ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC
Nguyễn Thị Xuân
XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ TỔN
THƯƠNG DO NGẬP LỤT TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ
Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành : Thủy văn
(Chương trình đào tạo : chuẩn)
Hà Nội - 2016
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC
Nguyễn Thị Xuân
XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ TỔN
THƯƠNG DO NGẬP LỤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ
Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành : Thủy văn
(Chương trình đào tạo : chuẩn)
VỀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LU......................................11
1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU...............................11
1.1.1. Trong nước.........................................................................................11
1.1.2. Ngoài nước.........................................................................................12
1.2. TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN
GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ.......................................................................13
1.2.1. Điều kiện tự nhiên..............................................................................13
Hình 1. Bản đồ hành chính huyện Gio Linh........................................................14
1.2.2. Kinh tế xã hội.....................................................................................18
1.2.3. Tình hình lũ lụt trên địa bàn...............................................................21
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO
LU LỤT................................................................................................................23
2.1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ TÍNH DỄ TỔN THƯƠNG..................................23
2.1.1. Khái niệm chung về tính dễ tổn thương do lũ....................................23
4
2.2. TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LU......................................................24
2.2.1. Độ phơi nhiễm....................................................................................25
2.2.2. Tính nhạy............................................................................................25
2.2.3. Khả năng ứng phó..............................................................................25
2.3. GIỚI THIỆU CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ..............25
2.3.1. Phương pháp Balica...........................................................................25
2.3.2. Phương pháp Ibidun O.Adelekan.......................................................26
2.3.3. Phương pháp Villagran de Leon.........................................................27
2.3.4. Phương pháp Shantosh Karki.............................................................27
2.3.5. Phương pháp UNESCO – IHE...........................................................27
2.4. Công thức Richard.F.Conner.................................................................27
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN..............................................................30
3.1. TÌNH HÌNH SỐ LIỆU..............................................................................30
PHỤ LỤC.............................................................................................................48
6
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Bản đồ hành chính huyện Gio Linh. Error: Reference source not found
Hình 2. Bản đồ sử dụng đất huyện Gio Linh. Error: Reference source not found
Hình 3. Bản đồ mức độ dễ bị tổn thương huyện Gio Linh. Error: Reference
source not found
7
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Bộ tiêu chí cho vùng ngập...................Error: Reference source not found
Bảng 2: Bộ tiêu chí vùng không ngập...............Error: Reference source not found
Bảng 3: Minh họa 1 số giá trị của tiêu chí tính toán vùng ngập....Error: Reference
source not found
Bảng 4: Minh họa 1 số giá trị đã được chuẩn hóa của vùng ngập.Error: Reference
source not found
Bảng 5: Minh họa 1 số giá trị của tiêu chí tính toán vùng không ngập..........Error:
Reference source not found
Bảng 6: Minh họa 1 số giá trị đã được chuẩn hóa của vùng không ngập.......Error:
Reference source not found
Bảng 7: Minh họa giá trị trọng số của 1 số tiêu chí vùng ngập.....Error: Reference
source not found
Bảng 8: Minh họa giá trị trọng số 1 số tiêu chí vùng không ngập.................Error:
Reference source not found
Bảng 9: Giá trị FVI cho các xã vùng ngập........Error: Reference source not found
thiên tai là cần thiết để xây dựng các giải pháp nhằm giảm nhẹ tác hại của lũ gây
ra. Đây cũng là lý do dẫn đến sự hình thành báo cáo “Xây dựng bộ tiêu chí đánh
giá tính dễ tổn thương do lũ huyện Gio Linh”.
Bố cục báo cáo bao gồm:
9
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về đánh giá
tính dễ bị tổn thương do lũ.
Chương 2: Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt.
Chương 3: Kết quả thảo luận.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI
NƯỚC VỀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LU
1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Trong nước
Trong nhiều nghiên cứu đã khẳng định biến đổi khí hậu làm gia tăng các
tính chất cực đoan của tai biến thiên nhiên và lũ lụt không phải là ngoại lệ. Vì lẽ
đó, đánh giá tính dễ bị tổn thương do các tai biến thiên nhiên trong bối cảnh biến
đổi khí hậu đang được quan tâm nghiên cứu.
Cụ thể hơn đối với lũ lụt vào năm 2010, Viet Trinh [4] đã đánh giá rủi ro do
lũ trên lưu vực sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị bằng cách lập bản đồ tai biến do
lũ và bản đồ tính dễ bị tổn thương, có xét đến tình hình sử dụng đất và mật độ
chống chịu.
