều chiều, “con người không nhất quán với mình”
[7, tr.73]. Ông viết: “Các thế giới tinh thần của con người là vô cùng phức tạp
vì sự vận động của nó luôn luôn nhắm tới cái thật cao và thật xa” [7, tr.72].
16
Lép Tônxtôi - bậc thầy của “phép biện chứng tâm hồn” đã viết: “con
người như những dòng sông: nước trong mọi con sông như nhau và ở đâu cũng
thế cả, nhưng mỗi con sông khi thì hẹp, khi thì chảy xiết, khi thì rộng, khi thì êm
đềm, khi thì trong veo, khi thì lạnh, khi thì đục, khi thì ấm. Con người cũng như
vậy. Mỗi người mang trong mình những mầm mống của mọi tính chất của con
người và khi thì thể hiện những tính chất khác và thường là hoàn toàn không
giống bản thân mình tuy vẫn cứ chỉ là chính mình” [15, tr.129]. Triết lí của
Nguyễn Khải về con ngƣời cũng với tinh thần nhƣ vậy: “Vẫn là con người
Việt Nam mình mà gặp thêm một người lại tuồng như buộc mình phải hiểu lại
chút ít về con người” [41, tr.206].
Bên cạnh việc miêu tả con ngƣời phức tạp nhiều chiều, sáng tác của
Nguyễn Khải sau 1986 cũng chú ý khám phá chiều sâu bí ẩn của tâm hồn con
ngƣời. Nếu nhƣ trƣớc đây những nhân vật nhƣ Nam, Biền tạo ấn tƣợng cho
ngƣời đọc về “con người có thể biết trước”, nhất quán về tƣ tƣởng và tính
cách đại diện cho một kiểu ý thức chính trị xã hội phù hợp qui luật lịch sử thì
tới giai đoạn này các nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Khải là những “tiểu
vũ trụ” đầy bí ẩn, không thể biết trƣớc, biết hết tƣờng tận một cách chủ quan
duy ý chí. Nguyễn Khải quan niệm: “nếu mọi sự đều có lí, đều có thể hiểu
được thì làm gì còn văn chương ?” (Nhóm bạn thời kháng chiến). Có lẽ chính
vì nhận định nhƣ vậy mà Nguyễn Khải khẳng định văn chƣơng là “khoa học
về lòng người”.
Định, ông Mọn (Một cõi nhân gian bé tí) hƣớng vào mối quan hệ giữa con
ngƣời với con ngƣời và thời thế. Bằng cách xâu chuỗi nhiều số phận cá nhân
với những cách lựa chọn khác nhau nhằm đem đến cho ngƣời đọc một kết
luận bổ ích có thể lựa chọn cho mình một cách sống với thời đại.
18
Đó là con ngƣời trong mối quan hệ với thời gian lịch sử và thời gian
của đời ngƣời. Trong Vòng sóng đến vô cùng với lối tƣ duy nghệ thuật mang
tính triết luận, Nguyễn Khải đã khám phá, phát hiện sự vận động của những
con ngƣời ấy với vai trò chủ động tích cực, cống hiến cho Tổ quốc. Cũng
trong cuốn tiểu thuyết này, bằng cách nhìn của con ngƣời trong tƣơng quan
với thời gian nằm bên trong mỗi con ngƣời, Nguyễn Khải đã đặt ra một vấn
đề hết sức sâu sắc về sự tồn tại của con ngƣời không chỉ ở thời của họ mà khi
biết sống hết lòng cho thời của mình, họ đã vƣợt qua giới hạn hữu hạn của
thời gian vật chất vƣơn tới tƣơng lai.
