Thành phần loài bọ rùa bắt mồi họ coccinellidae trên hoa cúc, một số đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ rùa 8 chấm (harmonia octomaculata fabricius, 1781) vụ hè thu 2013 tại tây tựu, từ liêm, hà nội - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN VIỆT HÀ
THÀNH PHẦN LOÀI BỌ RÙA BẮT MỒI HỌ COCCINELLIDAE
TRÊN HOA CÚC, MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI
CỦA BỌ RÙA 8 CHẤM (Harmonia octomaculata Fabricius, 1781)
VỤ HÈ THU 2013 TẠI TÂY TỰU, TỪ LIÊM, HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ


CỦA BỌ RÙA 8 CHẤM (Harmonia octomaculata Fabricius, 1781)
VỤ HÈ THU 2013 TẠI TÂY TỰU, TỪ LIÊM, HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ: 60.62.01.12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH CHIẾN
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả
nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả. Các số liệu
và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

bè luôn động viên và giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Việt Hà Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC ĐỒ THỊ vii
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và yêu cầu đề tài 3
1.2.1 Mục đích 3
1.2.2 Yêu cầu 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 7

hoa Cúc vàng Đài Loan vụ hè thu 2013, tại Tây Tựu, Từ Liêm, Hà Nội. 36
4.3. Đặc điểm hình thái của bọ rùa 8 chấm (Harmonia octomaculata) 38
4.4 Tập tính hoạt động của bọ rùa 8 chấm (H. octomaculata) 43
4.5. Đặc điểm sinh học của bọ rùa 8 chấm (H. Octomaculata) 45
4.5.1. Thời gian phát dục các pha và vòng đời của bọ rùa 8 chấm (H. Octomaculata) 45
4.5.2. Sức đẻ trứng của bọ rùa 8 chấm H. Octomaculata 48
4.5.3 Tỷ lệ trứng nở của bọ rùa 8 chấm H. Octomaculata 51
4.5.4 Nhịp điệu đẻ trứng của bọ rùa 8 chấm H. Octomaculata 51
4.5.5. Khả năng ăn các loài rệp muội khác nhau của bọ rùa 8 chấm H. Octomaculata . 54
4.5.5.1. Khả năng ăn các loài rệp muội khác nhau của ấu trùng bọ rùa 8 chấm 54
4.5.5.2. Khả năng ăn các loài rệp muội khác nhau của trưởng thành bọ rùa 8 chấm 55
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 KẾT LUẬN 57
5.2 ĐÊ NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 64
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

Bảng 2.1 Thành phần bọ rùa họ Coccinellidae có ích ở Việt Nam 15
Bảng 4.1 Thành phần loài bọ rùa bắt mồi trên hoa cúc vụ hè thu, 2013 tại
Tây Tựu, Từ Liêm, Hà Nội 32
Bảng 4.2 Diễn biến mật độ bọ rùa 8 chấm trên giống cúc Nhật trắng và cúc

RH%=80,6% 51
Bảng 4.9 Nhịp điệu đẻ trứng của bọ rùa 8 chấm H. Octomaculata nuôi bằng
rệp xanh đen 53
Bảng 4.10 Khả năng ăn rệp muội của ấu trùng bọ rùa 8 chấm 54
Bảng 4.11 Khả năng ăn rệp muội của bọ rùa trưởng thành H. Otomaculata 56
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC HÌNH

STT Tên hình Trang
Hình 4.1 Các loài bọ rùa bắt mồi trên hoa cúc 33
Hình 4.2 Trứng bọ rùa 8 chấm (H. octomaculata) 39
Hình 4.3 Ấu trùng tuổi 1 bọ rùa 8 chấm (H. octomaculata) 39
Hình 4.4 Ấu trùng tuổi 2 bọ rùa 8 chấm (H. octomaculata) 40
Hình 4.5 Ấu trùng tuổi 3 bọ rùa 8 chấm (H. octomaculata) 41
Hình 4.6 Ấu trùng tuổi 4 bọ rùa 8 chấm (H. octomaculata) 41
Hình 4.7 Nhộng bọ rùa 8 chấm (H. octomaculata) 42
Hình 4.8 Trưởng thành đực 43
Hình 4.9 Trưởng thành cái 43
Hình 4.10 Trứng sắp nở của bò rùa bọ rùa 8 chấm (H. octomaculata) 43
Hình 4.11 Ấu trùng tuổi 1bọ rùa 8 chấm (H. octomaculata) mới nở 44
Hình 4.12 Trưởng thành bọ rùa 8 chấm (H. octomaculata) đang đẻ trứng 45 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

