i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGÔ QUỐC QUỲNH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH
CỦA TỈNH BẮC KẠN GIAI ĐOẠN 1997 - 2016
Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số : 60 85 01 03
LUẬN VĂN T HẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Chí Hiểu
Thái Nguyên - 2014
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được ai sử dụng để công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin và tài liệu trích dẫn trong luận văn
đều đã được chỉ rõ nguồn gốc, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn.
Tác giả
Ngô Quốc Quỳnh
iii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và giải pháp tăng cường
công tác quản lý địa giới hành chính của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1997 -
2016”, trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo - TS. Nguyễn Chí
Hiểu đã trực tiếp hướng dẫn trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Quản
lý Tài nguyên, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học - trường Đại học Nông Lâm,
Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ tại Sở Nội vụ tỉnh Bắc Kạn, phòng
1.3.2.1.2. Các văn bản dưới luật quy định trong lĩnh vực quản lý địa giới hành chính 13
1.3.2.2. Sơ lược về địa giới hành chínhở Việt Nam 18
1.3.3. Giới thiệu chung về công tác quản lý địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh Bắc
Kạn 24
1.3.3.1. Bộ hồ sơ và bản đồ địa giới hành chính 24
1.3.3.2. Mốc địa giới hành chính các cấp 25
1.3.3.3. Vướng mắc trong công tác quản lý địa giới hành chính của địa phương 25
1.4. Các vấn đề cần giải quyết về địa giới hành chính của tỉnh Bắc Kạn 25
1.4.1. Đánh giá thực trạng trong công tácquản lý địa giới hành chính các cấp trên địa
bàn tỉnh Bắc Kạn 25
v
1.4.2. Xác định các hạn chế, vướng mắc, khó khăn trong công tác quản lý địa giới
hành chính 25
1.4.3. Đề xuất giải pháp phù hợp để không ngừng nâng cao hiệu quả công tác quản lý
địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 25
Chương 2.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
27
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 27
2.2. Nội dung nghiên cứu 27
2.2.1. Điều kiện tự nhiên-kinh tế -xã hội của tỉnh Bắc Kạn 27
2.2.2. Hiện trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc
Kạn 27
2.2.3. Đánh giá thực trạng công tác quản lý địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh Bắc
Kạn 28
2.2.3.1. Đánh giá công tác quản lý bộ hồ sơ, bản đồ và các mốc địa giới hànhchính 28
2.2.3.2. Đánh giá việc giải quyết các vướng mắc trong công tác quản lý địa giới hành
chính 28
2.2.3.3. Đánh giá về biến động đơn vị hành chính các cấp 28
2.3.4.1. Đối chiếu các tờ bản đồ địa giới hành chính theo chiều dọc 32
2.3.4.2. Đối chiếu các tờ bản đồ địa giới hành chính theo chiều ngang 32
2.3.4.3. Đối chiếu giữa các tờ bản đồ của các đơn vị hành chính của tỉnh Bắc
Kạn giáp ranh với đơn vị hành chính tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái
Nguyên, Tuyên Quang 32
Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1. Điều kiện tự nhiên-kinh tế- xã hộicủa tỉnh Bắc Kạn 33
3.1.1. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn 33
3.1.1.1. Vị trí địa lý của tỉnh Bắc Kạn 33
3.1.1.2. Đặc điểm địa hình của tỉnh Bắc Kạn 33
3.1.1.3. Đặc điểm khí hậu của tỉnh Bắc Kạn 33
3.1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Bắc Kạn 34
3.1.2. Điều kiện kinh tế-xã hội của tỉnh Bắc Kạn 35
3.1.2.1. Tiềm năng kinh tế -xã hội của tỉnh Bắc Kạn 35
3.1.3. Đánh giá chung về sự phát triển của nền kinh tế-xã hội- an ninh -quốc phòng
