BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI DOÃN HẢI ðÔNG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀNG NGHỀ
TRÊN ðỊA BÀN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60.34.05 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN TUẤN SƠN HÀ NỘI – 2012
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế …………………………
hướng dẫn khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của ban lãnh đạo Sở Khoa học
và Công nghệ tỉnh Bắc Giang- nơi tôi công tác, Trung tâm Khí tượng Thủy
văn tỉnh, Phòng Công Thương, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Việt
Yên, UBND xã Tăng Tiến, UBND xã Hoàng Ninh, UBND xã Vân Hà đã tạo
điều kiện thuận lợi trong việc tìm hiểu thực tế và thu thập số liệu thông tin
liên quan đến đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ động viên về mọi mặt của
đồng nghiệp, bạn bè, gia đình.
Người thực hiện Doãn Hải ðông
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………… iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
2.3.6 Thu nhập thấp và chất lượng nguồn nhân lực 39
2.3.7 Nguồn nguyên liệu cho phát triển ngành nghề truyền thống 40
2.3.8 Vấn đề ô nhiễm môi trường do sản xuất của làng nghề 41
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế làng nghề 42
2.4.1 Nhóm nhân tố tự nhiên 42
2.4.2 Nhóm nhân tố kinh tế 43
2.4.3 Nhóm nhân tố văn hoá- xã hội 47
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 49
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 49
3.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 52
3.2 Những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế làng nghề 64
3.2.1 Những thuận lợi và cơ hội để phát triển 64
3.2.2 Những khó khăn thách thức 65
3.3 Phương pháp nghiên cứu 66
3.3.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu 66
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 66
3.3.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 68
3.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 68
3.3.5 Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 69
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………… v
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 70
4.1 Thực trạng phát triển kinh tế làng nghề ở huyện Việt Yên giai
đoạn 2009-2011 70
4.1.1 Quá trình phát triển làng nghề ở huyện Việt Yên 70
Từ viết tắt Giải nghĩa
LN Làng nghề
NNNT Ngành nghề nông thôn
PTBV Phát triển bền vững
TP Thành Phố
UBND Ủy ban nhân dân
LNTT Làng nghề truyền thống
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………… vii
DANH MỤC BẢNG
TTT Tên bảng Trang
1.1 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay 12
2.1 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước 29
2.2 So sánh mức lương trong ngành thủ công mỹ nghệ ở các nước 40
3.1 Số liệu khí tượng trung bình (2005 - 2010) tại Bắc Giang 50
3.2 Biến động đất đai, dân số và kết quả sản xuất kinh doanh của
huyện Việt Yên (2009 – 2011) 57
3.3 Tình hình cơ sở vật chất của huyện năm 2009 - 2011 61
3.4 Số lượng mẫu điều tra 67
4.1 Một số chỉ tiêu về phát triển làng nghề của huyện Việt Yên 71
4.2 Các làng nghề đủ tiêu chuẩn của huyện Việt Yên đến năm 2011 72
4.3 Số hộ sản xuất ngành nghề tại các làng nghề 74
4.4 Số lượng lao động làng nghề năm 2011 75
1. ðẶT VẤN ðỀ
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Trong những năm gần đây,kinh tế nước ta bước sang giai đoạn hội
nhập kinh tế quốc tế, mọi lĩnh vực hoạt động đều phát triển mạnh mẽ và
đóng góp tích cực vào tăng trưởng của nền kinh tế. Hoà chung vào dòng
chảy đó là sự phát triển mạnh mẽ các làng nghề ở khu vực nông thôn, nơi
có gần 80% dân số đang sinh sống. Hiện nay Việt Nam đang bước vào thời
kỳ CNH-HĐH đất nước, thực trạng dư thừa lao động nông thôn và xu
hướng chuyển dịch lao động ra thành thị gia tăng nhanh chóng gây sức ép
về cơ sở hạ tầng và các vấn đề xă hội nghiêm trọng. Vì thế, phát triển
ngành nghề nông thôn không chỉ ngày càng quan trọng đối với khu vực
nông thôn mà còn ảnh hưởng đến nhịp độ phát triển chung của toàn xã
hội.Với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công
nghiệp thì việc phát triển các làng nghề nông thôn là một nội dung quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
Làng nghề ở Bắc Giang hình thành từ lâu đời, được phân bố rộng khắp
trên địa bàn tỉnh và hoạt động hầu hết ở các ngành kinh tế chủ yếu.Với mật độ
dân số đứng thứ 6 cả nước và nghèo về tài nguyên khoáng sản như Bắc Giang
thì việc phát triển các làng nghề truyền thống càng là một nhiệm vụ quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh. Làng nghề là nơi lưu giữ
các giá trị truyền thống của dân tộc, các làng nghề thu hút một số lượng lớn
lao động, đóng góp đáng kể vào giá trị sản xuất của tỉnh. Song thách thức đặt
ra đối với sự phát triển bền vững các làng nghề cũng là vấn đề cấp thiết chi
phối một bộ phận dân cư rất lớn trong tỉnh. Ô nhiễm môi trường đang là vấn
đề đáng báo động, cần có quy hoạch tổng thể, đồng bộ cho các làng nghề.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát triển kinh tế xã hội, phát triển các
làng nghề, ngành nghề nông thôn ở huyện Việt Yên cần phải có các nghiên
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế …………………………
3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về thời gian
- Số liệu thu thập để nghiên cứu đề tài trong giai đoạn 2009-2011
- Thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài: Từ tháng 8/2011 đến tháng
10/2012
* Phạm vi về không gian
Các làng nghề trên địa bàn huyện Việt Yên
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liên
quan đến việc phát triển các làng nghề trên địa bàn huyện Việt Yên:
1. Huyện Việt Yên đã có những chủ trương, chính sách gì để khôi phục và
phát triển các làng nghề?
