1/ TÊN ĐỀ TÀI:
KINH NGHIỆM KHAI THÁC TỐT KÊNH HÌNH TRONG GIẢNG
DẠY MÔN LỊCH SỬ LỚP 8 BẬC THCS
2/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình dạy học, các nhà giáo dục đều thừa nhận 4 thành tố:
Mục tiêu- Nội dung- Phương pháp dạy học - Thiết bị dạy học là không thể
thiếu trong quá trình dạy học. Mỗi nhân tố đều có mối quan hệ nội tại nhưng
giữa chúng có mối quan hệ mật thiết tác động lẫn nhau, do mối quan hệ đó
chúng thúc đẩy quá trình nhận thức của học sinh. Mối quan hệ này được thể
hiện qua sơ đồ sau:
Mục tiêu dạy học được đặt ra xuất phát từ nhiều yếu tố, để thực hiện
cần có nội dung tương ứng, có phương pháp dạy học và hệ thống thiết bị dạy
học phù hợp.
Nội dung dạy học không chỉ bám sát mục tiêu đã định mà nó được xác
định trên nền tảng phương pháp dạy học và thiết bị dạy học tương ứng.
Phương pháp dạy học phải phù hợp với mục tiêu, nội dung dạy học và
hệ thống thiết bị dạy học cần có, chính nó ảnh hưởng tích cực đến việc hoàn
thành nội dung và thực hiện mục đích dạy học.
Trong những thành tố trên, thiết bị dạy học được các thành tố chi phối
và mặt khác nó có tác động tích cực trong việc thực hiện mục tiêu dạy học.
1
MỤC TIÊU
NỘI DUNG
PPDH
TBDH
Xuất phát từ lý luận đó, chương trình đổi mới giáo dục phổ thông là
một quá trình đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, đánh
giá chất lượng giáo dục trong đó việc biên soạn chương trình và sách giáo
khoa mới lần này không chỉ nêu nội dung và thời lượng dạy học mà thực sự là
một kế hoạch hành động sư phạm, kết nối mục tiêu giáo dục với các lĩnh vực
nội dung và phương pháp giáo dục, phương tiện dạy học, tổ chức các hoạt
Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên, tất yếu của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông là
tái tạo lịch sử, tức là cho HS tiếp xúc với những chứng cứ vật chất, những dấu
vết của quá khứ, tạo ra ở HS những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về
các sự kiện, hiện tượng lịch sử, những biểu tượng về con người và hoạt động
của con người trong bối cảnh thời gian, không gian xác định với những điều
kiện lịch sử cụ thể. Vậy tái tạo lịch sử bằng phương thức nào? Để tạo ra
những hình ảnh lịch sử cụ thể, bên cạnh lời nói sinh động GV sử dụng các
phương tiện trực quan. Căn cứ vào tài liệu học tập và mục tiêu lĩnh hội, có thể
lựa chọn các phương tiện trực quan khác nhau như:
+Tạo hình ảnh một sự vật cụ thể: dùng hiện vật, tranh, ảnh, phim đèn
chiếu, video
+Tạo biểu tượng về không gian, hoàn cảnh địa lí diễn ra các sự kiện
lịch sử: dùng tranh, ảnh, bản đồ, sa bàn.
+Trình bày diễn biến các sự kiện lịch sử: dùng tranh, ảnh, phim đèn
chiếu, phim màn ảnh rộng, video…
+Tạo biểu tượng về thời gian: dùng sơ đồ, bảng niên biểu…
+Tạo biểu tượng về sự phát triển: dùng sơ đồ, biểu đồ, tranh, ảnh, bảng
so sánh…
So với lời nói của giáo viên, các phương tiện trực quan có ưu thế hơn,
như tạo ra hình ảnh lịch sử cụ thể, sinh động và chính xác hơn, giúp học sinh
thuận lợi hơn trong việc tạo biểu tượng lịch sử. Vì vậy cần quan tâm sử dụng
các phương tiện trực quan kết hợp với lời nói sinh động của giáo viên.
3
3.2.Muốn đổi mới phương pháp dạy học trong bộ môn lịch sử đặc
biệt là trong lĩnh vực khai thác các kênh hình của sách giáo cần phải dựa
vào đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực: Dạy học tăng cường
phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ chức thực
hiện các hoạt động học tập của HS.
