BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆN NAM
HÀ THỊ KIM CHIẾN ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
ðẾN SINH TRƯỞNG, RA HOA CỦA CÂY MAI VÀNG
YÊN TỬ (Ochnaintegerrima (Lour)) TẠI GIA LÂM- HÀ NỘI CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ : 60. 62. 01.10 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
1. TS. NGUYỄN VĂN PHÚ
2. TS. ðẶNG VĂN ðÔNG
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến TS. ðặng Văn ðông, TS Nguyễn Văn
Phú người ñã tận tình giúp ñỡ, hướng dẫn tôi thực hiện ñề tài và hoàn thành công
trình nghiên cứu này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn ñến các cán Trung tâm nghiên cứu và phát triển
hoa cây cảnh – viện Nghiên cứu Rau Quả, các thầy cô giáo trong Khoa Nông học –
Học viện nông nghiệp Việt Nam ñã tạo ñiều kiện hướng dẫn, giúp ñỡ tôi trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu ñể có thể hoàn thành luận văn.
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể gia ñình, bạn bè ñã tạo ñiều
kiện giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Hà Thị Kim Chiến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
2.1.3 ðặc ñiểm thực vật học 5
2.1.4 Yêu cầu ngoại cảnh ñối với mai vàng Yên tử 6
2.1.5 Giá trị kinh tế và sử dụng của cây mai vàng 6
2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất mai vàng ở Việt Nam 7
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ mai vàng ở Việt Nam 7
2.2.2 Tình hình nghiên cứu về cây mai vàng ở Việt Nam 9
2.3 Tình hình nghiên cứu về cây mai liên quan ñến nội dung nghiên cứu của
ñề tài 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
3 VẬT LIỆU, ðỊA ðIỂM NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 18
3.1 Vật liệu nghiên cứu 18
3.2 Nội dung nghiên cứu 18
3.3 ðịa ñiểm, thời gian nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
4.1.5 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến tình hình sâu bệnh hại 30
4.2 Ảnh hưởng của tuổi khi trồng ñến khả năng sinh trưởng, phát triển của
mai vàng Yên Tử 32
4.2.1 Ảnh hưởng của ñộ tuổi khi trồng ñến tỷ lệ sống và các giai ñoạn sinh
trưởng của mai vàng Yên Tử 32
4.2.2 Ảnh hưởng của tuổi trồng ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao và số lá
cây mai vàng Yên Tử 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
4.2.3 Ảnh hưởng của tuổi trồng ñến khả năng ra hoa và chất lượng hoa mai
vàng Yên Tử 35
4.2.4 Ảnh hưởng của ñộ tuổi trồng ñến mức ñộ sâu bệnh hại cây 36
4.3 Ảnh hưởng của chế ñộ bón lót ñến khả năng sinh trưởng phát triển của
mai vàng Yên Tử 38
4.3.1 Ảnh hưởng của chế ñộ bón lót ñến tỷ lệ sống và các giai ñoạn sinh
trưởng của mai vàng Yên Tử 38
4.3.2 Ảnh hưởng của chế ñộ bón lót ñến chiều cao cây và số lá của cây
Mai vàng 40
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng Trang
2.1 Diện tích gieo trồng mai tại TP.HCM năm 2009 7
2.2 Kết quả ñiều tra phân bố Mai vàng Yên Tử 12
4.1 Tỷ lệ sống và các giai ñoạn sinh trưởng của cây Mai vàng Yên tử ở
các thời vụ trồng 24
4.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao cây
của cây mai vàng Yên tử 26
4.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến ñộng thái ra lá của cây mai vàng
Yên Tử 28
4.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng ñến khả năng ra hoa và chất lượng hoa 29
4.5 Tình hình sâu hại trên cây mai vàng Yên Tử 31
