GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHÀ MÁY THIẾT BỊ BƯU ĐIỆN
I.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Nhà máy Thiết bị bưu điện - 61 Trần Phó - Ba Đình - Hà Nội là một
doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt
Nam. Trong lịch sử gần nửa thế kỷ hoạt động, cán bộ công nhân viên nhà máy
đã nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn để xứng đáng là cơ sở hàng đầu sản xuất sản
phẩm phục vụ mạng lưới bưu chính viễn thông trong cả nước.
* Giai đoạn từ 1954 đến đầu năm 1993
Nhà máy được Tổng cục Bưu điện thành lập từ năm 1954 với tên gọi ban
đầu là Nhà máy thiết bị truyền thanh điện từ. Trong những năm đầu hoạt động,
nhà máy thiết bị truyền thanh có nhiệm vụ cơ bản đáp ứng là nhu cầu sản xuất
và góp phần phục vụ công cuộc kháng chiến chống đế quốc. Sản phẩm của nhà
máy trong thời kì này chủ yếu gồm loa truyền thanh, điện thoại từ thanh, nam
châm và một số thiết bị thô sơ khác. Tuy mới đi vào sản xuất nhưng nhà máy đã
đạt được những thành tựu đáng kể, lưu thông các tuyến đường Nam - Bắc, hiện
đại hoá các phương tiện chiến tranh
Đến năm 1967 do yêu cầu phát triển đất nước thời kỳ này Tổng cục bưu
điện đã tách Nhà máy thiết bị truyền thanh ra làm bốn Nhà máy trực thuộc: Nhà
máy 1, Nhà máy 2, Nhà máy 3, Nhà máy 4. Đến những năm 1970, kỹ thuật
thông tin bưu điện đã phát triển lên một bước mới, chiến lược đầu tư theo chiều
sâu nâng cấp mạng thông tin phục vụ ngành bưu điện đòi hỏi sự thích ứng mới
của Nhà máy cả trong cung cấp sản phẩm và hoạt động Tổng cục Bưu điện lại
sát nhập Nhà máy 1, Nhà máy 2, Nhà máy 3 thành Nhà máy thực hiện hạch toán
độc lập sản phẩm cung cấp đã bước đầu được đa dạng hoá bao gồm: Các thiết bị
dùng về hữu tuyến, vô tuyến, thiết bị truyền thanh và thu thanh một số sản phẩm
chuyên dụng khác.
Tháng 12 năm 1986 Việt Nam bắt đầu chuyển đổi cơ chế quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Nhà máy một
lần nữa được tách ra thành hai nhà máy:
- Nhà máy Thiết bị bưu điện ở số 61 đường Trần Phú, Quận Ba Đình, Hà
Nội
♦ Tên viết tắt :POSTEF
♦ Địa chỉ : sè 61 Trần Phó - Ba Đình - Hà Nội
II. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN TRỊ CỦA
NHÀ MÁY THIẾT BỊ BƯU ĐIỆN
1. Chức năng và nhiệm vụ
Trong điều lệ thành lập nhà máy đã lập ra quy định các chức năng và
nhiệm vụ sau:
a. Chức năng
- Sản xuất kinh doanh các thiết bị máy móc thiết bị, linh kiện kỹ thuật
chuyên ngành bưu chính viễn thông. Các sản phẩm điện, điện tử, tin học, cơ khí
và các mặt hàng khác.
- Sản xuất kinh doanh ống nhựa, các sản phẩm khác chế biến từ nhựa kim
loại màu, vật liệu điện từ.
- Lắp đặt, bảo hành, bảo trì, sửa chữa các thiết bị vật tư kỹ thuật chuyên
ngành bưu chính, viễn thông, điện tử, tin học và các vật liệu khác phục vụ quá
trình sản xuất kinh doanh của đơn vị.
- Cung cấp dịch vụ kỹ thuật, tư vấn kỹ thuật bưu chính - viễn thông, điện
,điện tử, tin học.