Dạy học thay vì lấy “Dạy” làm trung tâm sang lấy “Học” làm trung
tâm. Trong phương pháp tổ chức, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”,
giàu hình ảnh giáo viên thông qua tường thuật, miêu tả, kể chuyện, nêu đặc
điểm của nhân vật lịch sử …kết hợp với giới thiệu các tranh ảnh, bản đồ, lược
đồ … , sử dụng thêm vài câu hỏi, học sinh nhìn qua loa vào sách giáo khoa và
trả lời, khoảng 10-15 lần như thế là xong tiết học. Bằng phương pháp này, giờ
học lịch sử đã trở thành giờ kể chuyện lịch sử, các sự kiện, hiện tượng lịch sử
được trình bày một cách trừu tượng, qua loa, chưa đạt tới mức độ có thể giúp
học sinh hình dung về quá khứ, các kĩ năng thực hành bộ môn, khả năng quan
sát, suy luận, trình bày các vấn đề lịch sử… của học sinh đã không được chú
trọng theo đúng yêu cầu đổi mới của mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình
sách giáo khoa và phương pháp dạy học. Với việc sử dụng đó đồ dùng trực
quan chỉ có giá trị được dùng để minh họa cho lời giảng của giáo viên nên
giá trị sử dụng của đồ dùng trực quan trong quá trình tổ chức hoạt động dạy
học không cao hoặc không cần thiết ( không sử dụng cũng được). Đây chính
là kiểu dạy học “cầm tay chỉ việc” có tính cách “học hộ” và áp đặt, làm cho
người học trở nên thụ động, mất khả năng và hứng thú tìm tòi, sáng tạo.
4.2.Các giải pháp đã sử dụng:
Trong quá trình biên soạn sách giáo khoa, sách giáo viên, các tác giả đã
chú ý lựa chọn danh mục thiết bị và chuẩn bị các thiết bị dạy học theo một số
yêu cầu để có thể phát huy vai trò của đồ dụng dạy học, quá trình khai thác và
sử dụng các kênh hình trong sách giáo khoa của giáo viên đã diễn ra như sau:
a/Sử dụng bản đồ, lược đồ: Việc sử dụng bản đồ, lược đồ giáo khoa
trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học đã được giáo viên thực hiện
bằng 2 bước:
5
-Bước 1: GV giới thiệu tên bản đồ, lược đồ; ranh giới, các quy ước trên
bản đồ, lược đồ.
-Bước 2: Bằng lời nói sinh động kết
hợp với sử dụng bản đồ, lược đồ giáo viên
đã tường thuật, miêu tả, nêu đặc điểm, giải
thích…những sự kiện chính xác được quy
đến cuối tiết học, nếu còn thời gian giáo viên mới cho học sinh lên bảng dựa
vào lược đồ trình bày tình hình nước Pháp năm 1793 để rèn luyện kĩ năng bộ
môn cho học sinh.
Trường hợp thứ hai, do nhận thức một cách máy móc về yêu cầu đổi
mới phương pháp dạy học nên có giáo viên đã chuyển giao công việc trình
bày diễn biến các sự kiện lịch sử trên lược đồ, bản đồ cho học sinh thực hiện
bằng một câu hỏi: Em hãy trình bày tình hình của nước Pháp năm 1793?. Với
cách thực hiện này, chỉ một vài học sinh giỏi, khá trong lớp nhanh chóng ghi
nhớ nội dung diễn biến từ sách giáo khoa và lên bảng trình bày minh họa như
một cái máy nhưng không hiểu được bản chất sự kiện lịch sử.
b.Tranh ảnh lịch sử (tranh chân dung nhân vật lịch sử, tranh biếm
họa, tranh lịch sử…): Tranh ảnh lịch sử là
những tài liệu lịch sử quý đã được chọn để sử
dụng trong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả
giờ dạy, góp phần nâng cao chất lượng bộ
môn. Giáo viên khi sử dụng tranh ảnh lịch sử
chỉ tập trung vào việc rèn luyện cho HS kĩ
năng quan sát, mô tả, tường thuật là chủ yếu.