và công tác xây dựng, củng cố chính quyền qua 15 năm tái lậptỉnh 35
3.1.3.1. Kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội 35
3.1.3.2. Tốc độ phát triển kinh tế-xã hội 36
3.2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 39
3.2.1. Công tác quản lý nhà nước về đất đai 39
3.2.1.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chức thực hiện các văn bản đó 39
3.2.1.2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ địa giới hành chính 39
3.2.1.3. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện
trạng sử dụng đất và bản đồquy hoạch sử dụng đất 40
3.2.1.4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 41
vii
3.2.1.5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất 41
hành chính 67
3.3.4.2. Mặt tồn tại, hạn chế trong công tác quản địa giới hành chính địa giới hành
chính 68
3.3.4.3. Đánh giá tổng hợp cho công tác quản địa giới hành chính địa giới hành
chính 69
viii
3.4. Giải pháp cho công tác quản lý địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh Bắc
Kạn 74
3.4.1. Tuyên truyền vận động cơ sở về công tác quản lý địa giới hành chính 74
3.4.2. Kiểm tra, giám sát chính quyền cơ sở thực hiện công tác quản lý địa giới hành
chính 75
3.4.3. Đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các cấp về trìnhđộ chuyên môn và lý
luận chính trị 75
3.4.4. Củng cố hoàn thiện hệ thống văn bản các cấp cho công tác quản lý địa giới
hành chính 76
3.4.5. Áp dụng khoa học công nghệ vào công tác quản lý địa giới hành
chính 76
3.4.6. Bổ sung nguồn kinh phí cho công tác quản lý địa giới hành chính 77
3.4.6.1. Kinh phí thường xuyên hàng năm 77
3.4.6.2. Kinh phí xây dựng lại bộ hồ sơ và bản đồ địa giới hành chínhcác cấp 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
1. Kết luận 78
2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
ix
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
CSDL : Cơ sở dữ liệu
ĐGHC : Địa giới hành chính
GPS : Global Positioning System
THCS : Trung học cơ sở
các thế hệ ông cha ta đã đổ xuống. Do vậy trách nhiệm của chúng ta và các
thế hệ mai sau là phải biết gìn giữ, quản lý đất đai một cách khoa học, bền
vững và thống nhất theo địa bàn, lãnh thổ.
Trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, lĩnh vực quản lý Địa
giới hành chính là hết sức quan trọng, đây là lĩnh vực mang tính chất chính
trị và chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội. Địa giới hành chính là
ranh giới phân biệt đất đai và số dân của địa phương này với địa phương
khác do cấp quản lý có thẩm quyền quy định. Địa giới hành chính là cơ sở
pháp lý để phân vạch ranh giới trách nhiệm của các cấp chính quyền địa
phương đối với dân cư, đất đai và mọi hoạt động khác thuộc phạm vi cấp
quản lý. Một đơn vị hành chính trực thuộc một cấp chính quyền nào đó
chỉ có thể tồn tại và hoạt động được dựa trên cơ sở một địa giới hành
chính nhất định rõ ràng, ổn định và hợp lý. Do tầm quan trọng của nó,
việc quản lý địa giới hành chính tại các cấp chính quyền địa phương là
hết sức cần thiết.
Ở Việt Nam, từ sau ngày miền Bắc được giải phóng (1954) và nhất
là sau Đại thắng mùa xuân năm 1975 đến nay, Đảng, Nhà nước đã có nhiều
lần phân định, điều chỉnh địa giới hành chính các địa phương để phục vụ
việc phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, trong đó có
Bắc Kạn đã nhiều lần được tách ra, sáp nhập lại và đến năm 1997 đã chính
thức tách ra trên cơ sở hình thành từ 4 huyện, thị xã (Bạch Thông, Na Rỳ,
Chợ Đồn và thị xã Bắc Kạn) từ tỉnh Bắc Thái và 2 huyện (Ba Bể, Ngân
Sơn) từ tỉnh Cao Bằng. Đến nay đã tách thêm 02 huyện là huyện Chợ Mới
và huyện Pác Nặm.
