CÁC CHỈ số ĐÁNH GIÁ TÍNH dễ bị tổn THƯƠNG và PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN - Pdf 30


Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu lần thứ XVI

Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường 203

CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN
Cấn Thu Văn
(1)
, Nguyễn Thanh Sơn
(2)

1
Khoa KTTV-TNN, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM
2
Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
ĐHQGHN

Thiên tai lũ lụt ngày càng trở nên khó lường cả về tần suất, độ lớn và độ biến động.
Thực tế trên phạm vi cả nước, thiên tai lũ lụt đã gây ra những thiệt hại to lớn cả về người và
của. Các phương pháp dự báo, đánh giá, quản lý lũ…nhằm mục đích giảm thiểu thiệt hại do
lũ lụt gây ra đã được quan tâm nghiên cứu. Trong đó vấn đề đánh giá mức độ dễ bị tổn
thương do lũ lụt đối với từng địa phương cụ thể, xét đến các yếu tố kinh tế - xã hội, khả năng
chống chịu và môi trường đang là vấn đề thời sự, bổ sung một công cụ hỗ trợ cho việc ra
quyết định nhằm giảm thiểu tác hại do lũ lụt ở địa phương.
Từ khóa: Dễ bị tổn thương, thiên tai lũ lụt.

1. Khái niệm tính dễ bị tổn thương
Cách hiểu về tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi trong 20 năm gần đây.
Đã có nhiều nghiên cứu nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá tính dễ bị
tổn thương. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương

động của thiên tai theo chiều hướng đánh giá tổn thương kinh tế xã hội tăng lên. Khái
niệm về tính dễ bị tổn thương đã dần thể hiện một cái nhìn toàn diện, liên quan đến các
lĩnh vực tự nhiên và kinh tế xã hội trong hệ thống.
Những nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương được sử dụng để biểu thị mức độ
thiệt hại của một khu vực có khả năng sẽ xảy ra bởi tác động của các yếu tố trong lĩnh
vực biến đổi khí hậu (BĐKH). Một vài định nghĩa tính dễ bị tổn thương đang tồn tại
như sau: Chamber (1983) coi tính dễ bị tổn thương có 2 mặt: mặt ngoài là rủi ro, cú
sốc mà cá nhân hoặc hộ gia đình là chủ thể của BĐKH phải hứng chịu và mặt trong là
khả năng tự vệ, đối phó để giảm thiệt hại; Blaikie và cộng sự (1994) định nghĩa tính dễ
bị tổn thương là các đặc trưng của con người hoặc một nhóm người có năng lực để dự
báo, ứng phó, chống lại và phục hồi từ những tác động của BĐKH và những vùng dễ
bị tổn thương được xem xét một cách liên tục cả khả năng tự phục hồi đến mức độ
nhạy cảm. Theo Adger (2002) tính dễ bị tổn thương là mức độ một hệ thống tự nhiên
hoặc xã hội dễ bị thiệt hại do ảnh hưởng của BĐKH. Hậu quả là một hiểm họa có thể
gây hại cho con người ở khía cạnh tổn thương xã hội và những rủi ro mà các hiện
tượng này có thể xảy ra được gọi là độ phơi nhiễm (mức độ tiếp xúc). Theo Watson và
cộng sự (1996) tính dễ bị tổn thương được định nghĩa là mức độ tác động của BĐKH
gây thiệt hại cho hệ thống, theo đó không chỉ có tính nhạy cảm của hệ thống mà còn
khả năng đối phó với các điều kiện khác. Kasperson và cộng sự (2000) cho rằng tính
dễ bị tổn thương là mức độ mà một đơn vị dễ bị tổn thất do tiếp xúc với một nhiễu
loạn hoặc áp lực và khả năng đối phó của các đơn vị tiếp xúc, khả năng tự phục hồi để
trở thành một hệ thống mới hoặc biến mất.
* Về lũ lụt
Tính dễ bị tổn thương mà chúng tôi sử dụng dựa trên khái niệm của UNESCO-
IHE: “Tính dễ bị tổn thương là mức độ gây hại có thể được xác định trong những
những điều kiện nhất định thông qua tính nhạy, sự tổn thất và khả năng phục hồi”
Để tăng cường tính ứng dụng của các nghiên cứu trong thực tế, đặc biệt là trong
chủ động đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ thì Janet Edwards (2007) đã đưa ra bản
đồ tính dễ bị tổn thương do lũ “là bản đồ cho biết vị trí các vùng nơi mà con người,
môi trường thiên nhiên, của cải gặp rủi ro do các thảm hoạ có thể dẫn đến những hậu