2. Thời gian qua ở Việt Yên các làng nghề (gồm làng nghề truyền thống
và làng nghề mới) phát triển như thế nào?
3. Những khó khăn, bất cập trong phát triển kinh tế làng nghề ở Việt Yên?
4. Để phát triển kinh tế làng nghề ở Việt Yên trong giai đoạn tới cần phải
giải quyết những vấn đề gì? Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………… 4
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ðỀ TÀI NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về làng nghề và phát triển kinh tế làng nghề
Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông
nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu
cầu đời sống như: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực
phẩm qua chế biến… Các nghề này được lưu truyền và mở rộng qua nhiều thế
hệ, dẫn đến nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm. Bên cạnh
những người chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp,
vừa làm nghề, hoặc làm thuê (nghề phụ). Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng
hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn
và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng) dần dần tách hẳn nông
nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công. Như vậy, làng nghề đã xuất hiện.
Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để
một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề. Nhưng nhìn chung, các ý
kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau:
- Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề
đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề
trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300
triệu đồng, hoặc:
- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường
xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt
30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động.
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của
làng và do người trong làng tham gia.
Theo “Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008” có 3 tiêu chí để được
công nhận là làng nghề gồm:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động
ngành nghề nông thôn.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm đề nghị công nhận.
- Chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế …………………………
xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại quê hương của mình. Nghiên cứu
một làng nghề thủ công truyền thống là phải quan tâm đến nhiều mặt, tính hệ
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………… 7
thống, toàn diện của làng nghề thủ công truyền thống đó, trong đó yếu tố
quyết định là nghệ nhân của làng, sản phẩm thủ công, thủ pháp kĩ thuật sản
xuất và nghệ thuật.
Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công,
nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu
đời, được truyền đi truyền lại qua các thế hệ, có sự liên kết hỗ trợ trong sản
xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ,
thậm chí là bán lẻ, họ có cùng tổ nghề, các thành viên luôn có ý thức tuân
theo những hương ước, chế độ, gia tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch
sử phát triển đã hình thành nghề ngay trên đơn vị cư vị cư trú của xóm của họ.
Làng nghề thủ công truyền thống thường có đại đa số hoặc một số
lượng lớn dân cư làm nghề cổ truyền, thậm chí là 100% dân cư làm nghề thủ
công hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề lâu đời, kiểu cha truyền con nối.
Sản phẩm của họ không những có tính ứng dụng cao mà còn là những sản
phẩm độc đáo, ấn tượng, tinh xảo.
- Làng nghề mới
Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan toả
của các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời
kỳ đổi mới, thời kỳ chuyển sang nền kinh tế thị trường. Sự xuất hiện và phát
triển của các làng nghề này cũng mang những ý nghĩa tích cực đối với đời
sống khu vực kinh tế nông thôn nói riêng và nền kinh tế thành phố nói chung.
- Làng một nghề: Là những làng ngoài nghề nông ra chỉ cần thêm một
nghề thủ công nghiệp duy nhất chiếm ưu thế tuyệt đối, như the La Cả, lụa
ổn định dưới sáu tháng và các hoạt động ngành nghề này đối với họ không
phải là hoạt động kinh tế chính trong năm.