- Xuất khẩu, nhập khẩu máy móc, thiết bị, vật tư kỹ thuật chuyên ngành
bưu chính – viễn thông và các nguyên vật liệu khác phục vụ sane xuất kinh
doanh của đơn vị.
- Cho thuê hoạt động.
- Liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong phạm vi Tổng Công ty
cho phép và phù hợp với quy định của pháp luật.
b. Nhiệm vụ
- Nhà máy có nghĩa vụ quản lý vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của nhà máy nh sau:
+ Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước được Tổng Công ty
giao cho nhà máy quản lý bao gồm cả phần vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh.
Là đại diện pháp nhân của nhà máy chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả
sản xuất kinh doanh của nhà máy trước pháp luật, có nghĩa vụ đối với nhà nước
về quản lý tài sản tránh thất thoát tài sản. Giám đốc nhà máy là người quản lý
điều hành mọi hoạt động của nhà máy, chịu trách nhiệm trước pháp luật và tổng
công ty về những nhiệm vụ mà mình được giao Giám đốc nhà máy do tổng công
ty đề bạt, bãi nhiệm, kỷ luật và khen thưởng, giúp việc cho Giám đốc có hai phó
Giám đốc.
b. Phó giám đốc
Do đặc thù sản xuất nên nhà máy có hai phó giám đốc phụ trách về sản
xuất và kỹ thuật. Các phó giám đốc hỗ trợ cho giám đốc trong việc đưa ra các
quyết định quan trọng, thực hiện quản lý điều hoạt động trong lĩnh vực mình
phụ trách.
Ban giám đốc phải chịu trách nhiệm trược pháp luật và trước toàn bộ nhà
máy về những nhiệm vụ mà mình được giao.
c. Các phân xưởng sản xuất
Gồm 12 phân xưởng với chức năng, nhiệm vụ cụ thể nh sau:
♦ Phân xưởng 1: Là phân xưởng cơ khí, nhiệm vụ chính là chế tạo khuôn mẫu
cho các phân xưởng khác
♦ Phân xưởng 2,4: Lắp ráp sản phẩm nhưng vẫn có nhiệm vụ đột, dập, sản
xuất, chế tạo (sơn, hàn) cung cấp cho các phân xưởng khác.
♦ Phân xưởng 3: Đây là phân xưởng sản xuất Ferit ở khu vực Thượng Đình,
phân xưởng này chuyên sản xuất loa, ngoài ra còn có tổ quấn biến áp, tổ cơ
điện.
♦ Phân xưởng 5: Là phân xưởng bưu chính, sản xuất những sản phẩm bưu
chính nh dấu nhật Ên, kìm niêm phong.
♦ Phân xưởng 6: Chuyên sản xuất các sản phẩm Ðp nhựa, đúc và các sản phẩm
đúc diện dân dụng.
♦ Phân xưởng 7, 9: Chuyên sản xuất và lắp ráp các thiết bị điện tử, điện thoại
hiện đại do toàn bộ lao động trẻ có kỹ thuật điều hành.
♦ Phân xưởng 8: Có nhiệm vụ lắp ráp loa.
định mở thẻ tài sản cho từng loại tài sản một ,cuối tháng căn cứ vào nguyên giá
tài sản phản ánh lên thẻ TSCĐ, kế toán TSCĐ trích khấu hao lập bảng tổng hợp
tính khấu hao xác định số phải nép vào ngân sách
Kế toán vật liệu tiền lương: Có nhiệm vụ phản ánh tình hình xuất nhập và
tồn kho nguyên liệu công cụ tính lương trên cơ sở đơn giá lương do phòng lao
động tiền lương gửi lên. Hạch toán lương trích bảo hiểm xã hội theo quy định
hiện hành
Kế toán tiêu thụ: Theo dõi các chứng từ nhập xuất và tồn kho thành
phẩm, xác định doanh thu, thuế, doanh thu và kết chuyển lãi lỗ.