nghĩa này, tính dễ bị tổn thương có ba thành phần: tiếp xúc (độ phơi nhiễm), mức độ
nhạy cảm và khả năng ứng phó. Ba thành phần này được mô tả như sau:
+ Độ phơi nhiễm được hiểu như là mối đe dọa trực tiếp, bao hàm tính chất, mức
độ thay đổi các yếu tố cực đoan của khu vực như: Bản đồ tự nhiên; bản đồ sử dụng
đất; bản đồ ngập lũ (tần suất, thời gian, lượng lũ); Dân số, tỷ lệ dân cư nông thôn,
thành thị, dân tộc thiểu số, phong tục, tập quán, tỷ lệ ngành nghề sản xuất.
+ Độ nhạy cảm mô tả các điều kiện môi trường của con người có thể làm trầm
trọng thêm mức độ nguy hiểm, cải thiện những mối nguy hiểm hoặc gây ra một tác
động nào đó như: Thu nhập, chi tiêu hộ gia đình; tỷ lệ giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp,
giáo dục, hệ thống giao thông, liên lạc, thời gian ở trong khu vực ảnh hưởng lũ, kinh
nghiệm đối phó với lũ, nhận thức về nguy cơ lũ lụt, nhận thức về rủi ro lũ lụt, sự chuẩn
bị cho việc xuất hiện lũ.
+ Khả năng ứng phó là khả năng thực hiện các biện pháp thích ứng nhằm ngăn
chặn các tác động tiềm năng như: Năng lực đối phó, quản lý và sự cứu trợ, hỗ trợ có
thể nhận được từ chính quyền địa phương, Cấu trúc nhà ở, hệ thống đê điều phòng và
chống lũ, dịch vụ y tế công cộng, hiện trạng hệ sinh thái.
3. Phương pháp xác định chỉ số dễ bị tổn thương do lũ lụt
3.1. Chuẩn hóa các chỉ số
Rõ ràng các chỉ tiêu có đơn vị và tỷ lệ khác nhau, vì thế khi sử dụng trong 1
hàm quan hệ cần phải được chuẩn hóa trước khi tính toán giá trị tính dễ bị tổn thương
lũ lụt. Trong công bố này đã sử dụng phương pháp trong đánh giá chỉ số phát triển con
người (HDI) của UNDP (2006) để chuẩn hóa bằng cách qui đồng nhất giá trị từ 0-1.
Trước đó phải xác định mối tương quan giữa các chỉ tiêu/tham số với tính dễ bị tổn
thương. Có hai loại quan hệ có thể xảy ra: Quan hệ thuận - tính dễ bị tổn thương tăng
lên/giảm xuống với sự tăng lên/giảm xuống của các giá trị tham số. Ví dụ như tham số
về lượng lũ, cường độ lũ, rõ ràng rằng giá trị các chỉ tiêu này càng lớn thì tính dễ bị
tổn thương của vùng đó càng lớn. Quan hệ nghịch có nghĩa là tính dễ bị tổn thương
tăng lên/giảm xuống với sự giảm/tăng của các giá trị tham số này. Ví dụ như tham số
tỷ lệ người biết chữ, nhận thức về nguy cơ lũ, sự chuẩn bị đối phó với lũ…rõ ràng là







ij ij
ij
ij ij
ax
ax
i
ii
M X X
y
M X Min X

=

(2)
Từ hai công thức này cho thấy rằng các giá trị chuẩn hóa của các biến thu được
sẽ nằm trong khoảng từ 0 đến 1. Cho ví dụ số liệu thu thập của một khu vực như sau:
Bảng 1: Số liệu thu thập giá trị các biến
Vùng
Giá trị biến
Chênh lệch mực
nước (m)
Sản lượng lương
thực (tấn/ha)
Tỷ lệ người biết chữ
(%)

0,25
II
1,0
0,0
0,0
1,0
0,33
III
0,5
1,0
1,0
2,5
0,83
Như vậy sau bước tính này sẽ thiết lập được bộ các số liệu đã chuẩn hóa đã
đồng nhất về đo lường và có thể tiến hành các bước tiếp theo.
3.2. Xác định trọng số cho các biến/tham số
Sau khi số liệu được chuẩn hóa, các chỉ số cần được gán trọng số riêng. Có 2
phương pháp để xác định trọng số của các chỉ số là: phương pháp trọng số bằng nhau
và phương pháp trọng số không bằng nhau. Trong công bố này chúng tôi trình bày
phương pháp xác định trọng số không bằng nhau theo thuật giải của Lyengar và
Sudarhan
Giả sử có M vùng, K chỉ tiêu dễ bị tổn thương và x
ij
(i = 1-M, j=1,K) là các giá
trị chuẩn hóa. Mức độ hoặc một giai đoạn phát triển của vùng thứ i,
i
y
được xác định
theo tổng tuyến tính sau:


c
vx
=
(4)
Ở đây c là hằng số chuẩn hóa được xác định:
1
1
ij
1
ar( )
K
j
i
c
vx

=


=



(5)
Sự lựa chọn các trọng số theo cách này sẽ đảm bảo rằng sự thay đổi lớn trong
bất kỳ một chỉ tiêu nào sẽ không chi phối quá mức sự đóng góp của các chỉ tiêu còn lại
của các chỉ số và gây sai sót khi so sánh giữa khu vực. Chỉ số dễ bị tổn thương vì vậy
được tính toán sẽ nằm trong phạm vi từ 0 đến 1, với giá trị = 1 chỉ số tổn thương là
lớn nhất còn lại với giá trị = 0 chỉ số tổn thương là không bị ảnh hưởng.
Với mục đích phân loại, sự sắp xếp đơn giản cho các vùng dựa vào các chỉ tiêu

<z
4
, 5- Mức độ tổn thương rất cao
nếu z
4
<
i
y
<1.
Một ví dụ tính toán chỉ số dễ bị tổn thương với một trận lũ điển hình đối với 20
vùng nhỏ (số liệu được giả định) dưới đây:
Bảng 3: Các biến trong đánh giá tính dễ bị tổn thương (ví dụ)
Yếu tố
Số
TT
Chỉ tiêu
Hàm
quan hệ
Ý nghĩa

Độ phơi nhiễm

1
Diện tích ngập lũ- % (E1)
Thuận
Giá trị lớn
tổn thương
càng nhiều
2
Độ sâu ngập lũ trung bình- m (E2)

Sự hỗ trợ của chính quyền -% (A2)
Nghịch
3
Kinh nghiệm chống lũ của người dân (A3)
Nghịch
4
Phần trăm gia đình có nhà kiên cố (A4)
Nghịch

Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu lần thứ XVI

208 Tập 2: Thủy văn - Tài nguyên nước, Biển, Môi trường

Giá trị thu thập của các chỉ tiêu tố tổn thương
Bảng 4: Giá trị thu thập các biến (ví dụ)
Vùng
Diện lộ/Tiếp xúc
Tính nhạy
Khả năng thích ứng/chống
chịu
E1
E2
E3
S1
S2
S3
A1
A2
A3
A4

21.2
66.2
54.2
4
18.16
2.29
2.31
42.8
19.15
227.93
64.3
21.1
66.5
73.1
5
42.81
1.85
2.36
50.1
18.78
3415.54
68.1
21.1
67.4
61.2
6
37.39
1.08
2.23
59.7

1.68
2.18
63.1
16.01
615.99
76.3
21.8
67.7
95.9
10
14.74
1.16
2.41
69.6
16.82
2362.98
85.5
21.8
68.3
95.2
11
22.18
1.73
2.39
80.3
13.59
1970.31
84.6
21.4
67.1

77.8
21.2
66.9
77
15
23.76
4.77
2.35
53
21.21
381.3
71.6
21.2
66.4
72.9
16
17.85
2.33
2.42
40.3
17.7
408.9
73.7
21.1
66.3
65.5
17
28.16
1.93
2.31

18.06
1.82
2.07
42.4
2.04
995.27
87.6
21.3
66.3
50.1
Các giá trị chuẩn hóa:
Bảng 5: Giá trị chuẩn hóa các biến (ví dụ)
Vùng
Diện lộ/Tiếp xúc
Tính nhạy
Khả năng thích ứng/chống
chịu
E1
E2
E3
S1
S2
S3
A1
A2
A3
A4
1
0.621
0.388

4
0.388
0.407
0.816
0.472
0.647
0.000
0.973
0.944
0.622
0.290
5
1.000
0.301
0.867
0.380
0.633
1.000
0.813
0.972
0.308
0.442
6
0.865
0.117
0.735
0.259
0.569
0.097
0.404

0.528
0.122
0.469
0.014
0.207
0.000
10
0.303
0.136
0.918
0.135
0.559
0.670
0.086
0.000
0.000
0.009
11
0.488
0.273
0.898
0.000
0.437
0.547
0.125
0.528
0.392
0.181
12
0.537

E1
E2
E3
S1
S2
S3
A1
A2
A3
A4
14
0.385
0.299
1.000
0.233
0.406
0.163
0.407
0.861
0.485
0.241
15
0.527
1.000
0.857
0.344
0.724
0.048
0.667
0.861

0.035
0.253
0.958
0.603
0.199
19
0.267
0.000
0.816
0.135
0.385
0.054
0.479
0.681
0.632
0.183
20
0.385
0.294
0.571
0.477
0.000
0.241
0.000
0.694
0.698
0.583
Các giá trị trọng số của các chỉ tiêu tổn thương:
Bảng 6: Trọng số của các biến
Vùng