4.6 Tỷ lệ sống và các giai ñoạn sinh trưởng của mai vàng Yên Tử ở tuổi
trồng khác nhau 32
4.7 Ảnh hưởng của tuổi trồng ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao cây của
cây mai vàng Yên tử 33
4.19 Ảnh hưởng của chế ñộ cắt tỉa ñến ñộng thái ra lá của cây mai vàng
Yên Tử 47
4.20 Ảnh hưởng của chế ñộ cắt tỉa khác nhau ñến chất lượng hoa 49
4.21 Tình hình sâu bệnh hại khi áp dụng chế ñộ cắt tỉa khác nhau 50
4.22 Ảnh hưởng của các biện pháp ñiều chỉnh nở hoa ñến sự phát triển của nụ 51
4.23 Ảnh hưởng của một số biện pháp ñiều chỉnh nở hoa ñến chất lượng
hoa mai 52
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
4.1 ðộng thái tăng trưởng chiều cao ở các thời vụ trồng 26
4.2 ðộng thái ra lá ở các thời vụ trồng 28
4.3 Sự biến ñộng của chất lượng hoa ở các thời vụ trồng khác nhau 30
4.4 ðộng thái tăng trưởng chiều cao ở các tuổi trồng khác nhau 34
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
1. MỞ ðẦU
1.1. ðặt vấn ñề
Việt Nam là xứ sở của nhiều loài hoa ñẹp, quý nói chung và mai vàng nói
riêng. Nhờ ñiều kiện thiên nhiên ưu ñãi, nước ta có ñủ ñiều kiện ñể cho hoa Mai
phát triển, nhất là các loại hoa mai quý.
Mai vàng ở Việt Nam là một loài cây cảnh rất phổ biến từ miền Trung trở
vào, ñược người dân trồng rộng rãi trong vườn nhà, làm cây cảnh trồng chậu,
bonsai. Nhưng sử dụng nhiều nhất vẫn là vào dịp Tết Nguyên ðán cổ truyền vì ñây
là một loài hoa chưng tết chủ ñạo. Cây mai ngày tết ñược xem như là vật mang lại
may mắn cho năm mới. Tuy nhiên sự phân bố Mai vàng hiện nay chưa có sự cân bằng
giữa các vùng miền
Hiện nay mai vàng Yên Tử ñược phát hiện vào những năm 2007-2008 tại
dãy núi Yên Tử thuộc thị xã Uông Bí và huyện ðông Triều của tỉnh Quảng Ninh.
Mai vàng Yên Tử có ñặc tính rất khác các loài mai khác là hoa nở thành chùm to,
tập trung, hoa bền và ñặc biệt là có mùi hương quyến rũ, nên rất ñược nhiều người
ưu thích (ðặng Văn ðông, 2008).
Hà Nội là một trong những thành phố lớn có mức sống cao, nhu cầu thưởng
thức hoa mai tăng mạnh trong những năm gần ñây ñặc biệt là mai vàng Yên Tử.
Hiện nay, mai vàng Yên Tử ñã và ñang bị khai thác không hợp lý, làm số lượng cây
giảm ñi nhanh chóng. ðể phục vụ nhu cầu thị trường của thành phổ Hà Nội và các
tỉnh lân cận tôi ñề xuất nghiên cứu ñề tài: “Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ
thuật ñến sinh trưởng, ra hoa của cây mai vàng Yên Tử (Ochnaintegerrima
Khi nói về mai thì có hai loài mai, loài thứ nhất có hoa màu trắng xuất phát
từ Trung Quốc, sau ñó lan qua Nhật Bản và miền Bắc Việt Nam, ñây chính là loài
quốc hoa của Trung Quốc
Loài mai thứ hai có hoa màu vàng. Trên thế giới khoảng 50 loại Mai vàng rải
rác ở vùng nhiệt ñới và cận nhiệt ñới, song tập trung chủ yếu ở châu Phi và ðông
Nam Á nguyên sản ở vùng núi Tây Trung Quốc. Ở Việt Nam. Mai vàng dễ tìm thấy
ở rừng Trường Sơn và là một loài cây cảnh phổ biến từ miền Trung trở vào
(Nguyễn Anh Huy, 2011)
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu về mai vàng tập trung nhiều ở Trung
Quốc, tuy nhiên ở mỗi nước khác nhau có những loài mai khác nhau cụ thể:
Mai vàng Inñônêxia: Những loài này có tên khoa học là Ochna kirkii Oliv,;
Ochna serrulata (Hochst,) Walp, và Ochna serrulata. Chúng ñều có nguồn gốc ở
Nam Phi, tuy nhiên "ngoại hình" lớn hơn. Có loài nở hoa vào mùa xuân và mùa hè
hoặc nở quanh năm (Vương Trung Hiếu (2006).