Trong sự nghiệp phát triển đất nước nói chung và sự phát triển nền
kinh tế - chính trị - xã hội của tỉnh Bắc Kạn nói riêng, thì công tác quản lý
địa giới hành chính là hết sức quan trọng. Từ ngày tái thành lập tỉnh đến
nay chưa có một công trình hay đề án nghiên cứu khoa học nào về công tác
quản lý địa giới hành chính của tỉnh Bắc Kạn, trong khi đó thực trạng của
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở pháp lý để nghiên cứu các nội dung của đề tài
1.1.1. Văn bản của Trung ương
- Chỉ thị 364-CT ngày 6 tháng 11 tháng 1991 của Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về giải quyết những tranh chấp
đất đai liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã và thành lập bản
đồ, hồ sơ địa giới hành chính các cấp.
- Thông tư số 01/TT-LN ngày 23 tháng 3 năm 1992 của liên nghành
Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) và Cục đo đạc và Bản
đồ Nhà nước hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 364-CT ngày 6 tháng 11 tháng
1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về
giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tỉnh,
huyện, xã và thành lập bản đồ, hồ sơ địa giới hành chính các cấp.
- Thông tư số 832/TTCP-ĐP ngày 25 tháng 10 năm 1993 của Ban Tổ
chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) hướng dẫn giải quyết tranh
chấp đất đai có liên quan đến địa giới hành chính các cấp.
- Thông tư 03/TT-LN ngày 17 tháng 9 năm 1992 của liên ngành Ban
Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) và Cục đo đạc và Bản đồ
Nhà nước hướng dẫn việc tổ chức kiểm tra, nghiệm thu hồ sơ địa giới hành
chính các cấp.
- Nghị định 119/CP ngày 16 tháng 9 năm 1994 của Chính phủ ban
hành quy định về việc quản lý, sử dụng hồ sơ địa giới, bản đồ địa giới và
mốc địa giới hành chính các cấp.
- Thông tư số 28/TCCP-ĐP ngày 17 tháng 3 năm 1995 của Ban Tổ
chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) hướng dẫn việc thực hiện
Nghị định 119/CP ngày 16 tháng 9 năm 1994 của Chính phủ ban hành quy
định về việc quản lý, sử dụng hồ sơ địa giới, bản đồ địa giới và mốc địa
giới hành chính các cấp.
4
5
+ Hỗ trợ CSDL không gian: Oracle 10G Spatial & Locator, MS SQL
Server and Informix thông quan SpatialWare;
+ Xuất dữ liệu sang các khuôn dạng khác: Cho phép xuất dữ liệu
sang các khuôn dạng GIF, LZW TIFF và TIFF CCITT Group 4;
+ Biên tập bản đồ/chỉnh sửa dữ liệu: Tạo lập các đối tượng đồ họa,
hiển thị chúng theo các kiểu ký hiệu có trong thư viện ký hiệu mặc định
hoặc trong thư viện tự tạo, hiển thị các đối tượng theo lớp trong Layer
Control Tạo bảng chú giải, cho phép hiển thị dữ liệu theo 2 biến số khác
nhau trong cùng một thời điểm, tạo các vùng đệm bằng công cụ buffer ;
+ Xác định cơ sở toán học cho bộ dữ liệu: số lượng lưới chiếu bản đồ
có mặc định trong MapInfo rất phong phú, đủ để đáp ứng cho việc xác định
cơ sở toán học cho các bộ dữ liệu được thu thập từ các nguồn khác nhau.