Quá trình khai thác tranh ảnh lịch sử này đã
được giáo viên thực hiện như sau:
b.1.Tranh nhân vật lịch sử: Ví dụ:
Hình 44.Tôn Trung Sơn (1866 – 1925) trang 61(Bài 10: Trung Quốc cuối thế
kỉ XIX-đầu thế kỉ XX)
Bước 1: GV cho HS quan sát Hình 44 sách giáo khoa Sử 8 trang 61.
7
Bước 2: Giáo viên giới thiệu nhân vật lịch sử ở Trung Quốc vào thế kỉ
XX là Tôn Trung Sơn, sinh năm 1866 mất năm 1925, một đại diện ưu tú nhất
của phong trào cách mạng tư sản. Giáo viên nêu khái quát ngắn gọn tiểu sử
của nhân vật ấy: Tôn Trung Sơn (1866 – 1925), vốn tên là Văn, tự Dật Tiên,
xuất thân trong một gia đình nông dân tỉnh Quảng Đông. Thuở hàn vi, ông
được thể hiện qua bức tranh: Trung Quốc là một cái bánh ngọt và bị 6 nước
đế quốc chia cắt và sử dụng nó để thông báo đơn vị kiến thức Trung Quốc bị
các nước đế quốc xâm chiếm chứ không thông qua chi tiết biếm họa khai thác
một đơn vị kiến thức thứ hai của bức tranh đó là: nguyên nhân các đế quốc
xâu xé Trung Quốc? Tính biếm họa của bức tranh nhằm thể hiện nội dung
kiến thức không được khai thác, học sinh thụ động nắm kiến thức không có
cơ hội được phát huy tính chủ động sáng tạo của mình thông qua kĩ năng quan
sát, nhận xét, suy luận để tiếp nhận kiến thức mới
c.Tranh lịch sử: Hình 99. Nông dân Việt Nam trong thời kì Pháp
thuộc (Bài 29: Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những
chuyển biến về kinh tế, xã hội ở Việt Nam)
Buớc 1: giáo viên
cho học sinh quan sát H99.
Nông dân Việt Nam trong
thời kì Pháp thuộc
Bước 2: GV đặt câu
hỏi: Quan sát H 99, em hãy
cho biết dưới thời Pháp
thuộc, đời sống của người
nông dân như thế nào?
HS sẽ trả lời: đời
sống của người nông dân
cực khổ.
Với cách tổ chức hoạt động dạy - học như
trên, giáo viên chỉ mới cho HS sử dụng kĩ năng
quan sát tranh, ảnh và xác định một cách khái
9
quát nội dung được thể hiện qua kênh hình và nhằm mục đích minh họa cho
phần kênh chữ của sách giáo khoa chứ chưa qua kênh hình giúp các em cảm
nhận được mức độ cực khổ trăm bề của nông dân ta dưới thời Pháp thuộc cao
trong quá trình đào tạo chỉ tập trung vào nêu vị trí và ý nghĩa của đồ dùng trực
quan mà chưa chú trọng vào việc cung cấp cho giáo viên phương pháp sử
dụng các loại đồ dùng trực quan trong quá trình dạy – học ở trường phổ
thông. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS được triển khai tại các
lớp tập huấn giáo viên dạy chương trình thay sách giáo khoa 4 năm vừa qua
với thời gian rất ngắn, còn nặng về tìm hiểu, làm quen với nội dung chương
trình, SGK; chưa tập huấn sâu sắc, kĩ lưỡng về PPDH; thiếu những mẫu cụ
thể để bắt chước hoặc vân dụng các PPDH tích cực, đặc biệt chưa chú trọng
nội dung bồi dưỡng sử dụng thiết bị dạy học cho giáo viên theo yêu cầu đổi
mới phương pháp dạy học.
-Một bộ phận giáo viên khi tham gia học bồi dưỡng chuyên môn về đổi
mới phương pháp dạy học, đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa
THCS thì học môn Địa nhưng khi phân công lao động thì dạy cả môn Sử nên
không nắm vững các yêu cầu đặc trưng của bộ môn.