Mai vàng Nam Phi: có khoảng 12 loài mai vàng thuộc chi Ochna, bao gồm
dạng cây lẻ và cây bụi, trong ñó có hai loài phổ biến là: Ochna pretoriensis
(magalies plane) và Ochna pulchra (peeling plane). Hai loài này xuất hiện rộng khắp
vùng ñồi thuộc Koppie. Loài Ochna pulchra cao khoảng 7m, vỏ cây thường bị tróc
ra, lá dễ rụng. Chúng mọc hoang dã trong rừng, vỏ cây màu xám nhạt, xù xì ở phần
gốc. Phần trên của thân cây vỏ bị tróc lộ ra màu trắng kem nhạt. Gỗ cây ít ñược sử
dụng vì giòn và dễ gãy. Loài này có hai loại màu hoa: màu vàng và màu hồng.
Ở Nam Phi còn có những loài mai vàng khác, có tên khoa học là Ochna
serrulata, Ochna multiflora, Ochna tropurpurea. Người nước ngoài gọi chúng là
Mickey Mouse Plant, Bird's Eye Bush, Small-leaved plant và Carnival bush, Chúng
khá giống với mai tứ quí Việt Nam (Vương Trung Hiếu, 2006).
Mai vàng Myanma: Ở ñất nước này, có loài mai vàng Ochna serrulata,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Yên Tử và mai vàng miền Nam có chung nguồn gốc hay nói ñúng hơn là cùng loài
(Ochna integerrima ). Lại có những ý kiến cho rằng, mai vàng Yên Tử và mai vàng
miền Nam không phải cùng loài. ðể có thể xác ñịnh chính xác nguồn gốc và xuất
xứ cây mai vàng Yên Tử cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu về vấn ñề này.
2.1.2. Phân loại thực vật
Có hai loại mai: Một loài hoa mai màu trắng có tên khoa học là Prunus mume,
thuộc chi Mận mơ (Prunus) thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), loài cây này ñược coi
là có nguồn gốc từ Trung Quốc và sau này ñược ñưa tới Nhật Bản và Triều Tiên,
ñược trồng ñể lấy quả và hoa. Nó có quan hệ họ hàng khá gần gũi với mơ châu Âu
(Prunus armeniaca).
Loài hoa mai vàng còn gọi là Huỳnh mai có tên khoa học là Ochna integerrima
(Lour, Merr), thuộc họ lão mai (Ochnaceae) nguyên sản ở vùng núi Tây Nam Trung
Quốc, có hơn 300 loài mai khác nhau. Những loại Mai trước kia thường ñược dùng
chơi cảnh là mai vàng, mai Chiếu Thuỷ, mai Tứ Quý, mai Hồng, mai Rồng
cuốn…(Trần Hợp, 1993); (T,Tsukamot 2001).
2.1.3. ðặc ñiểm thực vật học
Mai vàng là loại cây rụng lá hàng năm. Thân có chiều cao trung bình 2-7m,
ñường kính thân 10-25cm.