Kế toán thu, chi và thanh toán với ngân hàng: Ghi chép thường xuyên về
thu chi tiền mặt ,quan hệ với ngân hàng về việc vay hoặc gửi tiền mặt
♦ Phòng hành chính- tổng hợp.
Làm nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo, định ra đường lối, xắp xếp, phân
phối lại lao động một cách hợp lý. Xây dựng chế độ tiền lương, tièn thưởng,
BHXH một cách hợp lý
♦ Phòng đầu tư và phát triển: Xây dựng chiến lược ngắn hạn dài hạn nghiên
cứu cải tiến bổ sung dây truyền công nghệ
♦ Phòng vật tư: Có nhiệm vụ mua sắm vật tư cung cấp nguyên vật liệu và bán
thành phẩm trên cơ sở một hợp đồng đã ký kết, viết hoá đơn kèm theo phiếu
xuất kho, xuất vật tư nội bé
♦ Phòng Marketing: Tổ chức nghiên cứu thị trường tiếp xúc với khách hàng tổ
chức tiêu thụ sản phẩm đề ra kế hoạch sản xuất để đáp ứng đúng yêu cầu thị
trường cần
♦ Phòng tổ chức điều độ lao động tiền lương: Tổ chức điều độ tiến độ và giải
quyết những vấn đề về lương, bảo hiểm xã hội. Ngoài ra còn một số nhiệm
vụ khác nh đưa ra các kế hoạch bảo hộ lao động điều độ kế hoạch sản xuất
hàng ngày giữa các phòng và các phân xưởng tổ chức an ninh trật tự trong
nhà máy
♦ Phòng quản lý tổng hợp khu vực Thượng Đình.
♦ Trụ sở, chi nhánh.
Bảng 2: Tình hình tiêu thụ sản phẩm năm 2003, 2004
(Đơn vị tính: tỷ đồng)
Nhóm sản phẩm
Năm 2003 Năm 2004
KH TH KH TH
1. Sản phẩm bưu chính sản xuất 6,0 6,102 6,5 6,6
2. Sản phẩm bưu chính xuất khẩu 11,0 10,89 11,0 10,0
3. Nhóm tủ, hộp đấu nối các loại 16,0 15,54 15,0 14,5
4. Thiết bị đấu nối MDF 10,0 9,425 11,0 10,5
5. Máy điện thoại các loại 21,0 20,412 20,0 21,0
6. ống nhựa dẫn cáp 25,0 25,82 24,0 24,5
7. Thiêt bị chống sét và đo mạng 5,5 5,435 5,0 4,5
8. Thiết bị thi công mạng 3,0 3,5 4,0 4,5
9. Gia công công nghiệp 12,0 12,68 14,0 14,5
10. Các loại sản phẩm khác
38,5
38,693 40,5 42,81
Tổng cộng 148,0 148.5 151,0 153,41
Nguồn: Phòng kinh doanh
Kế hoạch năm 2003 nhà máy đã hoàn thành vượt mức kế hoạch đạt 101%
kế hoạch , nguyên nhân chủ yếu là: nhà máy đã khắc phục được những hạn chế
của năm 2002 như chính sách kinh tế mới về VAT đã tác động đến tâm lý của
người bán và người mua làm đẩy chi phí sản xuất lên cao hơn. Sang năm 2004
nhà máy vẫn vượt kế hoạch cụ thể là đạt 101,59% so với kế hoạch. Kết quả tiêu
thụ sản phẩm nói chung trong hai năm qua là vượt kế hoạch, tuy nhiên có một số
nhóm sản phẩm chưa hoàn thành kế hoạch đặt ra như nhóm tủ, hộp đấu nối các
loại chỉ đạt 96,6% kế hoạch, thiết bị đấu nối MDF đạt 95,4%, thiết bị chống sét
và đo mạng đạt 90% Nguyên nhân chủ yếu là do nhà máy chưa tiến hành
nghiên cứu kỹ thị trường, chưa dự đoán chính các nhu cầu thực sự của thị trường
kết hợp với năng lực thực sự của nhà máy đồng thời việc hỗ trợ cho công tác
rất tích cực đầu tư vào thiết bị Công nghệ, đưa năng lực sản xuất của nhà máy
phát triển rõ rệt, hoàn toàn có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại
trên thị trường trong và ngoài nước
B. Tình hình thị trường sản phẩm thiết bị Bưu điện
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với chính sách phát triển
ngành Bưu điện của Nhà nước đã làm cho thị trường này trở nên sôi động, nhất
là trong thời đại bùng nổ Công nghệ thông tin trên toàn thế giới. Nhận thức rõ
vai trò đặc biệt quan trọng của mình, ngành Bưu điện đã có những nỗ lực phát
triển mạnh mẽ trong đổi mới Công nghệ tin phát triển mạng lưới cáp quang các
tuyến đường Bắc- Nam liên tỉnh, liên đài được sử dụng. Tất cả các tổng đài cấp
huyện trở lên đều được trang bị tổng đài kỹ thuật số, mạng lưới điện thoại ngày
càng lan rộng với mật độ ngày càng dầy hơn. Điều này tạo ra được một thị
trường tiềm năng có sức hấp dẫn lớn cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh
doanh điện thoại.
