ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC
----------
Hoàng Nam Trung
XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN
THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ
Khóa luận đại học hệ chính quy
Ngành: Thủy văn học
(Chương trình đào tạo chất lượng cao)
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯƠNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC
----------
Hoàng Nam Trung
XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN
THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ
Khóa luận đại học hệ chính quy
Ngành: Thủy văn học
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI
NƯỚC VỀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ ...................... 6
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU.................................. 6
1.1.1 Ngoài nước ............................................................................................. 6
1.1.2 Trong nước ............................................................................................. 7
1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH
TẾ - XÃ HỘI HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ ................................ 8
1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên ........................................................................ 8
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội ..................................................................... 13
1.2.3 Tình hình lũ lụt và những tổn thương do lũ gây ra trong những năm gần
đây trên tỉnh Quảng Trị ................................................................................. 16
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
DO LŨ LỤT ........................................................................................................ 18
2.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG ........................ 18
2.1.1 Sự phát triển của khái niệm tính dễ bị tổn thương ............................... 18
2.1.2 Khái niệm tính dễ bị tổn thương do lũ ................................................. 20
2.2 TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ ....................................................... 21
2.2.1 Độ phơi nhiễm (E) ................................................................................ 21
2.2.2 Tính nhạy (S) ........................................................................................ 21
2.2.3 Khả năng phục hồi (R) ......................................................................... 21
2.3 GIỚI THIỆU CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ SỐ ............... 22
2.3.1 Phương pháp UNESCO-IHE .............................................................. 22
2.3.2 Phương pháp Messner và Meyer .......................................................... 22
2.3.3 Phương pháp Shantosh Karki ............................................................... 22
2.3.4 Phương pháp Villagran de Leon .......................................................... 22
2.3.5 Phương pháp Ibidun O. Adelekan ........................................................ 23
2.4 Phương pháp phát triển chỉ số dễ bị tổn thương do lũ ở khu vực đô thị theo
công thức của Hajar Nasiri và Shahram Shahmohammadi-Kalalagh .............. 23
1
Hình 3. Bản đồ sử dụng đất huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị................................
28
Hình 4. Bản đồ ngập lụt huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị......................................
29
Hình 5. Bản đồ phân vùng dễ bị tổn thương huyện Vĩnh Linh ..............................
41
Hình 6. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI xã hội của các xã huyện Vĩnh Linh.............
41
Hình 7. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI kinh tế của các xã huyện Vĩnh Linh............
42
Hình 8. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI môi trường của các xã huyện Vĩnh Linh.....
43
Hình 9. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI vật lý của các xã huyện Vĩnh Linh..............
44
Hình 10. Biểu đồ biểu diễn giá trị FVI của các xã huyện Vĩnh Linh......................
34
Bảng 8. Bảng tham số vùng đô thị ngập huyện Vĩnh Linh.....................................
35
Bảng 9. Bảng phân cấp mức độ tổn thương do lũ...................................................
37
Bảng 10. Các giá trị tham số đã được chuẩn hóa....................................................
38
Bảng 11. Kết quả tính toán FVI...............................................................................
40
3
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
IPCC Intergovermental Panel on Climate Change (Ban Liên chính phủ về Biến
đổi khí hậu)
ISDR International Strategy for Disaster Reduction (Chiến lược giảm nhẹ thiên tai
quốc tế)
SAR Second Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần II)
TAR Third Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần III)
UNESCO United Nations Emducation, Scientific and Cultural Organization (Tổ
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc)
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Kết luận
Tài liệu tham khảo
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG
VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
DO LŨ
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Trong khoảng 30 năm trở lại đây, thì tính dễ bị tổn thương được các nhà
khoa học tập trung nghiên cứu nhiều trong các lĩnh vực như; kinh tế - xã hội, môi
trường, tự nhiên, thiên tai…Tuy nhiên các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương do
ngập lụt thì mới được nghiên cứu trong những năm gần đây theo các cách tiếp cận
khác nhau như:
1.1.1 Ngoài nước
Conner (2007) đã đưa các biện pháp công trình và phi công trình vào tính
toán chỉ số tổn thương lũ, nó thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng dân cư
mà không xét đến sự lộ diện của cộng đồng đó trước nguy cơ lũ. Hay Sebastian
(2010) đã xác định tính tổn thương lũ là sự kết hợp giữa xác suất, tác động (thiệt
hại) và khả năng chống chịu. Theo như nghiên cứu này chưa xét đến diện lộ, khả
năng phục hồi của hệ thống.