Cành thưa và có màu xám nâu. Lá mai vàng có màu xanh, lá ñơn, mọc cách,
mặt trên thường bóng. Lá có phiến bầu dục, dài, không lông, gân phụ 8-10 cặp, mép
lá có răng thấp, cuống lá dài từ 4 - 7 mm. Kích thước lá 7-19 x 3-5,5cm
Hoa màu vàng, có thể có mùi thơm. ðường kính hoa trung bình 3-4cm. Hoa có
từ 5-7 cánh hình ô van, cánh hoa dài 1,3-2cm, chiều rộng hoa 1-1,4cm. Hoa mai vàng
có nhiều nhị, màu nâu, số lượng thay ñổi, có chiều cao từ 0,9-1,2cm. Nhụy thường cao
hơn nhị, trung bình 1-1,4cm. Số lá noãn từ 5- 20, không lông, có 1 vòi nhụy.
Quả từ 1-10 hạt màu ñen, có nhân cứng nằm trên ñế hoa lồi.
Hoa mai không những có lại giá trị về tinh thần mà còn có giá trị kinh tế lớn. Ở
Việt Nam vào dịp Tết Nguyên ðán cây hoa mai vàng bán ñược bán với giá trung
bình 200 - 500 nghìn/cây, có những cây lên ñến hàng triệu ñồng .
Mặt khác hoa mai là biểu tượng của xuân về, hình ảnh hoa mai vàng khoe
sắc, ñâm chồi nảy lộc với hàm ý mong một năm mới nhiều tài lộc và thịnh vượng.
Vì lẽ ñó hoa mai vàng luôn ñược ưa chuộng hơn hoa mai trắng
Bên cạnh việc phục vụ nhu cầu giải trí, thưởng thức…cây hoa mai vàng còn
mang lại nguồn lợi kinh tế cao.
Ngoài ra, hoa của cây mai vàng ñể tươi có thể cất ñược tinh dầu thơm, dùng
ñể chữa vết bỏng nước và uống có thể chữa khỏi bệnh ngứa ở trẻ con. Hoa phơi khô
dùng ñể chữa ho, suyễn. (Jiang Qing Hai, 2006).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
2.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất mai vàng ở Việt Nam
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ mai vàng ở Việt Nam
Do ñiều kiện thời tiết khí hậu nên mai vàng chủ yếu tập trung phân bố ở
miền Nam của Việt Nam. Các tỉnh miền Trung từ Quảng Bình, Quảng Trị trở vào,
kéo dài ñến tận ðồng Nai, Tây Ninh, nơi nào cũng có mai vàng.
Bảng 2.1. Diện tích gieo trồng mai tại TP.HCM năm 2009
(Nguồn: Theo sở nông nghiệp TP.HCM(5/1/2010))
STT Quận/huyện
Mai gốc
(ha)
Mai ghép
(ha)
Tổng cộng
(ha)
Cơ cấu
kinh doanh mai vàng tại thành phố còn có một số lượng không nhỏ nhập từ các tỉnh,
tuy nhiên không nhiều và chất lượng không cao như năm trước.
Mặc dù trong bối cảnh suy giảm kinh tế ñã ảnh hưởng tới thu nhập của người
dân. Nhưng do mai vàng là chủng loại hoa truyền thống thường có sức tiêu thụ lớn
trong dịp Tết và số chậu mai nở ñúng Tết giảm mạnh nên giá mai năm 2009 ñã tăng
từ 70-200% so với cùng kỳ:
Theo Chi cục Phát triển nông thôn, tính ñến thời ñiểm tháng 12/2008, tổng
hợp từ các quận huyện Thủ ðức, quận 12, quận 9, quận 2, quận Bình Tân, Củ Chi,
Hóc Môn, Bình Chánh có 147 hộ ñã vay vốn theo chương trình 105 nhằm ñầu tư
xây dựng, cải tạo, sản xuất mai với tổng vốn vay là 29,97 tỷ ñồng, trong ñó ñến hạn
trả nợ từ quý 2/2009 là 11,15 tỷ ñồng.