Bảng 5. Dung lượng thị trường điện thoại Việt Nam
Giai đoạn 1
Giai đoạn 2
1995- 2000
2001 2002 2003 2004 Dự kiến
2010
1. số máy điện thoại
thuê bao
1.587.290 1.587.290 2.057.490 4.000.000 4.912.222
10.000.000
2. Tổng số máy điện
thoại phát triển hàng
năm
246015 270617 311280 425600
600.000
3. Mật độ máy / 100
lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc với giá rẻ và đa dạng về mẫu mã, chủng
loại phong phú, là mối đe doạ cho nhà máy.
Bảng 6: Thị phần của điện thoại Postef
Chỉ tiêu đơn vị 2002 2003 2004
Tổng số máy điện thoại
phát triển hàng năm
Sản
phẩm
246015 270617 311208
Tổng số điện thoại Postef
bán ra thị trường hàng năm
Sản
phẩm
98246 108805 98734
Thị phần của điện thoại % 39,9 40,2 31,7
Nguồn: Phòng kinh doanh
Năm 2004, thị phần của điện thoại giảm mạnh từ 40.2% xuống còn
31,7%. Đó là dấu hiệu không tốt cho sự phát triển của điện thoại nói riêng và
của toàn nhà máy nói chung, cần phải tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp
khắc phục. Tuy nhiên với thị phần lớn điện thoại Postef sẽ hứa hẹn nhiều lợi thế
trong cạnh tranh và vị thế cạnh tranh sẽ không ngừng được cải thiện
Theo khu vực địa lý, thị trường tại các vùng khác nhau trên đất nước có
nhịp độ phát triển rất khác biệt, thị trường miền Nam và miền Trung có nhịp độ
phát triển cao đặc biệt là thị trường miền Nam, nó đòi hỏi một trình độ quản trị
và chiến lược cao trong tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh, môi trường
cạnh tranh tù do và thông thoáng hơn song lại khắc nghiệt hơn. Trong khi đó thị
trường miền Bẵc phát triển gắn liền với quá khứ của nền kinh tế bao cấp, vẫn
tồn tại nhiều vướng mắc trong quản lý vĩ mô cùng cung cách làm ăn của doanh
nghiệp.
Bảng 7. Thị phần của điện thoại Postef và các đối thủ cạnh tranh theo khu
hoạt động tiêu thụ sản phẩm, phần này sẽ phân tích một số nhân tố (năng lực sản
xuất) ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm ở Nhà máy Thiết Bị Bưu Điện.