Ở một số nước châu Âu các nghiên cứu định tính và định lượng đã được
thực hiện tập trung vào sự tác động của lũ lụt tới cộng đồng và hộ gia đình và phản
ứng với lũ lụt của họ. Trong đó bao gồm các khía cạnh của dễ bị tổn thương xã
hội, chủ yếu là về tác động kinh tế - xã hội của lũ lụt và quá trình phục hồi (ví dụ
như Tapsell và cộng sự, 1999, 2003; Tapsell và Tunstall năm 2001; Carroll và
cộng sự, 2006).
Nghiên cứu gần đây thực nghiệm về lũ quét được tiến hành ở Italy, Đức và
nghiệm chống lũ,... Tuy có thêm được khá nhiều và đầy đủ các thành phần quan
trọng để tính giá trị dễ bị tổn thương do lũ nhưng vẫn chưa đưa vào được thành
nhóm bao quát hơn như kinh tế, môi trường, xã hội, vật lý.
7
1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ
- XÃ HỘI HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ
1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Huyện Vĩnh Linh nằm phía Bắc tỉnh Quảng Trị, Huyện nằm trong giới hạn
tọa độ địa lý từ 1705’ vĩ độ Bắc và 1070 kinh Đông, từ phía Tây sang phía Đông
rộng 62km, bờ biển dài gần 30km. Chính vì vậy mà Huyện Vĩnh Linh tiếp giáp với
nhiều đơn vị hành chính trong và ngoài tỉnh:
Phía Đông của huyện giáp với biển Đông.
Phía Tây của huyện giáp với huyện Hướng Hóa.
Phía Nam của huyện giáp với huyện Gio Linh.
Phía Bắc của huyện giáp với huyện Lệ Thủy (Quảng Bình).
Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị
(Nguồn: Bản đồ ATLAT năm 2009)
8
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Vĩnh Linh là 617,15 km2; Dân số 86.600
người; Bao gồm 22 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó có 3 thị trấn (Bến
Quan, Cửa Tùng, Hồ Xá), 19 xã (Vĩnh Thái, Vĩnh Tú, Vĩnh Trung, Vĩnh Chấp,
Vĩnh Nam, Vĩnh Khê, Vĩnh Long, Vĩnh Kim, Vĩnh Hòa, Vĩnh Thạch, Vĩnh Lâm,
đường sắt đến quốc lộ 15 lan rộng lên phía Bắc nông trường Quyết Thắng và một
phần phía Tây xã Vĩnh Chấp.
+ Tiểu vùng 3: Đất phù sa không được bồi hàng năm với tổng diện tích
4.245 ha phân bố tập trung ở đồng bằng Lâm - Sơn - Thủy - Long - Nam - Hòa Thành - Giang.
+ Tiểu vùng 4: Đất nâu đỏ trên đá bazan với tổng diện tích 8.913 ha. Phân
bố chủ yếu ở nông trường Quyết Thắng và nông trường Bến Hải, từ trước đến nay
vẫn khẳng định đây là loại đất tốt nhất của Vĩnh Linh.
+ Tiểu vùng 5: Cồn cát trắng vàng và cát biển với tổng diện tích 7.434 ha.