Hiện nay việc sản xuất cây mai vàng từ các tỉnh như Bến Tre, Bình ðịnh ñã
ứng dụng ñược thành tựu công nghệ nên chất lượng sản phẩm và giá cả ñáp ứng
ñược nhu cầu của ñại ña số người tiêu dùng. Ước tính sản lượng hoa phục vụ Tết
Nguyên ðán Canh Dần 2010 khoảng 4 triệu chậu lan, kiểng và mai; trong ñó, mai
vàng 1,500,000 chậu, Lan trên 5 triệu cành hoa các loại. Mai vàng sẽ chiếm tỉ trọng
cao nhất trong diện tích sản xuất hoa, cây kiểng Tết của thành phố. Diện tích Mai
vàng khoảng 420 ha; tăng 17ha so với Tết Nguyên ñán năm 2009 (Theo khuyến
nông TP.HCM).
Với tình hình sản xuất và tiêu thụ như trên chưa ñáp ứng ñủ nhu cầu ñời sống
ngày càng cao của con người cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Mặt khác sự phân bố mai
vàng hiện nay chưa có sự cân bằng giữa các miền. ðặc biệt là miền Bắc sự phân bố
mai vàng còn manh mún, chưa tập trung, nguyên nhân là do ñiều kiện khí hậu, thời tiết
của miền Bắc khắc nghiệt làm cho cây mai sinh trưởng phát triển kém. Mai vàng Yên
Tử là một trong những giống mai phù hợp với ñiều kiện khí hậu của miền Bắc Việt
Nam nhưng lại chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về nó. Chính vì vậy việc nghiên
cứu các biện pháp kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc và ñiều khiển ra hoa ñối với
cây mai vàng Yên Tử trong thời ñiểm hiện nay một nhiệm vụ cấp thiết.
Chính vì vậy trong ñề tài này tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của một số
tạo thành bó. Mai chùm gởi còn có tên khác là"mai tỳ bà" hay "mai vương", "mai
thơm", "mai ngự". Thông thường, mai vàng có mùi hương rất khó nhận ra, song ở
Việt Nam có loài mai vàng năm cánh hương thơm lại ñậm hơn những loài mai khác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
nên ñược gọi là "mai hương". Riêng loài mai có cánh hoa lớn hơn kích cỡ bình
thường ñược gọi là "mai châu". Mai châu có nụ hoa nhỏ, cánh dài và nhọn, ñược gọi
là "mai cánh nhọn". Có loài mai vàng 5 cánh bình thường, nhưng cành nhánh mềm
mại, rũ xuống như cây liễu nên ñược gọi là "mai liễu". Ở khu rừng Cà Ná có loài cây
mai thân nhỏ, cành rất giòn, lá hình bầu dục, trơn và có răng cưa mịn gọi là "mai
rừng Cà Ná". Ngoài ra, còn có loài mai thân rất to (gấp rưỡi thân cây mai bình
thường) gọi là "mai ñá" hay "mai Vĩnh Hảo". (Huỳnh Văn Thới, 1996)
Cây mai vàng có khả năng kháng bệnh cao nên thường rất ít khi nhiễm bệnh.
Kẻ thù nguy hiểm của cây mai vàng là các loại sâu như sâu ñục thân, sâu tơ, ốc sên,
rầy bông, …Vì vậy, người trồng mai cần có các biện pháp phòng trừ sâu bệnh. Người
ta ñặc biệt chú ý tới các biện pháp truyền thống mà “người xưa” thường dùng như cắt
bỏ phần bị sâu bệnh rồi ñem ñốt, nhặt bỏ và giết từng con nếu số lượng ít, dùng nước
tro bếp, vôi bột, tăng cường ánh sáng, nước cay trong ống ñiếu thuốc lào. Không nên
sử dụng quá nhiều hoá chất bảo vệ thực vật ñể phun. (Việt Chương, 2000)
Mai vàng mọc hoang dại trong rừng thường có 5 -9 cánh. ðây là loại mai mà
“người xưa” trồng rất nhiều. ðặc ñiểm của chúng là sống lâu năm, sinh trưởng mạnh,
lại ít sâu bệnh tấn công hơn. Tuổi thọ của các loại mai này có thể sống ñược hơn một
trăm năm tuổi. Những loại mai này sống phù hợp trên ñất cao ráo, màu mỡ, nhất là
không bị tán lá bên trên che rợp, … Gốc những cây mai này có ñộ lớn 3-4 chét tay
người lớn, cây cao 4-5m và trổ hoa rất ñẹp. Mai vàng 5 cánh lá xanh tốt suốt năm, chỉ
ñến tháng cuối năm Âm lịch, tất cả lá trên cành mới trở nên vàng úa. ðó là mùa thay
lá của mai vàng. (Việt Chương, Nguyễn Việt Thái, 2005).