-Nhiều đơn vị trường học đã không tạo điều kiện để giáo viên có dạy
qua các khối lớp 6,7,8, 9 trong bậc THCS, đã 6 năm thực hiện chương trình
thay sách giáo khoa vẫn có trường hợp giáo viên chỉ mới dạy 1-2 khối lớp/ 4
khối trong bậc học.
-Phương pháp dạy học trước đây chủ yếu dựa vào sách giáo khoa để
cung cấp kiến thức cho học sinh ghi nhớ là chính, nên đã xuất hiện quan điểm
cho rằng việc sử dụng đồ dùng trực quan chỉ cần thiết đối với các môn tự
nhiên còn không cần thiết đối với các môn xã hội, nếu có sử dụng cũng chỉ
mang tính chất là để minh họa Tình hình này được kéo dài trong thời gian
khá lâu nên nay đã trở thành quen đối với nhiều giáo viên dạy môn Lịch sử,
đến khi có đồ dùng trực quan cũng ít khi sử dụng trên lớp (dạy chay) hoặc có
sử dụng thì chưa đúng với mục đích yêu cầu của việc sử dụng đồ dùng trực
quan theo hướng tích cực.
11
-Chưa nắm vững yêu cầu rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn của học
sinh theo từng khối, lớp. Xem nhẹ năng lực thực hành bộ môn của học sinh
nên có tác động rất mạnh đến nội dung dạy học. Ví như các kênh hình đã
chứa đựng nhiều thông tin, chi tiết có thể giúp cho HS nắm bắt nội dung học
tập thì nội dung kênh chữ hay người thầy không nhất thiết phải trình bày quá
kĩ. Ở đây, kênh chữ và kênh hình đều cùng chứa đựng thông tin dạy học
nhưng chúng có cách thể hiện nội dung theo đặc trưng riêng và đều giúp học
sinh tiếp cận kiến thức một cách chủ động, sáng tạo và thích thú.
Trong quá trình đổi mới giáo dục phổ thông, PPDH (phương pháp dạy
học) và TBDH (thiết bị dạy học) có mối quan hệ hết sức chặt chẽ, ở nhiều
trường hợp với phương pháp này cần phải có ĐDDH tương ứng kia và ngược
lại có ĐDDH này cần phải có phương pháp DH tương ứng. Do PPDH đã
được đổi mới căn bản nên giờ đây ĐDDH trực quan không còn là những đồ
dùng để GV minh họa mà ĐDDH có nhiệm vụ giúp cho quá trình nhận
thức của học sinh chủ động, sáng tạo, rèn luyện kĩ năng…làm cho nội
dung học tập súc tích, PPDH linh hoạt, giờ học có hiệu quả cao.
Trên cơ sở có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của ĐDDH, cơ sở
lý luận về đổi mới giáo dục trong việc sử dụng khai thác kênh hình của giáo
viên, từ kinh nghiệm thực tế của bản thân qua quá trình dạy học xin được
trình bày phương pháp sử dụng kênh hình trong quá trình dạy học lịch sử một
cách có hiệu quả:
5.1: Việc khai thác kênh hình sách giáo khoa phải được thực hiện
theo đúng năm bước:
Bước 1: Cho HS quan sát tranh, ảnh, lược đồ để xác định một cách
khái quát nội dung tranh, ảnh cần khai thác.
Bước 2: GV đưa ra câu hỏi nêu vấn đề và tổ chức, hướng dẫn HS tìm
hiểu nội dung tranh ảnh, lược đồ
Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh, lược đồ sau
khi đã quan sát, kết hợp gợi ý của GV và tìm hiểu nội dung trong bài học.
Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiện nội
dung khai thác tranh, ảnh cho HS.
13
14
hướng dẫn, tổ chức cho học sinh lớp 8 dựa vào kênh hình để tự mình khai
thác kiến thức là đảm bảo tính vừa sức, khoa học, phù hợp với mục tiêu của
chương trình giáo dục mới. Khi tổ chức các hoạt động dạy học có sử dụng
lược đồ, bản đồ nhất thiết phải lưu ý sử dụng và khai thác các kĩ năng sau: vẽ
lược đồ, tường thuật, miêu tả, quan sát, so sánh, nhận định đánh giá, rút ra
quy luật, bài học lịch sử. Quá trình khai thác phải thực hiện các bước như sau:
-Bước 1: GV hướng dẫn học sinh đọc tên lược đồ, bản đồ; xác định
ranh giới, chú giải bản đồ, lược đồ.