Cấn Thu Văn, Nguyễn Thanh Sơn (2013) đã nghiên cứu về “ Các phương
pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương – Lý luận và Thực tiễn, Phần 2. Áp dụng thử
nghiệm tính toán bộ chỉ số dễ bị tổn thương do lũ thuộc lưu vực sông Lam – tỉnh
Nghệ An”. Trong nghiên cứu này tác giả đã đánh giá tính dễ tổn thương dựa vào
khái niệm của UNESCO – ihe thông qua bốn tiêu chí dó là diện lộ, tính nhạy,
khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi.
1.1.2. Ngoài nước
Một hướng nghiên cứu đánh giá tổn thương lũ dựa vào bản thân cộng đồng
dân cư mà không xét đến sự lộ diện của cộng đồng đó trước nguy cơ lũ. Nghiên
cứu của Conner (2007) đã đưa các biện pháp công trình và phi công trình vào
tính toán chỉ số tổn thương lũ, thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng dân
cư. Sebastian (2010) đã xác định tính tổn thương lũ là sự kết hợp giữa xác suất
tác động (thiệt hại) và khả năng chống chịu. Theo cách tiếp cận này thì tính tổn
thương lũ của các cộng đồng sống ven sông ngang bằng với những cộng đồng
12
sống ở vùng cao. Các cách tiếp cận đánh giá tổn thương lũ ở trên chỉ xem tính
tổn thương lũ là một yếu tố trong việc xác định rủi ro lũ và chỉ tập trung vào một
mặt nhất định như kinh tế hay khả năng chống chịu của cộng đồng. Trong nghiên
cứu của Villagra’n de Leo’n JC (2006) và UNESCO – ihe (2007) thì tổn thương
lũ được xác định qua khả năng chống chịu, tính nhạy và sự lộ diện của các đối
tượng trước nguy cơ lũ.[4]
Trong quá trình đánh giá tổn thương do lũ có rất nhiều phương pháp cả trực
tiếp và gián tiếp. Với cách đánh giá gián tiếp thì nổi bật nhất chính là thông qua
bộ chỉ số với sản phẩm là bản đồ rất thân thiện với người sử dụng.
1.2. TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN
GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
- Địa chất:
Huyện Gio Linh nằm trong vùng địa máng Việt Lào thuộc phần phía đông
của dãy Trường Sơn. Trong giai đoạn Tân kiến tạo, địa phận huyện Gio Linh đã
được nâng lên tương đối mạnh do đó địa hình chủ yếu là đồi núi thấp. Nham
thạch được tìm thấy ở đây chủ yếu là đá magma.
- Thổ nhưỡng:
Tài nguyên đất là nguồn lực quan trọng để huyện gio Linh đẩy mạnh hát
triển nông nghiệp. Đặc biệt là khi hoạt đọng kinh tế của huyện chủ yếu là nông
lâm nghiệp.
Trên diện tích điều tra cho thấy đất được hình thành do 2 quá trình phát sinh
sau:
+ Quá trình phong hóa đá và mẫu chất.
+ Quá trình bồi tụ của sông suối.
Theo tính chất và đặc điểm, đất đai của huyện gồm các loại như sau:
Nhóm cát bãi, cồn cát và đất cát biển: chiếm diện tích khoảng 9.000ha,
phân bố dọc theo ven biển.
Nhóm đất mặn: chiếm diện tích khoảng 3.000ha, phân bố chủ yếu ở vùng
ven biển, cửa sông.
Nhóm đất phèn: chiếm diện tích khoảng 300ha, phân bố chủ yếu nơi có địa
hình trũng.
Nhóm đất phù sa: chiếm diện tích nhỏ, phân bố ở các xã ven sông Bến Hải.
Tuy chiếm tỉ trọng nhỏ nhưng đây là loại đất có giá trị, đang được sử dụng trong
nông nghiệp.
Nhóm đất thung lũng: chiếm diên tích khoảng 90ha
15
Nhóm đất đỏ vàng: gồm đất nâu đỏ trên đá bazan điển hình (4.566ha), đất
nâu vàng trên đá bazan điển hình (2.543ha), đất vàng nhạt trên đá sét
(122.265ha), đất vàng nhạt trên đấ cát (7.626ha).