Đó là con ngƣời trong mối quan hệ giữa các thế hệ. Soi chiếu con
ngƣời trong mối quan hệ gia đình, Nguyễn Khải chú ý làm nổi bật vấn đề mâu
thuẫn và tiếp nối giữa các thế hệ. Thế hệ trẻ hôm nay “đã là của một thế giới
khác với những đơn vị đo lường khác”. Họ “có những quan tâm khác, những
mục tiêu chiến đấu khác, những mối quan hệ khác” [69, tr.163]. Qua cái nhìn
của Nguyễn Khải, lớp trẻ có nhiều thế mạnh, sớm thích ứng với thời cuộc, lựa
chọn dứt khoát, tự tin vào bản lĩnh của mình, có vai trò thúc đẩy sự phát triển
của xã hội. Trong những góc nhìn biến động nhiều chiều về cuộc sống hôm
nay, sự ngăn cách, mâu thuẫn giữa các thế hệ lớn hơn trƣớc đây rất nhiều.
Chẳng hạn, trong Vòng sóng đến vô cùng hãy nghe cuộc đối thoại giữa
một nhà báo - con ngƣời của ngày hôm qua và một chàng trai trẻ - con ngƣời
của ngày hôm nay. Nhà báo tranh luận với Giang về cách sống còn Giang
tranh luận với nhà báo về quan niệm:
“Giang bỗng ngồi bật dậy, hai cánh tay lực lưỡng của anh ôm vòng lấy
gối, nhìn thẳng vào tôi mà tra vấn:
thì lấy sự thật cuộc sống với cái hiện tại, cấp cho nó ý nghĩa quan trọng nhất
trong thế giới nghệ thuật của mình.
20
Lý gii v s cỏch bit v mõu thun gia cỏc th h lch s m Nguyn
Khi t ra trong cỏc sỏng tỏc ca mỡnh, chỳng tụi cho rng ú l do s thay
i quan nim ngh thut v con ngi ca tỏc gi. Trong cỏi nhỡn ca
Nguyn Khi, h l hai th h m mt thỡ yờn tõm tin tng vo tng lai
bit trc, n mỡnh trong cỏi chung ca cng ng, cũn mt li khỏt khao
kho vn, hng ti giỏ tr ớch thc ca cỏ nhõn [69, tr.145].
Túm li, quan nim ngh thut v con ngi trong sỏng tỏc ca Nguyn
Khi mt mt theo xu th chung ca thi i v ca bn thõn nn vn hc,
mt khỏc trờn c s bn lnh ngh thut v cỏ tớnh sỏng to ca nh vn ó cú
nhng bin i vn ng theo hng khỏm phỏ, nghiờn cu con ngi cỏ
nhõn ci b b ỏo xó hi, tr v vi chớnh mỡnh nh nú vn cú [20, tr.33],
con ngi c soi chiu nhiu chiu, phc tp, bớ n, mang m trit lớ
nhõn sinh.
1.3. Thế giới nhân vật trong sáng tác Nguyễn Khải.
Mi nh vn to ra mt th gii nhõn vt riờng, khụng ging nhau,
khụng lp li.Thế giới nhân vật của nhà văn s thể hiện quan niệm nghệ thuật
về con ng-ời, phong cách sáng tác hoặc cũng có thể qua đó ng-ời ta có thể
liên hệ tới những khía cạnh đời t- của nhà văn. Kiểu nh- nhân vật trong truyn
ngn Hai a tr ca Thch Lam. Nhng nhõn vt nh m con ch Tý, bỏc
ph Siờu, bỏc Xm Hoc An, Liờn õy l nhng nhõn vt tiờu biu trong
sỏng tỏc ca Thch Lam. Nhng nhõn vt ny u cú im chung nhiu khi
khụng tờn, khụng tui, khụng ngh nghip, khụng a v xó hi nhng h
u khỏt khao mt s i thay trong cuc sng khn khú ca h. Trong sỏng
tỏc ca Nam Cao có kiểu nhân vật nhà giáo (Thứ - Sống mòn), trí thức (Điền -
Trăng sáng, Hộ - Đời thừa, Độ - Đôi mắt), (ụng giỏo trong Lóo Hc), phần
nào có bóng dáng của cuộc đời nhà văn trong đó. Nguyễn Khải có nhân vật