Loại đất này phân bố tập trung ở Vĩnh Tú, Vĩnh Trung và Vĩnh Quang. [11]
Bảng 1. Diện tích và cơ cấu các loại đất huyện Vĩnh Linh
Loại đất
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Tổng diện tích tự nhiên
62.317
100,00
Đất đỏ vàng
28.983
46,51
Đất vàng nhạt
địa phương đã trồng được một diện tích rừng tập trung, cùng với các chính sách
của Đảng và Nhà nước về khuyến khích phát triển lâm nghiệp, phát triển kinh tế
vùng gò đồi là các dự án trồng rừng, bảo vệ rừng làm cho tài nguyên rừng và thảm
thực vật rừng thêm phong phú hơn. Trồng rừng đi đôi với chăm sóc, bảo vệ, kết
10
hợp giữa khai thác và trồng mới làm cho diện tích rừng ở Vĩnh Linh ngày một tăng
phủ xanh đất trồng đồi núi trọc kết hợp bảo vệ tài nguyên đất đai. [11]
Bảng 2. Thống kê hiện trạng sử dụng đất năm 2014
STT Loại đất
Tổng số (Km2)
Cơ cấu (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên
623,17
100,00
1
Đất rừng
365,43
58,64
4,21
[Nguồn: Bản đồ sử dụng đất huyện Vĩnh Linh]
e) Khí hậu
Vĩnh Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt cao, chế
độ ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào. Tuy nhiên, Vĩnh Linh cũng là vùng có khí hậu
khá khắc nghiệt, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng thổi mạnh
từ tháng III đến tháng IX thường gây nên hạn hán, nhiệt độ có thể lên tới 400 420C. Từ tháng X đến tháng II năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc
kèm theo mưa bão nên dễ gây nên lũ lụt. Vĩnh Linh nằm trong khu vực chịu nhiều
ảnh hưởng của bão. Mùa bão thường tập trung vào các tháng IX và X. Bão có
cường suất gió mạnh kèm theo mưa lớn tạo ra lũ quét ảnh hưởng nghiêm trọng
đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư.
Nhiệt độ trung bình năm từ 240 - 250C ở vùng đồng bằng, 220 - 230C ở độ
cao trên 500m. Mùa lạnh có 3 tháng (XII và I, II năm sau), nhiệt độ xuống thấp,
tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống dưới 220C ở đồng bằng, dưới 200C ở độ cao trên
500m. Mùa nóng từ tháng V đến tháng VIII nhiệt độ cao trung bình 280C, tháng
nóng nhất từ tháng 6, 7, nhiệt độ có thể lên tới 40 0 - 420C. Biên độ nhiệt giữa các
tháng trong năm chênh lệch 70 - 90C.
Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 - 2.200mm; số ngày mưa
trong năm dao động từ 154 - 190 ngày. Chế độ mưa ở đây biến động rất mạnh theo
các mùa và cả các năm. Trên 70% lượng mưa tập trung vào các tháng IX, X, XI.
11
Có năm lượng mưa trong 1 tháng mùa mưa chiếm xấp xỉ 65% lượng mưa trung
bình nhiều năm. Mùa khô thường từ tháng XII đến tháng VII năm sau, khô nhất
vào tháng VII, đây là thời kỳ có gió Tây Nam thịnh hành. Tính biến động của chế
độ mưa ảnh hưởng nhiều tới sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, cũng như thi công
Huyện Vĩnh Linh nằm trong khu vực sông Bến Hải. Hệ thống sông Bến Hải
có các nhánh như Rào Thành, Sa Lung, Cảnh Hòm hợp thành, có chiều dài 59 km.