Số ngày nắng trung bình năm là 217 ngày.Tháng có số giờ nắng trung bình
cao nhất trong năm là tháng 6, 7 khoảng 25 – 28 ngày.Thấp nhất là tháng 11
khoảng 8 – 10 ngày.
- Gió và bão:
Gió bão thường xuất hiện vào khoảng tháng IX – XI trong năm.Năm nhiều
nhất có 4,5 cơn bão, cấp gió trung bình từ cấp 8 - 11, gây thiệt hại lớn cho sản
xuất và đời sống người dân.
- Lượng mưa:
Lượng mưa trung bình hàng năm tương đối lớn từ 2.000 – 2.700mm. Lượng
mưa phân bố không đều trong năm và được chia làm 2 mùa rõ rệt.
Mùa mưa lượng mưa lên tới 80% lượng mưa cả năm và thường tập trung
nhiều vào tháng IX – XI. Mưa thường xảy ra theo đợt từ 3 – 6 ngày.Trong các
tháng cao điểm trung bình mỗi tháng có tới 19 – 20 ngày mưa và thường kèm
theo bão và lũ lụt.
Mùa khô với tổng lượng mưa khoảng 20% lượng mưa cả năm, tháng 12 và
tháng 1 lượng mưa thường nhỏ hơn bốc hơi tháng 2 và 3 là thời lỳ mưa phùn ẩm
ướt.
f. Chế độ thủy văn.
Trên địa bàn huyện có 2 con sông lớn chảy qua là Bến Hải và Thạch Hãn.
Sông Bến Hải nằm ở phía Bắc của huyện, có chiều dài khoảng 59 km. Do nước
sông chịu ảnh hưởng của thủy triều nên thủy chế thất thường, hơn nữa phần chảy
qua khu vực phía Tây là vùng trung lưu của con sông có độ dốc lớn nên khả
năng thủy lợi của sông kém.
17
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có một số sông suối nhỏ như sông Cánh
Hòm, một số suối như: Tân Bích, Kinh Môn cung cấp nước cho sản xuất và đời
sống dân sinh. Ngoài ra, nguồn nước mặt trên địa bàn còn được cung cấp bởi
một số đập, hồ nhằm điều hòa lưu lượng và phục vụ tưới tiêu trong khu vực bao
biển thương mại.
Trong nhiệm kỳ 2011-2015, kinh tế của huyện có bước phát triển khá. Giá
trị sản xuất tăng bình quân hằng năm 8,56%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng
hướng: nông - lâm - ngư nghiệp 46,47%, công nghiệp - xây dựng 25,64%,
thương mại - dịch vụ - du lịch 27,89%. Thu nhập bình quân đầu người đạt hơn
30 triệu đồng/ người/năm; lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục có sự chuyển
biến tích cực. Quốc phòng - an ninh được tăng cường, chính trị - xã hội ổn định,
trật tự an toàn xã hội được bảo đảm...
Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu trong nhiệm
kỳ 2015-2020: phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 9-9,5%; đến
năm 2020 tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp chiếm 40%, công nghiệp - xây dựng
chiếm 28%, thương mại - dịch vụ - du lịch là 32%; thu nhập bình quân đầu người
đến năm 2020 trên 50 triệu đồng/người/năm.
c. Cơ sở hạ tầng
- Giao thông
Cùng với xu thế đổi mới của đất nước theo công nghiệp hóa - hiện đại hóa,
huyện Gio Linh trong nhưng năm qua được trung ương quan tâm chỉ đạo đầu tư
lên cơ sở hạ tầng giao thông được tăng cường một bước, nhất là từ khi tuyến
đường Hồ Chính Minh hoàn thành. Cùng với tuyến đường Xuyên Á đã tạo điều
kiện cho việc giao lưu kinh tế giữa huyện Gio Linh với các huyện khác và tỉnh
khác thuận lợi hơn. Đây cũng là cơ sở để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
công nông nghiệp. Tuy nhiên, mạng lưới giao thông trên địa bàn vẫn còn nhiều
19
bất cập, giao thông nông thôn vẫn chủ yếu là đường đất chưa được bê tông hóa,
đặc biệt là các xã phía đông huyện.
Hiện nay trên địa bàn huyện có các tuyến đường quan trọng sau:
+ Quốc lộ: Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, tuyến đường Xuyên Á
+ Tỉnh lộ: Tỉnh lôn 73, 74, 75, 76
núi độ dốc lớn làm hạn chế hiệu quả của các đập thủy lợi.