Các lưới chiếu theo các thông số riêng biệt cho từng vùng cũng có thể được
tạo lập mới bằng cách biên tập tệp tin MAPINFOW.PRJ của phần mềm;
+ Chuyển đổi khuôn dạng dữ liệu bằng công cụ Universal Translator:
cho phép chuyển đổi dữ liệu từ khuôn dạng của MapInfo *.TAB sang các
khuôn dạng *.shp của ArcView, DGN của Microstation, DXF và DWG của
AutoCAD và ngược lại. Trong quá trình chuyển đổi, công cụ này còn cho
phép xác định và chuyển đổi cơ sở toán học của dữ liệu;
+ Phân tích không gian: Cung cấp các công cụ mạnh và logic đáp
ứng việc thực hiện những bài toán phân tích không gian phức tạp; Thể hiện
những đặc điểm và xu hướng của các đối tượng địa lý được lưu trong
CSDL, từ đó thể hiện những ảnh hưởng qua lại giữa các hiện tượng, đối
tượng trong không gian; Cho phép thành lập bản đồ có mức độ chi tiết cao
nhằm phục vụ cho mục đích hiển thị dữ liệu không gian và hỗ trợ cho
hoạch định chính sách; Hỗ trợ cho các doanh nghiệp giải các bài toán về
tìm hiểu khách hàng và thị trường;
6
+ MapInfo có rất nhiều ưu điểm với khả năng hiển thị và lập bản đồ
với 1 nhóm đối tượng); Measure tool box (Công cụ đo); Change Attributes
tool box (Thao thác với thuộc tính đối tượng); Delete Element (Xóa đối
tượng); Fence tool box (Công cụ Fence); Linear Elements tool box (Công
cụ vẽ đường); Ellipses tool box (Công cụ vẽ đường tròn và Ellip); Text tool
box (Công cụ Text); Cells tool box (Công cụ Cell); Dimension tool box
(Công cụ Dimension); Manipulate tool box (Copy); Modify tool box (Sửa
đổi đối tượng).
1.2.3. Hệ thống định vị toàn cầu GPS
- Hệ thống định vị toàn cầu GPS là một hệ thống gồm 27 vệ tinh (kể
cả 3 cái sơ cua) chuyển động trên các quí đạo chung quanh trái đất, thông
qua GPS chúng ta sử dụng các loại máy định vị để xác định các vị trí mốc
địa giới hành chính ngoài thực địa để triển khai lên bản đồ và trong hồ sơ
địa giới hành chính 364. Trong những năm của đầu thập kỷ 90 ngành đo
đạc bản đồ nước ta đã nghiên cứu và ứng dụng thành công hệ thống định vị
toàn cầu GPS (Global Positioning System). Hệ thống GPS thiết lập một
mạng lưới vệ tinh trong không gian bao quanh trái đất để cung cấp thông
tin về vị trí và thời gian ở mọi nơi trên trái đất 24/24 giờ hàng ngày.
Thông tin về vị trí và thời gian thu trong hệ thống GPS được sử dụng
cho nhiều mục đích… Nhìn chung thiết bị thu tín hiệu GPS hình thành
hai nhóm chính: Nhóm máy dùng cho các ứng dụng đo chính xác (GPS
Surveying) và Nhóm máy dùng cho các ứng dụng và thành lập bản đồ
trung bình và nhỏ. [1]
- Trong công tác quản lý địa giới hành chính hiện nay trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn thì việc xác định tọa độ các mốc địa giới hành chính và các
điểm đặc trưng ngoài thực địa bằng phương pháp đo tĩnh. Phương pháp đo
8
tĩnh là phương pháp chính xác nhất vì nó sử dụng hai trị đo code và phase
sóng mang (carrier phase). Hai hoặc nhiều máy thu đặt cố định thu dữ liệu
GPS tại các điểm cần đo tọa độ trong khoảng thời gian một giờ trở lên.
Thời gian đo kéo dài để đạt được sự thay đổi đồ hình vệ tinh: Cung cấp trị
tự trị Ceuta và Melilla của Tây Ban Nha. Ceuta và Melilla nằm trên bờ Địa
Trung Hải, nằm trên lãnh thổ của Maroc nhưng thuộc quyền quản lý của
Tây Ban Nha. Maroc chưa bao giờ thừa nhận điều này và luôn đòi chủ
quyền. Nhiều người Châu Phi coi thành phố này là “cửa ngõ” để nhập cư
trái phép và buôn lậu vào Châu Âu. Chính vì vậy, Tây Ban Nha đã dùng
biện pháp bao bọc cả 2 thành phố nhỏ này bằng cách rào tường đôi cao 3m
bằng dây thép gai và có lính vũ trang canh gác cẩn mật. [16]
- Địa giới hành chính của Mỹ và Canada. Thị trấn Derby Line nằm
trên đường biên giới giữa Mỹ và Canada được chia thẳng. [16]
- Địa giới hành chính giữa Hà Lan và Bỉ chồng chéo lên nhau rất phức
tạp. Baarle-Nassau là phần lãnh thổ của Hà Lan. Ngôi làng này giáp với làng
Baarle-Hertog của Bỉ. Baarle-Hertog có phần đất nằm trong Baarle-Nassau và
ngược lại. [16]
Qua một số ranh giới địa giới hành chính của một số nước nói trên,
cho thấy việc quản lý địa giới hành chính là hết sức phức tạp và đa dạng
đòi hỏi các nước trên thế giới phải áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật,
các hiệp ước, thỏa thuận với nhau hết sức cụ thể và chắc chắn thì mới có
thể quản lý được.