2.1.2. Những con ñường xuất hiện làng nghề
Khảo sát, nghiên cứu các làng nghề cho thấy, dù đó là làng nghề gì, sản
xuất kinh doanh như thế nào, thành lập từ bao giờ, thời điểm xuất hiện có khác
nhau, nhưng tựu chung, làng nghề được hình thành từ những con đường sau:
Thứ nhất, phần lớn các làng nghề được hình thành trên cơ sở làng có
những nghệ nhân từ nơi khác đến truyền nghề và nghệ nhân này được suy tôn
là tổ nghề.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………… 9
Thứ hai, một số làng nghề được hình thành từ một số cá nhân hay gia
đình dòng họ có những kỹ năng và có sự sáng tạo nhất định. Từ sự sáng tạo
của họ, quy trình sản xuất và sản phẩm không ngừng được bổ sung và hoàn
thiện. Rồi họ truyền nghề cho dân trong làng, làm cho nghề đó ngày càng lan
truyền ra khắp làng và tạo thành làng nghề.
Thứ ba, một số làng nghề hình thành do có những người đi nơi khác
học nghề rồi về dạy lại cho những người khác trong gia đình, dòng họ và mở
dần phạm vi ra khắp làng.
Thứ tư, một số làng nghề mới hình thành trong những năm gần đây do
chủ trương của địa phương khuyến khích phát triển nghề phụ, phục vụ cho
đời sống xã hội và cải thiện đời sống nông dân.
Thứ năm, trong thời kỳ đổi mới hiện nay, có một số làng nghề hình
thành trên cơ sở sự lan toả dần từ một số làng nghề khác, tạo ra một cụm làng
nghề, xã nghề ở vùng lân cận.
Tuỳ theo mỗi địa phương, mỗi ngành nghề, sản phẩm cũng như chất
lượng của sản phẩm và tuỳ theo nhu cầu thị trường mà mỗi làng nghề có
động từ các vùng khác đến. Ví dụ làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) đã giải quyết
việc làm cho gần 2.430 lao động của xã và từ 600 – 800 lao động từ các vùng
khác đến; hay làng nghề Đồng Kỵ (Bắc Ninh), cũng tạo việc làm cho hơn
4500 lao động tại chỗ và khoảng 1500 lao động từ vùng lân cận.
Do hạn chế về công nghệ và kỹ thuật sản xuất nên các làng nghề vẫn sử
dụng chủ yếu là các lao động thủ công ở hầu hết các công đoạn, kể cả những
công đoạn nặng nhọc và độc hại nhất. Mặt khác, nhiều sản phẩm có đặc thù
đòi hỏi trình độ kỹ thuật và tính mỹ thuật cao, tay nghề khéo léo… chủ yếu là
ở các làng nghề truyền thống, sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ.
Trong các làng nghề truyền thống, vai trò của các nghệ nhân rất quan trọng,
được coi là nòng cốt của quá trình sản xuất và sáng tạo ra nghệ thuật.
Chất lượng lao động và trình độ chuyên môn ở các làng nghề nhìn chung
còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nghề chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
Với người lao động trực tiếp, thành phần đã tốt nghiệp phổ thông ở các
cơ sở sản xuất và các hộ chuyên chiếm hơn 70%; còn đối với các hộ kiêm và
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………… 11
các hộ thuần nông, lao động nghề chiếm từ 40 đến 70% mới tốt nghiệp cấp I
và II, tỷ lệ hết cấp III chưa đến 20%.
Đối với các chủ hộ và chủ doanh nghiệp, nhìn chung trình độ học vấn,
chuyên môn còn rất hạn chế. Có tới 1,3 – 1,6% trong số họ không biết chữ,
trình độ học vấn bình quân mới đạt lớp 7 – 8/12. Tỷ lệ chưa qua đào tạo kiến
thức quản lý chuyên môn ở các chủ hộ chiếm 51,5 – 69,89%, đối với các chủ
doanh nghiệp chiếm hơn 43%.
Đây là một trong những hạn chế có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất,
chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường trong hoạt động của các làng nghề.
Trong lịch sử phát triển làng nghề các giai đoạn qua thì hình thức tổ chức
đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường. Trình độ công nghệ
thủ công và bán cơ khí vẫn chiếm tỷ lệ hơn 60% ở các làng nghề.
Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới,
nhiều làng nghề đã áp dụng công nghệ mới, thay thế máy móc mới, hiện đại.
