Khóa luận tốt nghiệp xác định bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên địa bàn huyện đakrông tỉnh quảng trị - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN HẢI DƯƠNG HỌC

Trần Vinh Quang

XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN
THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ

Khóa luận đại học hệ chính quy
Ngành: Thủy văn
(Chương trình đào tạo Chuẩn)

Hà Nội – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN HẢI DƯƠNG HỌC

Trần Vinh Quang

XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN
THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ

Khóa luận đại học hệ chính quy
Ngành: Thủy văn
(Chương trình đào tạo Chuẩn)


LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
VỀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ ........................................... 8
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU .......................................... 8
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới ................................................................................. 8
1.1.2 Nghiên cứu trong nước ................................................................................... 9
1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ ............................................... 10
1.1.1

Đặc điểm địa lí tự nhiên ............................................................................ 10

1.2.2

Đặc điểm kinh tế xã hội............................................................................. 13

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO
LŨ LỤT ....................................................................................................................... 16
2.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG ................................ 16
2.1.1 Sự phát triển của khái niệm tính dễ bị tổn thương ........................................ 16
2.1.2 Khái niệm tính dễ bị tổn thương do lũ .......................................................... 18
2.2 TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ ............................................................... 19
2.2.1 Độ phơi nhiễm (E) ........................................................................................ 19
2.2.2 Tính nhạy (S) ................................................................................................ 19
2.2.3 Khả năng phục hồi (R) .................................................................................. 20
2.3 GIỚI THIỆU CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ........................ 20
2.3.1 Phương pháp UNESCO-IHE ........................................................................ 20
2.3.2 Phương pháp Messner và Meyer .................................................................. 20
2.3.3 Phương pháp ShantoshKarki ........................................................................ 20
2.3.4 Phương pháp Villagran de Leon ................................................................... 21
2.3.5 Phương pháp Ibidun O. Adelekan................................................................. 21


Bảng 2. Sự thể hiện tính dễ bị tổn thương do lũ ( Balica, 2012 )

24

Bảng 3. Bảng tham số vùng miền núi

29

Bảng 4. Bảng phân cấp mức độ tổn thương do lũ

32

Bảng 5. Các giá trị tham số độ phơi nhiễm ( E ) đã được chuẩn hóa

32

Bảng 6. Các giá trị tham số tính nhạy ( S ) đã được chuẩn hóa

33

Bảng 7. Các giá trị tham số độ phơi nhiễm ( R ) đã được chuẩn hóa

33

Bảng 8. Kết quả tính FVI thành phần

34

Bảng 9. Kết quả tính FVI

37

Hình 8. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI vật lí của các xã huyện Đakrông

38

Hình 9. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI của các xã huyện Đakrông

39

4


BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
IPCC Intergovermental Panel on Climate Change (Ban Liên chính phủ về Biến
đổi khí hậu)
ISDR International Strategy for Disaster Reduction (Chiến lược giảm nhẹ thiên
tai quốc tế)
SAR Second Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần II)
UNESCO United Nations Emducation, Scientific and Cultural Organization
(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc)

5


LỜI MỞ ĐẦU
Việt Namnói chung và khu vực miền Trung nói riêng là nơi giao lưu của nhiều
đới khí hậu phức tạp nên thời tiết thay đổi và biến động rất nhanh, đặc biệt khu vực
Quảng Trị là nơi chịu nhiều ảnh hưởng của bão lũ với tần suất và cường độ ngày càng
tăng. Để tăng cường ứng phó với lũ lụt ngoài các biện pháp công trình thì các biện