1.3.1.2. Một số hình thái phân chia đơn vị hành chính tại một số nước trên
thế giới
- Liên bang Nga kể từ ngày 18 tháng 3 năm 2014 bao gồm tám mươi
lăm đối tượng liên bang là thành viên của Liên đoàn thành. Tuy nhiên, hai
trong số các đối tượng này, các liên bang cộng hoà Crimea và thành phố
liên bang của Sevastopol, được quốc tế công nhận là một phần của Ukraina.
Tất cả các môn liên bang là các quyền liên bang bình đẳng trong ý nghĩa
10
rằng họ có bằng đại diện hai trong mỗi đại biểu Hội đồng Liên bang
(Thượng viện của Hội đồng Liên bang). Họ làm, tuy nhiên, sự khác biệt về
mức độ tự chủ mà họ được hưởng. [16]
- Singapore kể từ tháng 11 năm 2001, đã có một phân khu hành
Hokkaido (83.453 km
2
), Honshu (231.078 km
2
, chiếm trên 60% tổng diện
tích), Shikoku (18.788 km
2
) và Kyushu (42.165 km
2
) và hàng ngàn hòn đảo
11
nhỏ khác. Đơn vị hành chính của Nhật Bản gồm 4 cấp: “to”, “do”, “fu” và
“ken”. “to” (“đô”): dùng cho Tokyo; “do” (“đạo”): dùng riêng cho Đảo
Hokkaido; “fu” (“phủ”): dành cho Osaka và Kyoto; “ken” (“huyện”) : đơn
vị hành chính cấp tỉnh. Nhật Bản có 43 “ken”, 1 “to”, 2 “fu” và 1 “do”.
Ngoài ra, Nhật Bản còn thường được chia làm 8 vùng: Hokkaido; Tohoku
Gồm các tỉnh: Aomori, Iwate, Miyagi, Akita, Yamagata, Fukushima;
Kanto; Gồm các tỉnh: Ibaraki, Tochigi, Gumma, Saitama, Chiba, Tokyo,
Kanagawa; Chubu gồm các tỉnh: Niigata, Toyama, Ishikawa, Fukui,
Yamanashi, Nagano, Gifu, Shizuoka; Kinki gồm các tỉnh: Mie, Shiga,
Kyoto, Osaka, Hyogo, Nara, Wakayama; Chugoku gồm các tỉnh: Tottori,
Shimane, Okayama, Hiroshima, Yamaguchi; Shikoku gồm các tỉnh:
Kagawa, Ehime, Tokushima, Kochi; Kyushu gồm các tỉnh: Fukuoka, Saga,
Nagasaki, Kumamoto, Oita, Myazaki, Kagoshima, Okinawa. [16]
- Canada có 10 tỉnh bang và 3 lãnh thổ tự trị phía Bắc. Các tỉnh bang
của Canada mang tên province để giữ truyền thống của thời họ thực sự là
các tỉnh (hay province) của Đế quốc Anh. Trên thực tế, mỗi đơn vị hành
chính này là một bang tự trị (tương đối, nhưng không hoàn toàn, giống một
tiểu bang - state - của Hoa Kỳ hay một bang - Bundesland - của Đức) với
một chính phủ bao gồm các hệ thống hành pháp, tư pháp, luật pháp, thuế,
pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ trong công tác quản lý địa giới hành
chính tại các cấp chính quyền địa phương.