1.00
Sau khi tính toán các trọng số của các chỉ tiêu ta tiến hành xác định chỉ số tổn
thương của từng vùng với các yếu tố chỉ tiêu xem xét:
Bảng 7: Bảng giá trị tổn thương và phân hạng của các vùng
Vùng
Giá trị chỉ
số tổn
thương
(VI)
Phân
hạng
Vùng
Giá trị chỉ
số tổn
thương
(VI)
Phân
hạng
Vùng
Giá trị chỉ
số tổn
thương
(VI)
Phân hạng
1
0.504
10
8
0.364
17

5
0.656
2
12
0.447
13
19
0.361
18
6
0.438
14
13
0.475
11
20
0.397
15
7
0.509
7
14
0.450
12
Ta dễ dàng nhận thấy rằng vùng số 2 là vùng có mức độ tổn thương cao nhất với
giá trị VI=0.699 và vùng số 9 có mức độ dễ bị tổn thương là thấp nhất với VI = 0.259.
Từ các chỉ số dễ bị tổn thương của các vùng ta có thể sắp xếp, đánh giá các vùng


4. Kết luận
Hiện nay việc nghiên cứu, quản lý và giảm nhẹ tác hại do thiên tai lũ lụt gây ra
đối với đời sống xã hội ngày càng được quan tâm, đặc biệt càng trở nên cấp thiết trong
điều kiện biến đổi khí hậu. Hướng tiếp cận bằng cách đánh giá tính dễ bị tổn thương
do thiên tai lũ lụt nhằm lượng hóa những thiệt hại tiềm năng mà một sự kiện cực đoan
có thể gây ra nhằm đưa ra những biện pháp quản lý đang là hướng nghiên cứu mới và
cần được phát triển.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tính dễ bị tổn thương và cụ thể là tổn thương
do lũ lụt, với đó là những phương pháp tính toán khác nhau. Nghiên cứu lựa chọn một
phương pháp phù hợp để có được bộ chỉ số tốt nhất cho mỗi vùng với các điều kiện cụ
thể sẽ giúp cho việc quản lý lũ được tốt hơn. Bài báo này giới thiệu một trong số nhiều
phương pháp đó. Việc áp dụng cơ sở lý thuyết này để tính toán cho một lưu vực cụ thể
và sẽ được trình bày trong các công trình tiếp theo.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Adger, W. N., Huq, S., Brown, K., Conway, D. and Hulme, M. (2002). Adaptation
to climate change: Setting the Agenda for Development Policy and Research.
Tyndall Centre for Climate Change Research Working Paper 16
2. Alexander Fekete, (2009), Assessment of Social Vulnerability for River-Floods in
Germany, Ph.D. thesis techniques, University Fakultat der Rheinischen Friedrichs-
Wilhelm – Bonn.
3. Ayoade, J.O. and F.O. Akintola ( 1980), "Public perception of flood hazard in
two Nigerian cities ", Environment International Vol 4, pages 277-280
4. Chamber, R., 1983. Rural Development: Putting the Last First, Essex: Longman
Blaikie, P., T.Cannon, I.David and B.Wisner, 1994. “At Risk: Natural Hazards
People’s Vulnerability, and Disasters”, Routledge, London
5. Cutter S.L. (1996). Vulnerability to Environmental Hazards. Progress in Human
Geography 20(4):529–39.
6. Đặng Đình Khá, (2011), Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do lũ lụt hạ lưu sông

bị tổn thương lũ lụt ở Miền Trung Việt Nam, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia
Hà Nội. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Tập 28, số 3S tr.115-122
17. UNDP (2006) Human development report, United Nations Development
Program. Available at: http://hdr.undp.org/hdr2006/statistics/
18. Watson, R.T., M.C.Zinyowera and R.H.Moss, 1996. “Climate Change 1995:
Impacts, Adaptations and Mitigation of Climate Change: Scientific-Technical
Analyses”, Cambridge University Press, Cambridge.
19. Weichselgartner, J. (2002). About the capacity to be wounded: the need to link
disaster mitigation and sustainable development. Extreme Naturereignisse –
Folgen, Vorsorge, Werkzeuge, DKKV, Bonn. p.150–158

FLOOD VULNERABILITY INDEX AND
METHODOLOGY COMPUTATION
Can Thu Van
1
, Nguyen Thanh Son
2
1
Ho Chi Minh City University for Natural resuorces and environment
2
Faculty of Hydro-Meteorology & Oceanography, VNU University of Science,
Vietnam National University

Natural disasters-floods are becoming more unpredictable in terms of the frequency,
magnitude and volatility. In Vietnam natural disasters - floods have caused huge damage both
in human lives and property. The methods to forecast, assess, and management flood aiming
to reduce the damage flood have received many studies. In which, assessing flood
vulnerability for specific local that taking into account factors such as socio-economy,
environment and resistance is a topical issue, an additional tool to support decision making
in order to reduce the damage caused by flood in each local.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status