Ví dụ, làng gốm Bát Tràng đã dần dần đưa công nghệ nung gốm sứ bằng lò
tuy nen (dùng ga và điện) thay cho lò hộp và lò bầu (dùng than và củi), nhào
luyện đất bằng máy thay cho bằng tay thủ công, dùng bàn xoay bằng mô tơ điện
thay cho bàn xoay bằng tay ; làng gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (Bắc Ninh) hiện nay đã
đầu tư 11 máy xẻ ngang, 300 máy cắt dọc, 100 máy vanh, 500 máy khoan bàn,
500 máy phun sơn… phục vụ cho sản xuất, nhờ đó mà năng suất và chất lượng
sản phẩm cũng được nâng cao rõ rệt…
Bảng 1.1. Trình ñộ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay
ðVT: % số hộ
(Nguồn: www.langnghe.org.vn)
Trình độ kỹ thuật
Chế biến
nông – lâm –
thủy sản
Thủ công mỹ
nghệ và vật
liệu xây dựng
Các
ngành
dịch vụ
Các
ngành
khác
Nam hiện nay. Như vậy vừa gây mất vệ sinh, vừa bụi bẩn, ồn ào xung quanh,
vừa không an toàn cho sản xuất, tạo điều kiện phát tán ô nhiễm môi trường
nhiều và nhanh hơn.
2.1.3.4. Nguyên liệu, nhu cầu về vốn
Nguyên vật liệu cho các làng nghề chủ yếu được khai thác ở các địa
phương trong nước. Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phong phú
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………… 14
nông sản và thực vật, đồng thời có nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng
trong đó có các loại vật liệu xây dựng. Do đó, hầu hết các nguồn nguyên liệu
vẫn lấy từ trực tiếp từ tự nhiên.
Do sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, việc khai thác và cung ứng các
nguyên liệu tại chỗ hay các vùng khác trong nước đang dần bị hạn chế. Ví dụ,
theo thống kê, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) mỗi năm tiêu thụ khoảng
70.000 tấn than, gần 100.000 tấn đất nguyên liệu; Các làng nghề chế biến gỗ,
mây tre đan trong những năm qua đòi hỏi cung cấp một khối lượng nguyên
liệu rất lớn, đặc biệt là các loại gỗ quý dùng cho sản xuất đồ gỗ ga dụng và gỗ
mỹ nghệ. Nhiều nguyên liệu chúng ta đã phải nhập từ một số nước khác.
Sự khai thác bừa bãi, không có kế hoạch đã làm cạn kiệt tài nguyên và
gây ảnh hưởng tới môi trường sinh thái. Việc sơ chế các nguyên liệu chủ yếu
do các hộ, các cơ sở sản xuất tự làm với kỹ thuật thủ công hoặc các máy móc
thiết bị tự chế lạc hậu. Do đó, chưa khai thác hết hiệu quả của các nguyên liệu,
gây lãng phí tài nguyên.
Về nhu cầu vốn, các làng nghề thường không yêu cầu vốn đầu tư lớn,
nhưng lại có khả năng thu hút nhiều lao động, có khả năng mang lại hiệu quả
kinh tế xã hội.
2.1.2.5. ðặc ñiểm về sản phẩm, thị trường của làng nghề
hưởng đến an toàn lao động.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Trước đây, về cơ bản thị trường này
nhỏ hẹp, tiêu thụ tại chỗ (các vùng nông thôn, các làng nghề) do đó giá thành
cũng thấp. Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, cơ cấu kinh tế và
quan hệ hệ sản xuất ở nông thôn cũng dần thay đổi, điều này đã tác động mạnh
mẽ đến tình hình sản xuất và kinh doanh của các làng nghề, chúng dần thích
ứng, đáp ứng các nhu cầu của một nền kinh tế mới. Sản xuất hộ gia đình được
khuyến khích và chiếm ưu thế đã tạo điều điều cho việc sử dụng lao động, tự
do chọn nguyên liệu và sản phẩm, tăng gia sản xuất, lựa chọn thị trường và tiêu
thụ sản phẩm. Nhiều mặt hàng từ các làng nghề đã được nhiều thị trường trong
nước chấp nhận và vươn tới các thị trường nước ngoài, mang lại nguồn thu
đáng kể cho quốc gia, đặc biệt phải kể đến là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………… 16
(mây tre đan, hàng dệt, thêu ren, gốm…), đồ gỗ gia dụng, gỗ mỹ nghệ… Hiện
nay, thị trường xuất khẩu các mặt hàng truyền thống của Việt Nam mở rộng
sang khoảng hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước như Trung
Quốc, Hồng Kông, Singapo, thậm chí cả các thị trường khó tính như Nhật Bản,
Hàn Quốc, Hoa Kỳ, EU… Riêng năm 2009, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng
mây, tre, lá thảm, sơn mài của Việt Nam đạt 178.712.078 USD, chiếm 0,3%
tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2009.
- Giá trị sản lượng các làng nghề: Trong thời gian qua, các làng nghề
Việt Nam đã có nhiều bước tiến mới trong quá trình phát triển. Các làng nghề
đã tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất
khẩu. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tính đến
năm 2000, tổng giá trị sản lượng của các làng nghề trong cả nước đạt khoảng
40.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân trong thời gian này qua khảo sát