Khoảng nửa thế kỷ trở lại ñây, nhờ vào tài lai tạo của nhiều thế hệ nghệ nhân
cách ñây khoảng 800 năm, ñược phân bố rải rác khắp vùng rừng Yên Tử, nhưng tập
trung ở 3 khu chính ñó là: Khe núi dọc từ chùa Hoa Yên xuống, khu rừng thuộc
phường Vàng Danh (TX Uông Bí) và khu rừng thuộc dãy núi xã Tràng Lương, Bình
Khê (ðông Triều). Nhiều cây có ñường kính thân tới 0,5m, chiều cao 7-8m, Kết quả
phân tích, cho thấy giống mai vàng này có cùng các ñặc ñiểm với mai vàng miền
Nam. (ðặng Văn ðông, 2008)
Theo các sư thầy tại Yên Tử, cây mai vàng Yên Tử ñã có từ rất lâu và nó ñã
gắn liền với nghiệp tu hành của họ. Cây mai vàng là cây vừa có giá trị lịch sử vừa
có giá trị kinh tế lớn. Họ rất mong muốn có một cơ quan nào ñó ñứng ra nghiên cứu
ñể bảo tồn và phát triển cây mai vàng Yên Tử. ðó cũng sẽ là ñiểm nhấn ñể du
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
khách khắp nơi về Yên Tử thăm quan và lễ phật. ðặc biệt, vào dịp lễ hội Yên Tử (từ
cuối tháng Chạp ñến hết tháng 3 Âm lịch) mà sắc vàng của hoa mai rực rỡ khắp nơi
sẽ làm cho vùng núi Yên Tử trở nên bình yên và thiêng liêng hơn.
Theo những nghiên cứu gần ñây của nhóm các chuyên gia viện Nghiên cứu
Rau Quả thì cây mai vàng Yên Tử và cây mai vàng miền Nam ñều thuộc cùng một
loài (tên khoa học là Ochna integerrima).(ðặng Văn ðông,2008)
Qua quá trình ñiều tra từ ngày 03/ 01/ 2008 ñến 10/ 01/ 2008 và từ ngày
28/02/2008 ñến 07/03/2008 nhóm nghiên cứu viện Nghiên cứu Rau Quả nhận thấy
cây mai vàng Yên tử không chỉ phân bố hẹp ở trong khu vực Yên tử mà còn có rất
nhiều ở Bình Khê và gần Thị xã Uông Bí.
Bảng 2.2 Kết quả ñiều tra phân bố Mai vàng Yên Tử
( Nguồn:ðặng Văn ðông,2008)
STT
Khu vực ðiểm phân bố Cây/ha
ðư
X X X x x
- Chùa Hồ <100
- X X x -
- Trại Lốc <100
X - X - -
- Chùa Ba Bậc <100
- X X - -
- Dốc Hẩy
>100
X - X x x Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Bảng 2.2 cho thấy, cây mai vàng Yên Tử phân bố tại 11 ñiểm của 2 khu vực
khác nhau. Số lượng cây của mỗi ñiểm phân bố cũng khác nhau. Tại các ñiểm thác
Vàng, thác Bạc (Yên Tử) và khe Chè, dốc Hẩy (Tây Sơn) có số lượng trên 100
cây/ha, những ñiểm còn lại có số lượng ít hơn 100 cây/ha.