Lưu vực có diện tích 809 km2 được hình thành do hai sông chính là sông Bến Hải
và sông Bến Xe cùng nhiều sông suối nhỏ khác, bắt nguồn từ dãy Động Châu cao
trên 1200 km cách mặt biển và đổ ra biển qua Cửa Tùng. Ngoài hệ thống sông
suối, Vĩnh Linh còn có nhiều hồ chứa nước có dung tích trên 1 triệu m3: hồ La
Ngà (29km2, 36,7 triệu m3), hồ Bảo Đài (28,8 km2, 25,5 triệu m3) và hồ Bàu Nhum
(4,4 km2, 9 triệu m3), hồ chứa nước Sa Lung (là đập dâng nước, lưu lượng phụ
thuộc vào dòng chảy của sông Sa Lung) đây là các hồ có chức năng chứa nước
sinh hoạt và nước cho các hoạt động canh tác nông nghiệp.
Ở vùng duyên hải, do địa hình bằng phẳng, lượng nước ngầm trong vùng
cát khá lớn và có nguồn nước mặt được bổ sung từ các con sông nên có nhiều tiềm
năng khai thác và sử dụng nguồn nước. Theo số liệu của đoàn địa chất 708, trữ
lượng nước mặt khoảng 1000m3/km2/ngày. Với những năm có từ 3-4 tháng hạn
(1993,1998) mực nước ngấm vào cuối mùa khô chỉ còn ở độ sâu 50-130m. [11]
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
a) Dân số
Tính đến hết ngày 31/12/2014 dân số trung bình của huyện là: 86.600 người.
Mật độ dân số 140 người/km2. Tuy nhiên dân số phân bố không đồng đều. Tập
trung chủ yếu ở các xã đồng bằng và thị trấn huyện, mật độ dân số theo đơn vị
hành chính cũng có sự chênh lệch đáng kể. Sự phân bố không đều do nhiều yếu tố
tác động như: điều kiện khí hậu, địa hình, tài nguyên đất, giao thông, văn hoá, xã
hội, y tế.
b) Cơ sở hạ tầng
Trong quá trình phát triển, huyện quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Các công
trình trọng điểm như: Lưới điện, trạm y tế, trường học, giao thông, thủy lợị và các
công trình phúc lợi… luôn được huyện chú trọng.
13
nuôi, xóa vườn tạp chuyển sang chuyên canh với các loại cây có giá trị kinh tế,
đưa các loại giống cây, con có năng suất, giá trị kinh tế cao vào thay thế giống cũ,
14
tiếp tục dồn điền đổi thửa để thuận tiện xây dựng các mô hình kinh tế trang trại;
quy hoạch các vùng phù hợp các loại cây có giá trị hàng hóa như: Cao su, hồ tiêu,
lạc. Chỉ đạo các địa phương tăng diện tích và hiệu quả thực hiện đề án sản xuất
nông nghiệp đạt giá trị thu nhập 50 triệu đồng/ha/năm trở lên; xây dựng câu lạc bộ
các mô hình sản xuất nông nghiệp 100 triệu/ha trở lên nhằm tạo điều kiện để nông
dân trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ nhau trong sản xuất.
Giá trị sản xuất năm 2015 đã đạt 5.439 tỷ đồng, tăng 15,6% so với năm
2014, trong đó ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp tăng 6,9%, công nghiệp xây dựng
tăng 18,5%, thương mại-dịch vụ tăng gần 19%. Tổng thu ngân sách trong toàn
huyện đạt 395,6 tỷ đồng, tăng 13% so với năm 2014, trong đó thu trên địa bàn đạt
56,5 tỷ đồng, tăng 3,6%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 30 triệu đồng, tăng 3
triệu đồng so với năm 2014. Toàn huyện có 6.598 ha lúa, gần 1.300 ha hồ tiêu,
gần 1.500 ha lạc, 6.582 ha cao su. Sản lượng lúa trong toàn huyện thu được gần
34.471tấn/kế hoạch 37.170, giảm 4.065 tấn so với năm 2014. Một số cây lương
thực khác tăng về năng suất và sản lượng; sản lượng khai thác thủy, hải sản đạt
4.652 tấn, vượt kế hoạch 502 tấn và tăng 425 so với năm 2014. Vĩnh Linh có gần
1.000 ha cho thu nhập trên 70 đến 300 triệu đồng /ha/năm. Toàn huyện có 342
trang trại lớn, vừa và nhỏ. Chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm, thủy cầm được duy trì
và phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế không nhỏ cho nông dân. Nhiều địa phương
còn vận động nông dân chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang tập trung quy mô, thâm
canh nuôi bò nhốt, lợn siêu nạc, vịt siêu trứng… thu lợi nhuận gấp nhiều lần so
với lối chăn nuôi truyền thống. Năm 2015, toàn huyện trồng mới 1600 ha rừng tập
trung, 820 nghìn cây phân tán, đưa độ che phủ của rừng lên 52%.