-Bước 2: GV đặt câu hỏi nêu vấn đề nội dung tìm hiểu qua lược đồ, bản
đồ
-Bước 3: HS trả lời câu hỏi bằng việc trình bày kết quả tìm hiểu nội
dung bản đồ, lược đồ.
-Bước 4: HS - GV nhận xét, bổ sung, mở rộng hoàn thiện kiến thức.
Ví dụ: Hình 10. Lược đồ lực lượng phản cách mạng tấn công nước
Pháp năm 1793 (Trang 15, Bài 2: Cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1794)
-Bước 1: Giáo viên giới thiệu ( hay học
sinh tự đọc) nội dung tên lược đồ, chú giải
của lược đồ, ranh giới. Hình 10. Lược đồ lực
lượng phản cách mạng tấn công nước Pháp
năm 1793
-Bước 2: Hãy dựa vào lược đồ, nêu
tình hình của nước Pháp năm 1793?
-Bước 3: HS dựa vào lược đồ, dung lời
nói để tường thuật, miêu tả, cụ thể hóa tình
hình của nước Pháp như sau: “Năm 1793,
quân Anh cùng quân các nước châu Âu tấn công nước Pháp cách mạng từ
nhiều hướng, trong nước bọn nổi loạn khắp nơi, nền độc lập bị đe dọa”
-Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của HS và hoàn chỉnh nội
dung lược đồ cần cung cấp cho HS là: nước Pháp gặp khó khăn về ngoại xâm
16
Sử dụng chân dung các nhân vật lịch sử có ý nghĩa rất lớn trong học tập
lịch sử, cần chú ý đến mục đích giáo dục, giáo dưỡng và phát triển tư duy. Để
giúp HS học cách tiếp cận lịch sử qua tranh nhân vật lịch sử chúng ta có thể
hướng dẫn các em đi theo những bước và tìm hiểu theo hướng sau:
Trước tiên, GV phải xác định nội dung cần khai thác từ tranh nhân vật
lịch sử:
*Ở mức độ 1: tiếp cận đầu tiên tranh các nhân vật lịch sử, học sinh cần
tìm hiểu: Ngày tháng năm sinh và mất, đặc điểm về nhận dạng.
*Ở mức độ 2: Đi sâu hơn, học sinh cần tìm hiểu: thái độ lập trường,
quan điểm chính trị, tư tưởng… của nhân vật lịch sử đang được tìm hiểu được
thể hiện qua những chi tiết nào?
Có rất nhiều nhân vật lịch sử được đưa vào chương trình giảng dạy nên
trong quá trình giảng dạy giáo viên phải tùy theo nhân vật lịch sử để xác định
mức độ khai thác kiến thức với từng tranh nhân vật lịch sử cho phù hợp với
yêu cầu của bài học chứ không nhất thiết phải thực hiện hết các yêu cầu đã
nêu trên. Riêng đối với các anh hùng dân tộc, lãnh tụ cách mạng phải lưu ý
làm nổi bật tính cách của nhân vật ấy thông qua việc miêu tả hình thức bề
ngoài, hay nêu khái quát ngắn gọn tiểu sử của nhân vật ấy làm cho học sinh
hứng thú, kích thích óc tò mò, phát triển năng lực nhận thức.
Sau đó giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh hoạt động theo các bước sau:
-Bước 1:Cho HS quan sát tranh, ảnh để xác định một cách khái quát nội
dung tranh ảnh cần khai thác.
-Bước 2: GV đưa ra câu hỏi nêu vấn đề và tổ chức, hướng dẫn HS tìm
hiểu nội dung tranh ảnh.
-Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh sau khi đã
quan sát, kết hợp gợi ý của GV và tìm hiểu nội dung bài học.
-Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của học sinh, hoàn thiện
nội dung khai thác tranh, ảnh cho HS
Ví dụ: Hình 44.Tôn Trung Sơn (1866 – 1925) trang 61(Bài 10: Trung
Như vậy ngoài việc dùng ảnh nhân vật để giới thiệu hình dạng nhân vật
lịch sử giáo viên còn có thể khai thác quan điểm, lập trường giai cấp của nhân
18
H44.Tôn Trung Sơn(1866-1925)
vật đó từ đồ dùng dạy học này và đã tạo học sinh một ấn tượng sâu sắc về
nhân vật lịch sử vừa học.
b.2.Tranh biếm họa: Trong quá trình khai thác tranh biếm họa, hãy
chỉ ra nét vẽ có tính biếm họa và ý nghĩa châm biếm ( nhẹ nhàng hay sâu cay)
hoặc ở mức độ đả kích của bức tranh, qua đó nêu nhận xét về thái độ của tác
giả đối với sự kiện, hiện tượng hay thời kì lịch sử đó. Để giúp HS học cách
tiếp cận lịch sử qua tranh lịch sử chúng ta có thể hướng dẫn các em đi theo
những bước tìm hiểu như sau:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh quan sát tranh ảnh để xác định một cách
khái quát nội dung tranh ảnh cần khai thác.
Bước 2: GV đặt vấn đề để học sinh phát hiện nội dung được thể hiện
của tranh biếm họa: Chi tiết biếm họa? mục đích biếm họa?
Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh sau khi đã
quan sát, kết hợp gợi ý của GV và tìm hiểu nội dung bài học.
Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiện nội
dung khai thác tranh, ảnh cho HS
Ví dụ Hình 42: Các nước đế quốc xâu xé “cái bánh ngọt” Trung Quốc,
trang 59. (Bài 10: Trung
Quốc cuối thế kỉ XIX-
đầu thế kỉ XX).
Hoạt động dạy học được
thực hiện như sau:
-Bước 1:
Cho học sinh quan sát H
42, xác định một cách
khái quát nội dung tranh ảnh. (Trung Quốc được xem như một cái bánh ngọt,
Bước 1: GV xác định nguồn gốc, thời điểm của bức tranh, cách thể hiện
nội dung của tác giả trên tranh ảnh.
Bước 2: Cho HS rút ra nội dung kiến thức được thể hiện qua tranh lịch
sử.
20
Bước 3: GV nêu yêu cầu cụ thể cho HS xử lí thông tin tiếp nhận từ
tranh ảnh lịch sử
Bước4: GV nhận xét, bổ sung hoàn thiện ý kiến trả lời của HS
Ví dụ: Hình 99. Nông dân Việt Nam trong thời kì Pháp thuộc (Bài 29:
Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những chuyển biến về
kinh tế, xã hội ở Việt Nam)
Buớc 1: GV xác
định đây hình ảnh người
nông dân Việt Nam cày
ruộng dưới thời Pháp thuộc.
(người nông dân dưới thời
Pháp thuộc lưng trần, nón
cời, gầy yếu, hai người
đang kéo cày thay cho trâu).
Bước 2: GV đưa ra
câu hỏi nêu vấn đề và tổ chức, hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung tranh, ảnh:
Cuộc sống người nông dân dưới thời Pháp thuộc so với trước như thế nào?
Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh sau khi đã
quan sát, kết hợp gợi ý của GV và tìm hiểu nội dung bài học.
Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiện nội
dung khai thác tranh ảnh cho học sinh.(Người nông dân dưới thời Pháp thuộc
phải kéo cày thay trâu, lưng trần, nón cời, gầy ốm…chứng tỏ người nông dân
bị bần cùng hóa hơn so với thời phong kiến)
Với cách sử dụng tranh ảnh như vậy, GV vừa khai thác nội dung lịch
sử thể hiện qua tranh ảnh, vừa phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng,
sản xuất thép ở Liên Xô và Anh
trong những năm 1929 – 1931?
nêu nguyên nhân?
22
-Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung sau khi đã quan sát,
kết hợp gợi ý của GV về việc lien hệ với khái niệm khủng hoảng kinh tế đã
học và tìm hiểu nội dung bài học.