1.3.2.1.1. Các văn bản Luật quy định trong lĩnh vực quản lý địa giới hành chính
Công tác quản lý địa giới hành chính được nhà nước ta quy định rõ
tại Điều 29, Mục 1, Chương III luật đất đai năm 2013, cụ thể: [5]
- Chính phủ chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý
hồ sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước; Bộ trưởng Bộ
Nội vụ quy định về trình tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý
mốc địa giới và hồ sơ địa giới hành chính các cấp; Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật
trong việc cắm mốc địa giới hành chính, lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp.
- Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện việc xác định địa giới
hành chính trên thực địa và lập hồ sơ về địa giới hành chính trong phạm vi
địa phương. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm quản lý mốc địa giới
hành chính trên thực địa tại địa phương; trường hợp mốc địa giới hành
chính bị mất, xê dịch hoặc hư hỏng phải kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban
nhân dân cấp huyện).
13
- Hồ sơ địa giới hành chính bao gồm tài liệu dạng giấy, dạng số thể
hiện thông tin về việc thành lập, điều chỉnh đơn vị hành chính và các mốc
địa giới, đường địa giới của đơn vị hành chính đó; Hồ sơ địa giới hành chính
cấp dưới do Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp xác nhận; hồ sơ địa giới hành
chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Bộ Nội vụ xác nhận; Hồ sơ địa
giới hành chính cấp nào được lưu trữ tại Ủy ban nhân dân cấp đó và Ủy ban
nhân dân cấp trên, Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Tranh chấp địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính do Ủy
ban nhân dân của các đơn vị hành chính đó cùng phối hợp giải quyết.
Trường hợp không đạt được sự nhất trí về phân định địa giới hành chính
hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính thì thẩm quyền giải
điều chỉnh lại địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã, Ủy ban Nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương phải trực tiếp chỉ đạo Ủy ban nhân dân
huyện cùng các xã liên quan giải quyết (nếu là các xã trong một huyện);
hoặc chủ trì họp với các huyện và các xã liên quan giải quyết (nếu là các xã
khác huyện) hoặc chủ động gặp Ủy ban Nhân dân tỉnh liên quan, giải quyết
(nếu là các điểm tranh chấp liên quan đến ngoại tỉnh). Sau đó làm đầy đủ
thủ tục về hồ sơ, báo cáo cấp trên quyết định theo quy định như sau: Nếu
điều chỉnh địa giới hành chỉnh xã, thị trấn, phường, do Trưởng ban Ban tổ
chức - Cán bộ Chính phủ quyết định; nếu điều chỉnh địa giới hành chính
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
quyết định; nếu điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố thuộc tỉnh,
do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định; nếu điều chỉnh địa giới hành
chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng xét và trình Quốc hội quyết định. [4]
+ Trong khi xem xét và giải quyết những tranh chấp về đất đai liên
quan đến địa giới hành chính Ủy ban Nhân dân các cấp cần kịp thời ngăn
chặn, không để sảy ra những hành động gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản
của công dân và cảnh giác đề phòng âm mưu kích động phá hoại của những
phần tử xấu. [4]
+ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) và Cục Đo
đạc và Bản đồ Nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ Ủy ban Nhân
dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và hoàn thành bộ
bản đồ hiện trạng về địa giới hành chính của địa phương để có căn cứ
chuẩn xác và cơ sở pháp lý làm tư liệu cho công tác quản lý Nhà nước về
địa giới hành chính và lưu trữ Quốc gia. Kinh phí về việc này (bao gồm
khảo sát thực địa, xác minh mốc giới, ranh giới, `lập bản đồ và in bản đồ)
15
do ngân sách địa phương chi trả. Nơi nào thực sự khó khăn, thì làm việc
với Bộ Tài chính để xem xét, giải quyết. [4]
- Để cụ thể hóa Chỉ thị 364-CT ngày 06 tháng 11 năm 1991 của Chủ