Trên lĩnh vực Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Thương mại - Dịch vụ
- Lũ sớm xảy ra vào tháng VI đến đầu tháng IX hàng năm. Lũ này không có
tính chất thường xuyên nhưng lũ có tổng lượng lớn hơn lũ tiểu mãn, tập trung lũ
nhanh. Thời kỳ xảy ra lũ sớm thường bắt đầu vào thời kỳ triều bắt đầu cao. Do vậy
mực nước lũ cao hơn lũ tiểu mãn. Lũ này ít ảnh hưởng tới dân sinh mà chủ yếu là
ảnh hưởng tới nông nghiệp và thủy sản.
- Lũ chính vụ xảy ra từ trung tuần tháng IX đến cuối tháng XI đầu tháng XII
hàng năm. Đây là thời kỳ mưa lớn trong năm và lũ thời kỳ này có thể xảy ra lũ
quét sườn dốc gây đất đá lở hay ngập lụt ở hạ du. Lũ này thường đi liền với bão
gây thiệt hại lớn cho kinh tế xã hội, gây chết người và hư hỏng công trình, cơ sở
16
hạ tầng. Lũ kéo dài 5 – 7 ngày, đỉnh lũ cao, tổng lượng lớn. Do đó những tổn thất
do lũ lụt gây ra cho tỉnh Quảng Trị là đáng kể.
Đặc biệt trong những năm gần đây, do tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh
cùng với việc các trận lũ xuất hiện với cường độ ngày càng lớn làm cho những
thiệt hại về kinh tế - xã hội ngày càng tăng. Do đó các biện pháp phi công trình
như; cảnh báo lũ sớm, lập các phương án ứng cứu khẩn cấp, nâng cao nhận thức
của người dân về lũ vv…đóng vai trò chủ đạo trong công tác phòng chống lũ lụt
trong tỉnh cũng như trên các lưu vực sông. [1]
17
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN
THƯƠNG DO LŨ LỤT
2.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
2.1.1 Sự phát triển của khái niệm tính dễ bị tổn thương
Khái niệm về tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua.
Quan điểm thứ (2):
Blaikie (1994) cho rằng: Dễ bị tổn thương có nghĩa là các đặc tính của một
người hoặc một nhóm về năng lực của họ có thể dự đoán, đối phó, chống lại, và
phục hồi từ tác động của thiên tai. Nó là sự kết hợp của các yếu tố xác định mức
độ mà cuộc sống và sinh kế của người khác được đặt tại rủi ro bằng một sự kiện
rời rạc và nhận dạng trong tự nhiên hoặc trong xã hội.
Theo Christian Kuhlicke quan niệm Tính dễ bị tổn thương xuất phát từ một
khái niệm về sự không hiểu biết có nghĩa là con người đối phó như thế nào với
kiến thức hạn chế của mình.
Khái niệm dễ bị tổn thương áp dụng cho một hệ thống xã hội do đó có thể
được hiểu là "một tập hợp các điều kiện và quy trình kết quả từ vật lý, các yếu tố
xã hội, kinh tế và môi trường, làm tăng tính nhạy cảm của một cộng đồng có các
mối nguy hiểm tác động " (ISDR 2002).