7


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ
NGOÀI NƯỚC VỀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Trong các nghiên cứu của IPCC - CZMS đã nghiên cứu, đề xuất phương pháp
đánh giá tính dễ bị tổn thương đơn giản nhằm xác định và đánh giá các tác động của
mực nước biển dâng đến đời sống người dân trên bề mặt hành tinh và được ứng dụng
tại nhiều nơi. Phương pháp này kết hợp các nhận định của chuyên gia với dữ liệu về
các đặc tính vật lý và kinh tế - xã hội, từ đó phân tích, ước tính phổ các tác động của
mực nước biển dâng bao gồm cả phần giá trị mất đi của các vùng đất và đất ngập
nước. Các thông tin thu được từ cách đánh giá này được sử dụng như là cơ sở cho các
bước mô hình hóa tiếp theo. Phương pháp bao gồm 7 bước: (1) xác định khu vực
nghiên cứu; (2) thu thập và phân tích các đặc trưng khu vực nghiên cứu; (3) xác định
các yếu tố phát triển kinh tế xã hội tương ứng; (4) đánh giá các biến động về mặt vật
lý; (5) xây dựng chiến lược ứng phó; (6) đánh giá hồ sơ dễ bị tổn thương; (7) xác định
các nhu cầu trong tương lai. Tuy nhiên, đến 1999 Klein và Nicholls đã chỉ ra 5 hạn
chế cơ bản của phương pháp này liên quan đến các ràng buộc về kỹ thuật và khả năng
cung cấp số liệu trong việc mô hình hóa hệ thống và đánh giá định lượng.
Conner (2007) đã đưa các biện pháp công trình và phi công trình vào tính toán
chỉ số tổn thương lũ, nó thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng dân cư mà
không xét đến sự phơi nhiễm của cộng đồng đó trước nguy cơ lũ. Hay Sebastian
(2010) đã xác định tính tổn thương lũ là sự kết hợp giữa xác suất, tác động (thiệt hại)
và khả năng chống chịu. Theo như nghiên cứu này chưa xét đến phơi nhiễm, khả năng
phục hồi của hệ thống, chưa xét đề cập ảnh hưởng của vùng miền (các yếu tố tự
nhiên) nên chưa hoàn chỉnh hay nói cách khác chưa biểu diễn được mối tương tác tự
nhiên – kinh tế xã hội khi xem xét bài toán tổng hợp đánh giá tính dễ bị tổn thương.


9


1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ
1.1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên
a) Vị trí địa lí và đơn vị hành chính
Đa Krông là một huyện miền núi vùng cao biên giới phía tây nam của tỉnh
Quảng Trị. Thành lập ngày 1.1.1997 trên cơ sở 10 xã của huyện Hướng Hóa và 3 xã
của huyện Triệu Phong. Diện tích 123.332ha dân số 25.917 người. Hiện nay có hơn
34.160 người.
14 đơn vị hành chính bao gồm thị trấn Krông Klang và 13 xã: A Bung, A
Ngo, A Vao, Ba Lòng, Ba Nang, Đa Krông, Hải Phúc, Húc Nghì, Hướng Hiệp, Mò
Ó, Tà Long, Tà Rụt, Triệu Nguyên.
Vị trí: Nằm ở vị trí 16017`55`` đến 16049`12`` vĩ độ Bắc và 106044`01`` đến
107014`15`` kinh độ Đông. Phía Bắc giáp với các huyện Gio Linh, Cam Lộ. Phía
Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào. Phía Đông
giáp huyện Triệu Phong và Hải Lăng. Phía Tây giáp huyện Hướng Hóa.
b) Địa hình - Địa chất
+Tổng diện tích (ha): 122.332,21
+ Diện tích đất nông nghiệp (ha): 5.523,1
+ Diện tích đất lâm nghiệp (ha): 72.779,8
+ Diện tích đất chưa khai thác (ha): 41.634,1
* Đặc điểm địa hình - địa mạo: Địa hình vùng đồi núi nghiên cứu có cấu tạo
dạng bậc khá rõ nét: phía Tây là dãy núi trung bình, phần giữa là núi thấp xen đồi,
thung lũng và phía Đông là dải đồng bằng nhỏ hẹp. Đặc trưng các dạng địa hình sau:
địa hình núi trung bình khối tảng, kiến tạo - bóc mòn, địa hình núi thấp cấu trúc kiến
tạo - bóc mòn, địa hình khối núi bóc mòn Karst, địa hình đồi trước núi xâm thực - bóc
mòn. Tuy nhiên, qua các đợt khảo sát thực địa cho thấy hầu hết các điểm DCĐĐ xảy


không phân tầng địa chất thủy văn và mô tả các đơn vị địa tầng địa chất thủy văn theo
phương pháp địa chất thủy văn khu vực truyền thống mà khái quát đặc điểm địa chất
thủy văn theo độ phong phú nước như sau: nhóm phức hệ địa chất thủy văn khe nứt vỉa nghèo nước; khe nứt - vỉa nghèo nước, khe nứt có độ chứa nước trung bình; khe
nứt - vỉa, khe nứt giàu nước; khe nứt - karst - vỉa rất giàu nước.
c) Khí hậu
Đakrông cá khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa thể hiện rõ ở chế độ mưa và gió mùa.
Khí hậu Đakrông chịu ảnh hưởng rõ rệt của bức xạ nội chí tuyến và đặc điểm địa lý
ma trước hết là sự xuất hiện của dãy núi Trường Sơn, nằm trong khu vục chuyển tiếp
của hai mùa khí hậu mùa nóng và mùa lạnh.