2.3. Tình hình nghiên cứu về cây mai liên quan ñến nội dung nghiên cứu của ñề tài
Ở Trung Quốc, các nhà làm vườn nhân giống mai vàng bằng chủ yếu 3
phương pháp là chiết cành, giâm cành, ghép cành, Trong ñó, phương pháp ghép
cành ñược áp dụng rộng dãi hơn, Gốc ghép thường là gốc ñào và gốc mai dại. Cây
ghép từ lúc trồng ñến lúc ra hoa kéo dài ít nhất 2 năm. Cây mai vàng có thể ñược
trồng ngoài ñất hay trồng trong chậu. Nếu trồng trong chậu thì dùng giá thể có trộn
xỉ than là tốt nhất. Các kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy, cây mai vàng có
thời gian rụng lá vào mùa ñông, nhiệt ñộ thích hợp cho sinh trưởng là 18-30
0
C, thích
khỏe, nhanh ra hoa và hoa có mùi thơm.
Về kỹ thuật ñiều khiển nở hoa cho cây mai vàng:
ðể cây mai vàng nở vào ñúng dịp Tết Nguyên ðán, người trồng Mai cần làm
rất nhiều việc vào những ngày ñầu của tháng Chạp. Người trồng mai phải quan sát
kỹ nụ hoa, xem nụ hoa lớn hay nhỏ ñể ñịnh kỳ tuốt lá chính xác. Sự tuốt lá sớm hay
muộn cũng phụ thuộc vào từng giống Mai. Với mai vàng 5 cánh, nếu nụ hoa nhú
nhỏ bằng hạt gạo nên tuốt lá sớm vào ngày 12-13 tháng Chạp, nếu nụ lớn bằng hạt
ñậu xanh thì trẩy lá vào rằm tháng Chạp, nếu nụ khá to và có khả năng bung vỏ lụa
thì trẩy lá vào ngày 20 tháng Chạp. Với mai có nhiều hơn 5 cánh và có nhiều tầng
như Mai Giảo, Mai Huỳnh Tỷ, … phải tuốt lá rất sớm, từ ngày mùng 8 tháng Chạp
trở ñi. Cẩn thận hơn thì vào những ngày ñầu tháng Chạp, tuốt các lá nằm khuất bên
trong tán lá rậm rạp ñể giúp các nụ hoa bên trong nhận ñược nhiều ánh sáng hơn.
Quá trình nở hoa diễn ra từ khi nụ hoa mới nhú bằng hạt ñậu xanh. Khi nụ hoa bằng
hạt ñậu phộng thì gọi là hoa cái có lớp vỏ lụa bọc bên ngoài, mất khoảng thời gian
từ 6-7 ngày. Một ngày sau ñó lớp vỏ lụa tự bung ra, lộ ra bên trong có 1 chùm hoa
có 3-4 nụ có kích cỡ không ñều nhau. Mỗi nụ nhỏ ñó sẽ nở thành 1 bông hoa. Nụ
lớn nở trước, nụ nhỏ nở sau, cách nhau vài ba ngày, Từ khi bung vỏ lụa ñến ngày
chùm hoa bên trong bắt ñầu nở mất khoảng 1 tuần. Vì vậy, vào ngày 23 tháng Chạp
(ngày cúng ông Táo) mà cây Mai vàng có nhiều nụ bung vỏ lụa thì sẽ nở vào ñúng
dịp Tết. (Việt Chương, Nguyễn Việt Thái, 2005).
Tùy vào sở thích và mục ñích sử dụng cây mai mà có những cách trồng mai
khác nhau, có cách ñòi hỏi phải trồng với kỹ thuật cao (trồng theo cách ghép cành,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
uốn ñể có cây mai cảnh cổ, cây mai ghép nhiều màu, hoặc cây mai bonsai) hay chỉ
trồng giản dị trong ñất ñể mai sống và ra hoa. Cây mai có thể nhân giống bằng
phương pháp hữu tính (trồng bằng hạt, thường mất từ 5 – 6 năm mới có thể sử dụng)
hay phương pháp vô tính (chiết cành, ghép cành hoặc giâm cành, có thể sử dụng sau