Quan điểm thứ (3):
Joanne Linnerooth-Bayer định nghĩa “Tổn thương là một thuật ngữ phân
tích, tính dễ bị tổn thương là khái niệm được hiểu trong một phạm vi rộng và có
quy tắc, bao gồm cả địa lý, rủi ro, hiểm họa, kỹ thuật, nhân chủng học và sinh
thái”. [4]
Trong điều kiện tiếp xúc với một số căng thẳng hoặc khủng hoảng, Tính dễ
bị tổn thương không chỉ bởi tiếp xúc với sự nguy hiểm mà còn phụ thuộc vào khả
năng đối phó của những người bị ảnh hưởng (Anderson và Woodrow 1991; Dow
1992; Watts và Bohle 1993; Cutter 1996, Clark và cộng sự 1998; Wu và cộng sự
2002 ). Khả năng đối phó đã được xác định như là một sự kết hợp giữa sức kháng
cự (khả năng đối phó các tác động gây hại của mối nguy hiểm và tiếp tục tác động)
cũng như khả năng phục hồi tổn thương một cách nhanh chóng (Dow 1992, Cutter
1996, Clark và cộng sự 1998, Wu và cộng sự 2002).
Năm 1996, SAR đã xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ mà biến đổi
khí hậu có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; nó không chỉ phụ thuộc vào
19
tổn thương của một vùng nào đó thì nó sẽ cung cấp những thông tin cần thiết hỗ
20
trợ trong việc ra quyết định nhằm chống lại các mối nguy hiểm do lũ lụt gây ra mà
xã hội phải hứng chịu. [4]
2.2 TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ
Ba thành phần được lựa chọn để đánh giá tính dễ bị tổn thương được có thể
được xác định theo đánh giá thứ 3 của IPCC: “Tính dễ bị tổn thương là một hàm
của các đặc trưng, độ lớn, và tỷ lệ thay đổi nhiệt độ với độ phơi nhiễm của hệ
thống, tính nhạy và khả năng phục hồi” (McCarthy và cộng sự 2001). Vì vậy, theo
định nghĩa này, tính dễ bị tổn thương có ba thành phần: tiếp xúc (độ phơi nhiễm),
tính nhạy và khả năng phục hồi. Ba thành phần này được mô tả như sau:
2.2.1 Độ phơi nhiễm (E)
Độ phơi nhiễm được hiểu như là mối đe dọa trực tiếp, bao hàm tính chất, mức
độ thay đổi các yếu tố cực đoan của khu vực như: Bản đồ tự nhiên; bản đồ sử dụng
đất; bản đồ ngập lũ (tần suất, thời gian, lượng lũ); dân số, tỷ lệ dân cư nông thôn,
thành thị, dân tộc thiểu số, phong tục, tập quán, tỷ lệ ngành nghề sản xuất.
2.2.2 Tính nhạy (S)
Tính nhạy mô tả các điều kiện môi trường của con người có thể làm trầm
trọng thêm mức độ nguy hiểm, cải thiện những mối nguy hiểm hoặc gây ra một
tác động nào đó như: Thu nhập, chi tiêu hộ gia đình; tỷ lệ giới tính, độ tuổi, nghề
nghiệp, giáo dục, hệ thống giao thông, liên lạc, thời gian ở trong khu vực ảnh
hưởng lũ, kinh nghiệm đối phó với lũ, nhận thức về nguy cơ lũ lụt, nhận thức về
rủi ro lũ lụt, sự chuẩn bị cho việc xuất hiện lũ.
2.2.3 Khả năng phục hồi (R)
Khả năng phục hồi là khả năng thực hiện các biện pháp thích ứng nhằm
ngăn chặn các tác động tiềm năng như: Năng lực đối phó, quản lý và sự cứu trợ,
hỗ trợ có thể nhận được từ chính quyền địa phương, Cấu trúc nhà ở, hệ thống đê
22