12


d) Thủy văn
Sông Đakrông bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn ở phía Nam và đông Nam
huyện Đakrông có chiều dài 85km. Sông Quảng Trị chảy qua Đakrông là hợp lưu của
hai con sông Đakrông và sông Rào Quán. Thượng lưu gọi là sông Đakrông, hạ lưu gọi
lá sông Ba Lòng Trong hệ thống sông Đakrông có nhiều con suối tương đối lớn đổ ra
như Paây, Scam, Ra Ngao, Ta Sam Ba Le, Rơlay vv….. Ngoài ra còn có nhiều con
suối đỏ vào song Ba Lòng như Khe Làng An, Khe Vẽ,… Sông Đakrông có độ dài
ngắn và dốc nên tốc độ chảy cao về mùa mua lũ thưỡng xảy ra tình trạng lũ lụt lớn.
e) Lớp phủ thực vật
Vùng đồi núi Đakrông có độ che phủ thuộc loại cao so với cả nước, chiếm
khoảng 20 đến 80% nhưng không đồng đều (theo số liệu thống kê của Viện Điều tra
quy hoạch rừng). Qua các đợt khảo sát thực địa cho thấy, hiện tượng ‘ dịch chuyển đất
đá’ xảy ra khá nhiều nơi trong vùng nghiên cứu, tập trung chủ yếu ở các xã , A Ngo,
A Vao mà một trong các nguyên nhân chính là do hoạt động chặt phá rừng lấy gỗ,
đốt phá rừng làm rẫy, trồng cây công nghiệp trên các sườn núi dọc tuyến nghiên cứu.
Việc chặt phá, đốt rừng làm làm nương rẫy tạo ra những khu đất trống đồi trọc, giảm
tỷ lệ che phủ rừng dẫn đến làm tăng nhanh quá trình TLĐĐ.

cộng đồng cư dân Việt Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng. Cộng đồng cư dân
sinh sống đầu tiên ở trên địa bàn huyện Đakrông đó là cộng đồng người Ba Hy. Họ
sống theo dạng du canh du cư tù ngọn núi này sang ngọn núi khác nhưng sau một thời
gian sinh sống họ gặp phải dịch bệnh và thú dũ tấn công nên đã chuyển di nơi khác
sinh sống Sau khi người Ba Hy dời đi thì những người mới đến định cư ở đây (còn
gọi là người Bru nghĩa là nhũng người sống ở trên cao). Ngoài người Vân Kiều còn
có người Pa cô cư trú ở phía Tây Nam của huyện ở các xã A Bung, Tà Rụt.
Ngôn ngữ của của đồng bào VK gọi là Kado, Kanay, thuộc ngữ hệ Môn –
Khơme Người Vân kiều Pa cô sống thánh các bản làng gọi là Vil hay Vel mỗi bản
thường có 20-30 gia đình Đưng đầu Vil hay Vel là Aryay vel có thể là người đứng
đầu dòng họ hoặc được bầu lên nói chung đó là người có uy tín và trách nhiệm với
14


cộng đồng được cộng đồng tin tưởng Nhà ở của đồng bào Đakrông đều là nhà sàn lợp
bằng lá tranh, mây, sàn lát băng núa hoặc gỗ Giữa hai cộng đồng có nhiều điểm tương
đồng về văn hóa như cà răng, căng tai, các mô típ trang trí, hay các câu truyện dân
gian vv.
Sau khi người kinh lên sinh sống cùng với cộng đồng ở đây dã trở thành một
cộng đồng cư dân mới hết sức đoàn kết và gắn bó cùng nhau tồn tại và phát triển.
c) Dân số
Theo niên giám thống kê năm 2014 của tỉnh Quảng Trị thì Đakrông là một
trong những huyện có dân số ít nhất của tỉnh Quảng Trị với số dân vào khoảng 38.176
người, mật độ dân số cũng thuộc loại thưa thớt nhất cả tỉnh với 38 người/km². Trong
đó, nam giới chiếm khoảng 49,25 %, và nữ giới chiếm 50,75 % trong cơ cấu dân số
của huyện. Tốc độ gia tăng dân số trung bình trong giai đoạn 2010-2014 là vào
khoảng 1 %/năm. Dân số phân bố ở thành thị của huyện rất thấp chỉ chiếm 9,4 % dân
số, còn lại dân số tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn chiếm đến 90,6 % dân số.
d) Cơ cấu kinh tế
+ Tốc độ tăng trưởng bình quân: 13,9%

cũng như những tác động thích ứng của xã hội (Cutter 1996, Weichselgartner 2001:
169 ff).