-Bước 4: GV nhận xét bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiện nội dung
khai thác tranh cho HS.( Sản xuất của Liên Xô tăng dần từ 1929 đến 1931 do
phục vụ cho công nhân, sản xuất của Anh tăng dần đến nửa đầu 1930 và đến
1931 giảm rất nhanh do chủ tư bản chạy theo lợi nhuận dẫn đến khủng hoảng
kinh tế thừa)
Bằng cách sử dụng kiến thức liên môn: kĩ năng sử dụng biểu đồ, đồ thị
ở môn Địa, giáo viên đã hướng dẫn học sinh khai thác hết các nội dung kiến
thức thể hiện trên đồ thị để nghiên cứu lịch sử và hiểu được bản chất của hiện
tượng lịch sử.
6/ Hiệu quả của sáng kiến khi thực nghiệm:
Trong hoạt động dạy học, hiệu quả của tiết dạy phụ thuộc vào nhiều
yếu tố nhưng trong đó việc sử dụng kênh hình và tổ chức các hoạt động tự
học của học sinh là quan trọng nhất. Việc sử dụng kênh hình trong dạy học là
một nghệ thuật, các kênh hình được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, ở
những khâu khác nhau của quá trình dạy học nhưng quan trọng nhất là thông
qua kênh hình giáo viên hướng dẫn học sinh từng bước phát hiện ra bản chất
của sự vật, quy luật của hiện tượng, kích thích tính tích cực tìm tòi, sự ham
muốn hiểu biết. Ở đây giáo viên là người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh là
người tự lực phát hiện kiến thức mới. Nắm vững lí luận này nên trong quá
trình thực hiện giảng dạy chương trình sách giáo khoa mới tôi đã chú trọng
việc đổi mới quá trình khai thác kênh hình trong việc tổ chức các hoạt động
dạy học trên lớp, làm cho ngôn ngữ của hình ảnh đến được với học sinh và
bằng cách này trong quá trình dạy học, giáo viên đã huy động được nhiều cơ
8 bậc THCS là đề tài được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu lý luận dạy học,
hiệu quả sử dụng khai thác kênh hình qua thực tế giảng dạy Lịch Sử 6, 7, 8, 9
của chương trình thay sách giáo khoa. Với phương pháp dạy học này, giáo
viên đã khắc phục được tình trạng phổ biến thầy đọc, trò chép hoặc giảng giải
xen kẽ vấn đáp, giải thích, minh họa bằng phương tiện trực quan để thay vào
24
đó là giáo viên tổ chức cho học sinh “tự làm việc” với tài liệu giáo khoa, trao
đổi, thảo luận với bạn bè, để đề xuất ý kiến, thắc mắc, thảo luận…tìm ra kiến
thức mới của bài. Đề tài gồm các nội dung sau:
1. Bốn bước khai thác kênh hình ở SGK:
-Bước 1: quan sát kênh hình để xác định một cách khái quát nội dung.
-Bước 2: GV đặt vấn đề và tổ chức hướn dẫn HS tìm hiểu nội dung từ
kênh hình.
-Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung kênh hình sau khi
quan sát kết hợp gợi ý của giáo viên và tìm hiểu nội dung bài học.
-Bước 4: GV nhận xét bổ sung
2. Xác đinh nội dung GV cần khai thác từ kênh hình của SGK (minh
họa ở phần phụ lục)
3. Cách đặt vấn đề trong quá trình khai thác kênh hình (minh họa ở
phần phụ lục) ở từng loại cụ thể:
-Lược đồ, bản đồ: dựa vào chú giải, kí hiệu trên lược đồ để tự tìm hiểu
các nội dung của các sự kiện lịch sử được thể hiện trên lược đồ, bản đồ.
-Tranh ảnh lịch sử:
+Tranh ảnh nhân vật lịch sử: nhận biết hình dạng, qua hình dáng để
biết được quan điểm, tư tưởng… của nhân vật lịch sử.
+Tranh biếm hoạ: Xác định chi tiết biếm hoạ, nội dung được phản ảnh
của hình ảnh, chi tiết biếm hoạ của bức tranh.
+Tranh ảnh lịch sử khác: nội dung cần khai thác từ những hình ảnh, sự
vật cụ thể của bức tranh…
Đây là đề tài đã được bản thân hình thành từ khi thực hiện giảng dạy