* Năng lực tài chính
Xét dưới góc độ là năng lực sản xuất, năng lực tài chính được đánh giá là
một nhân tố quan trọng phản ánh năng lực của một doanh nghiệp là mạnh hay
yếu và nó là nhân tố được phân tích đầu tiên ở đây. Trước hết ta hãy xét quy mô
và cơ cấu vốn kinh doanh của điện thoại Postef, đây là một sản phẩm có mức
doanh thu lớn cho Nhà máy Thiết Bị Bưu Điện được lãnh đạo nhà máy chú
trọng trong việc đầu tư, số vốn của mảng điện thoại này khoảng 21 tỷ/năm. Như
vậy, quy mô tài chính của bộ phận sản xuất điện thoại khá lớn, điều đó tạo điều
kiện cho mở rộng sản xuất khi có điều kiện. Sự ổn định về tài chính là một lợi
thế trong cạnh tranh.
Bảng 8: Các chỉ tiêu đánh giá tình hình và kết quả hoạt động SXKD
Năm 2003 và 2004
Chỉ tiêu Mã ĐVT Năm 2003 Năm 2004
Tài sản cố định 1 đồng 21.061.770.607 35.458.070.484
Giá trị còn lại của TSCĐ 2 đồng 13.232.866.9120 28.661.176.629
Tài sản lưu động 3 đồng 97.209.789.832 106.518.029.723
Vốn bằng tiền và ĐTNH 4 đồng 4.810.936.324 3.381.367.352
TỔNG TÀI SẢN 10 đồng 118.271.560.439 141.976.100.207
Nợ phải trả 11 đồng 77.207.451.055 94.740.722.375
Nợ ngắn hạn 12 đồng 70.787.831.207 69.745.907.525
Nợ dài hạn 13 đồng 4.072.519.847 23.199.943.684
Nguồn vốn chủ sở hữu 14 đồng 41.064.109.384 46.235.377.832
Nguồn vốn quỹ 15 đồng 41.006.063.475 73.337.932.425
TỔNG NGUỒN VỐN 20 đồng 118.271.560.439 140.976.100.207
Doanh thu thuần 21 đồng 148.621.726.751 152.082.346.311
Lợi nhuận trước thuế 22 đồng 8.846.971.508 9.646.992.607
Thuế TNDN 23 đồng 2.558.977.742 2.878.575.724
Lợi nhuận sau thuế 24 đồng 6.257.993.766 6.768.416.883
nước đã danh nhiều vốn đầu tư vào các doanh nghiệp trong ngành, đặc biệt là
trong khối các doanh nghiệp công nghiệp của ngành. Bên cạnh đó là các chính
sách ưu đãi trong nhập khẩu thiết bị, chuyển giao Công nghệ bằng nguồn vốn
ngân sách cấp cộng với nguồn vốn huy động nhà máy đã nhập một số máy móc
dây truyền từ nước ngoài ngay từ những năm đầu của thập kỷ 90 đó là dây
truyền lắp ráp phím đầu nối, điện thoại của hãng SIEMEN (Đức) dây truyền sản
xuất ống sóng dùng để chôn cáp ngầm của hãng DROSSBACK (Đức) các loại
máy đột, dập, Ðp nhựa nhờ đó bắt đầu từ năm 1994 thay bằng việc nhập khẩu
sản phẩm, nhà máy đã nhập các linh kiện dưới dạng CKĐ về lắp ráp đối với một
số loại sản phẩm như: máy điện thoại, tủ cáp đầu dây, các loại đồng hồ tính
cước Từ năm 1996 nhà máy đã có chủ trương chuyển từ lắp ráp linh kiện dạng
CKĐ sang lắp ráp linh kiện IKĐ sản xuất vỏ sản phẩm và tiến tới tự sản xuất các
sản phẩm thông qua nhập vật tư. Trong hai năm 1997 và năm 1998 nhà máy đã
đầu tư hơn 26 tỉ đồng để trang bị các loại máy móc mới hiện đại và hoàn thiện
các dây chuyền Công nghệ như các loại dây chuyền sản xuất linh kiện, dây
truyền Ðp nhựa với Công nghệ cao để sản xuất vỏ sản phẩm và một số linh kiện
khác, dây chuyền sơn tĩnh điện ngoài ra nhà máy còn thực hiện việc chuyển
giao Công nghệ với các hãng điện tử nổi tiếng trên thế giới như AT&T (Mỹ)