16


Quan điểm thứ (1):
"Tổn thương" có nguồn gốc từ chữ Latin có nghĩa là sự tổn hại Ở một mức độ
rất cơ bản, dễ bị tổn thương có thể được định nghĩa là "khả năng bị thương" (Kates
1985, Dow 1992) hoặc "thiệt hại tiềm năng"(Cutter năm 1996). Tuy nhiên, định nghĩa
chung dễ bị tổn thương không chỉ định loại của sự thiệt hại hoặc các cá nhân, nhóm,
hoặc tổn thất xã hội (Cutter, 1996), Dow (1992).
Quan điểm thứ (2):
Blaikie (1994) cho rằng: Dễ bị tổn thương có nghĩa là các đặc tính của một
người hoặc một nhóm về năng lực của họ có thể dự đoán, đối phó, chống lại, và phục
hồi từ tác động của thiên tai. Nó là sự kết hợp của các yếu tố xác định mức độ mà
cuộc sống và sinh kế của người khác được đặt tại rủi ro bằng một sự kiện rời rạc và
nhận dạng trong tự nhiên hoặc trong xã hội.
Theo Christian Kuhlicke quan niệm Tính dễ bị tổn thương xuất phát từ một
khái niệm về sự không hiểu biết có nghĩa là con người đối phó như thế nào với kiến
thức hạn chế của mình.
Khái niệm dễ bị tổn thương áp dụng cho một hệ thống xã hội do đó có thể được
hiểu là "một tập hợp các điều kiện và quy trình kết quả từ vật lý, các yếu tố xã hội,
kinh tế và môi trường, làm tăng tính nhạy cảm của một cộng đồng có các mối nguy
hiểm tác động " (ISDR 2002).
Quan điểm thứ (3):
Joanne Linnerooth-Bayer định nghĩa “Tổn thương là một thuật ngữ phân tích,
Tính dễ bị tổn thương là khái niệm được hiểu trong một phạm vi rộng và có quy tắc,
bao gồm cả địa lý, rủi ro, hiểm họa, kỹ thuật, nhân chủng học và sinh thái”.
Trong điều kiện tiếp xúc với một số căng thẳng hoặc khủng hoảng, Tính dễ bị

chủ động đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ thì Janet Edwards (2007) đã đưa ra một
khái niệm nữa là bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ “làbản đồ cho biết vị trí các vùng
nơi mà conngười, môi trường thiên nhiên, của cải gặp rủiro do các thảm hoạ có thể

18


dẫn đến những hậuquả nghiêm trọng như thiệt hại về người, gây ônhiễm môi
trường”.
Ngoài ra, theo một số nghiên cứu khác định nghĩa: Khái niệm tính dễ bị tổn
thương lũ lụt là việc xem xét lựa chọn tiếp xúc, nhạy cảm, và các chỉ số đối phó của
người dân trong khu vực nghiên cứu. Phân tích các chỉ số này cung cấp một cái nhìn
sâu sắc vào các đặc tính dễ bị tổn thương của người dân bị ảnh hưởng và tác động đối
với quản lý nguy cơ lũ lụt. (Ayoade 1979; Ayoade và Akintola 1980; Olaniran 1983;
Ologunorisa và Terso năm 2006). Khi định lượng được tính dễ bị tổn thương của một
vùng nào đó thì nó sẽ cung cấp những thông tin cần thiết hỗ trợ trong việc ra quyết
định nhằm chống lại các mối nguy hiểm do lũ lụt gây ra mà xã hội phải hứng chịu. [2]
2.2 TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ
Ba thành phần được lựa chọn để đánh giá tính dễ bị tổn thương được có thể
được xác định theo đánh giá thứ 3 của IPCC: “Tính dễ bị tổn thương là một hàm của
các đặc trưng, độ lớn, và tỷ lệ thay đổi nhiệt độ với độ phơi nhiễm của hệ thống, mức
độ nhạy cảm và khả năng đối phó” (McCarthy và cộng sự 2001). Vì vậy, theo định
nghĩa này, tính dễ bị tổn thương có ba thành phần: tiếp xúc (độ phơi nhiễm), mức độ
nhạy cảm và khả năng ứng phó. Ba thành phần này được mô tả như sau:
2.2.1 Độ phơi nhiễm (E)
Độ phơi nhiễm được hiểu như là mối đe dọa trực tiếp, bao hàm tính chất, mức
độ thay đổi các yếu tố cực đoan của khu vực như: Bản đồ tự nhiên; bản đồ sử dụng
đất; bản đồ ngập lũ (tần suất, thời gian, lượng lũ); dân số, tỷ lệ dân cư nông thôn,
thành thị, dân tộc thiểu số, phong tục, tập quán, tỷ lệ ngành nghề sản xuất.
2.2.2 Tính nhạy (S)