Để hạn chế và khác phục những khó khăn trên, hiện nay huyện đang đầu tư
nâng cấp và sửa chữa 18 công trình thủy lợi và hồ đập nhỏ, xây dựng thêm 1 số
công trình thủy lợi mới và đăc biệt là dự án bê tông hóa các tuyến kênh mương
nội đồng đang được triển khai.
1.2.3. Tình hình lũ lụt trên địa bàn
Gio Linh có khí hậu khắc nghiệt, lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra cùng
với địa hình hiểm trở ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống lao động và sản xuất
của nhân dân.
Mùa lũ được chia làm 3 thời kỳ:
Lũ tiểu mãn [2] xảy ra vào tháng V, VI hàng năm. Tính chất lũ này nhỏ, tập
trung nhanh, xảy ra trong thời gian ngắn, đỉnh lũ nhọn, lên xuống nhanh, thường
xảy ra trong 2 ngày nên ít ảnh hưởng đến đời sống dân cư, chủ yếu ảnh hưởng
đến sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Lũ sớm xảy ra vào tháng VI đến đầu tháng IX hàng năm. Tuy không có tính
chất thường xuyên nhưng lũ này có tổng lượng lớn hơn lũ tiểu mãn. Thời kỳ xảy
ra lũ sớm thường bắt đầu vào thời kỳ triều bắt đầu cao. Lũ này ít ảnh hưởng đến
dân sinh mà chủ yếu là ảnh hưởng tới nông nghiệp và thủy sản.
Lũ chính vụ xảy ra từ trung tuần tháng IX đến cuối tháng XI, đầu tháng XII
hàng năm. Đây là thời kỳ mưa lớn trong năm và lũ thời kỳ này có thể xảy ra lũ
quét gây đất đá lở hay ngập lụt ở hạ du. Lũ này thường đi liền với bão gây thiệt
21
hại lớn cho kinh tế xã hội, gây chết người và hư hỏng công trình, hạ tầng. Lũ kéo
dài 5 – 7 ngày, đỉnh lũ cao, tổng lượng lớn.
22
Watts and Bohle [1] (1993) đã xem xét đến bối cảnh xã hội của các mối
nguy hiểm và liên hệ tính dễ bị tổn thương xã hội tới khả năng phục hồi, chống
chịu của cộng đồng. Họ đã cố gắng tìm mọi cách dễ dàng hơn để hiểu và đơn
giản hóa khái niệm đó thông qua các nghiên cứu sâu hơn về nền tảng xã hội.
Tính dễ bị tổn thương được mô tả bởi tổ chức chiến lược giảm nhẹ thiên tai
thế giới (ISDR, 2004) như là các điều kiện xác định bởi các yếu tố vật lý, xã hội,
kinh tế và môi trường hay các quá trình, làm tăng tính nhạy của cộng đồng dưới
tác động của thiên tai.
Trong cách tiếp cận của ngành khoa học xã hội, thì tính dễ bị tổn thương lại
tập trung vào năng lực của con người để đối phó với mối nguy hiểm và kịp thời
khôi phục lại các thiệt hại và những tổn thất. Cách tiếp cận này đòi hỏi ít kiến
thức về hệ thống địa lý vì mục tiêu của nghiên cứu là giải thích các hành vi xã
hội.
Ngành khoa học tự nhiên có một điểm khác để giải thích tính dễ bị tổn
thương, họ tập trung vào các hệ thống vật lý để xác định tính dễ bị tổn thương
mà ban đầu ít xét đến những đặc điểm kinh tế - xã hội của hệ thống.
2.2. TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LU
Khái niệm tính dễ bị tổn thương mà khóa sử dụng dựa trên khái niệm tính
dễ bị tổn thương do lũ lụt của Connor đưa ra vào năm 2005 [4], để đánh giá tính
tổn thương do lũ gây ra trên quy mô lưu vực, dựa trên việc xác định các yếu tố
có tác động đến độ nhạy của người dân với lũ.
Để tăng cường tính ứng dụng của các nghiên cứu trong thực tế, đặc biệt là
trong chủ động đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ thì Janet Edwards (2007)
đã đưa ra một khái niệm nữa là bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ “là bản đồ
cho biết vị trí các vùng nơi mà con người, môi trường thiên nhiên, của cải gặp rủi
24
ro do các thảm hoạ có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như thiệt hại về
người, gây ô nhiễm môi trường”.