CASIO (Nhật Bản) SIEMEN (Đức) ERICSSON (Thụy điển)
Hiện nay trình độ Công nghệ của nhà máy được đánh giá là tiên tiến so
với mặt bằng Công nghệ chung của quốc gia, số lượng sản phẩm sản xuất ra đã
đạt tới hơn 3500 sản phẩm, năm 1998 nhà máy đã cho ra đời những chiếc máy
điện thoại sản xuất tại Việt Nam, đó là các sản phẩm mang tên điện thoại Postef
V701, VN 2020 và VN 2040. Điện thoại Postef được sản xuất trên dây chuyền
công nghệ hiện đại, tiên tiến và có công xuất thiết kế lớn nhất tại Việt Nam được
điều khiển bằng kỹ thuật số. Theo công xuất thiết kế, dây chuyền có thể sản xuất
10.000máy/1 lao động/1năm, có nghĩa là nó có thể cung cấp đủ máy cho thị
trường Việt Nam. Hầu hết máy móc thiết bị trên dây chuyền sản xuất đều được
đầu tư mới vào năm 1998 với tổng số vốn khoảng 17 tỉ đồng. Nhà máy thực
hiện chế độ khấu hao nhanh, chỉ trong thời gian từ 4-5 năm, do vậy đến khi Việt
gần đây, tốc độ tăng trưởng thuê bao điện thoại đạt trung bình 30%/năm, năm
2004 tăng trưởng thuê bao đạt 37.5%. Số lượng thuê bao di động tăng trưởng
cao trong những năm qua, với tốc độ tăng hàng năm từ 35% đến 40%. Năm
2003 xuất hiện nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động Sfone, năm 2004 cú
thờm Viettel và năm nay sẽ cú thờm cỏc nhà cung cấp dịch vụ mới là Hanoi
Telecom và Công ty Viễn thông Điện lực. Thị trường điện thoại di động ngày
càng cạnh tranh hơn do đó số lượng thuê bao ngày càng phát triển mạnh và
người tiêu dùng ngày càng được hưởng dịch vụ di động với chất lượng cao và
phí rẻ hơn.
Hết năm 2004, 98% số xó cú máy điện thoại và 90% số xó cú bỏo đến
trong ngày.
Bên cạnh sự tăng trưởng của mạng điện thoại cố định và di dộng, các loại
hình dịch vụ bưu chính viễn thông khác như mạng internet, dịch vụ VoIP, dịch
vụ bưu chính cũng tăng trưởng nhanh.
Thuê bao Internet: 273.581 thuê bao, tăng 39,9%. Nâng tổng số thuê bao
Internet lên 690.261 thuê bao. Tốc độ phát triển thuê bao internet trong những
năm
Như vậy, ngành bưu chính viễn thông có tốc độ tăng trưởng cao và liên
tục trong các năm qua. Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng, trong những năm qua,
các đơn vị trong ngành bưu chính viễn thông như VNPT, Viettel, Saigon Postef,
ETC đã liên tục đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng viễn thông, hệ thống tổng đài
và các thiết bị viễn thông. Kéo theo đú cỏc công ty cung cấp các thiết bị viễn
thông trong và ngoài nước cung cấp các thiết bị cho ngành cũng có điều kiện
tăng trưởng khi nhu cầu cho các thiết bị viễn thông ngày càng tăng. Nhu cầu
đầu tư cho các thiết bị viễn thông cũng phải song song với tốc độ phát triển của
ngành nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ, hạn chế các sự cố nghẽn tắc mạch do
cơ sở hạ tầng viễn thông không đảm bảo.
Nhìn chung, trong những năm tới, thị trường ngành bưu chính thông tiếp
tục tăng trưởng với tốc độ cao, đây sẽ là điều kiện thuận lợi cho các công ty
trong ngành bưu chính viễn thông và các công ty cung cấp các thiết bị bưu chính