sau:

20


Chỉ số dễ bị tổn thương = (Tần suất lũ + Độ phơi nhiễm) x mức độ nghiêm
trọng
Phương pháp này không tính đến những tác động xã hội của lũ lụt
2.3.4 Phương pháp Villagran de Leon
Từ năm 2006, Villagran de Leon đã đề xuất mối quan hệ giữa tính dễ bị tổn
thương, tiếp xúc, nhạy cảm và khả năng đối phó như sau:
Chỉ số dễ bị tổn thương = [(Độ phơi nhiễm) x (Tính nhạy)] / (Khả năng chống
chịu)
2.3.5 Phương pháp Ibidun O. Adelekan
Phương pháp này chủ yếu dựa vào hình thức điều tra xã hội học và phân tích
kết quả đạt được thông qua các chỉ số tổn thương mà người nghiên cứu đưa ra.
Dữ liệu trong nghiên cứu được thu thập từ các nguồn chính và phụ. Nguồn dữ
liệu chính được thực hiện thông việc quản lý hình thức thiết kế bảng câu hỏi.
Bảng câu hỏi được thiết kế bao gồm các tham số:
- Chỉ số kinh tế - xã hội: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập hàng tháng
và nghề nghiệp
- Chỉ số nhạy cảm (tính nhạy): Cấu trúc nhà, thời gian ở trong khu vực ảnh
hưởng lũ, kinh nghiệm đối phó với lũ, nhận thức về nguy cơ lũ lụt, nhận thức về rủi ro
lũ lụt, sự chuẩn bị cho việc xuất hiện lũ.
- Chỉ số phơi nhiễm (tiếp xúc): khoảng cách từ nhà tới dòng sông, suối, độ sâu
ngập lũ
- Chỉ số chống chịu: năng lực đối phó, quản lý và sự cứu trợ, hỗ trợ có thể nhận
được.

21

Viết
tắt

Xã hội - Mật độ dân
số
- Người
khuyết tật và
người ngoài
độ tuổi lao

CM

PD
%
disable

- Tỷ lệ tử
vong trẻ em

22

Khả năng phục
hồi
(R)

Viết tắt

- Hệ thống cảnh WS
báo
- Sơ tán trên các ER


Vật lý - Sự liên hệ
với sông
- Địa hình

CR

- Nơi tạm trú
- Kinh nghiệm
trước đây
- Nhận thức và
chuẩn bị

S
PE

- Thất nghiệp UM
- Tăng trưởng UG
đô thị
- Chỉ số phát HDI
triển con
người

- Số tiền đầu tư
- Bảo hiểm lũ
lụt
- Sức chứa các
đập nước

Aminv


Phương pháp phát triển phân biệt quy mô khác nhau về không gian khu vực dễ
bị tổn thương lũ: lưu vực sông, các tiểu lưu vực và khu vực đô thị. Điều này cho phép
một sự giải thích chi tiết các chỉ tiêu cụ thể về mức độ ảnh hưởng của tổn thương đến
từng vùng và các biện pháp để giảm bớt tác hại gây ra của sự tổn thương.Công thức
chung cho FVI được tính bằng cách phân loại các thành phần theo ba nhóm chỉ tiêu:
độ phơi nhiễm (E), tính nhạy cảm (S) và khả năng phục hồi (R) (Balica và cộng sự,
2012.).
𝐹𝑉𝐼 =

𝐸×𝑆
𝑅

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status