Thái Lan trong những năm gần đây đã phát triển ngành sản xuất hoa lan cho
giá trị tới 800 triệu USD/năm
Việt Nam có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi để có thể trồng
được nhiều loại hoa và cây cảnh. Thị trường trong nước rộng lớn và phong
phú, bên cạnh đó tiềm năng xuất khẩu cũng đầy hứa hẹn, hoa và cây cảnh
Việt Nam nếu được tổ chức tốt từ khâu sản xuất, quảng bá đến tiêu thụ sẽ tạo
tiềm lực kinh tế lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong tiến
trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Hiện nay diện tích hoa cây cảnh cả nước có
15000 ha, tăng 7% so với 2004. Sản xuất hoa đang cho thu nhập cao bình
quân đạt khoảng 70 - 160 triệu đồng/ha nên rất nhiều địa phương trong cả
nước đang mở rộng diện tích hoa trên những vùng đất có tiềm năng. Một số
tỉnh Duyên hải miền Trung cũng bắt đầu phát triển sản xuất hoa cắt cành theo
hướng hàng hoá, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ, với chủng loại tương đối
hạn chế. Các tỉnh phía Nam, điển hình là Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó
có các huyện Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức cùng các tỉnh Đồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

bằng sông Cửu Long như Tiền Giang, Đồng Tháp là nguồn cung cấp hoa và
cây cảnh đáng kể. Tại miền Bắc, Hà Nội được đánh giá là vùng hoa lớn nhất
tại huyện Từ Liêm với diện tích 500 ha thì xã Tây Tựu có 330 ha (chiếm 66%
diện tích trồng hoa toàn huyện, chiếm 84,6% diện tích canh tác toàn xã), chủ
yếu trồng hoa cúc, hoa hồng, hoa đồng tiền, hoa ly, hoa loa kèn… Ngoài ra,
một số huyện ngoại thành khác và một số tỉnh khác như Vĩnh Phúc, Hưng
Yên, Hà Tây, Thái Bình… (Đặng Văn Đông, 2000).
Bên cạnh những thuận lợi thì nhìn chung sản xuất hoa ở nước ta bị hạn chế
rất lớn về thời vụ: ở phía Bắc, hầu hết các loại hoa có chất lượng cao chỉ cho chất
lượng khá trong vụ Đông Xuân. Hầu hết những cơ sở sản xuất hoa ở nước ta có
quy mô nhỏ, sản xuất đơn lẻ. Ở quy mô sản xuất này không thể áp dụng những kỹ
thuật tiến bộ như nhà kính, nhà lưới, sân bãi, mặt bằng, dây chuyền chế biến, bảo

bọ rùa bắt mồi họ Coccinellidae trên hoa cúc, một số đặc điểm sinh học, sinh
thái của bọ rùa 8 chấm (Harmonia octomaculata Fabricius, 1781)vụ hè thu
2013 tại Tây Tựu, Từ Liêm, Hà Nội”.
1.2 Mục đích và yêu cầu đề tài
1.2.1 Mục đích:
Trên cơ sở điều tra, xác định thành phần bọ rùa bắt mồi trên hoa cúc vụ
hè thu năm 2013 tại Tây Tựu, Từ Liêm, Hà Nội. Đồng thời nắm được đặc
điểm sinh học, sinh thái của loài bọ rùa tám chấm (Harmonia octomaculata
Fabricius), nhằm bước đầu đề xuất phương pháp nhân nuôi, ứng dụng phòng
chống rệp hại hoa cúc đạt hiệu quả.
1.2.2 Yêu cầu:
- Xác định thành phần bọ rùa bắt mồi trên hoa cúc vụ hè thu năm 2013
tại Tây Tựu, Từ Liêm, Hà Nội.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ rùa 8 chấm
Harmonia octomaculata Fabricius. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học: Cung cấp và bổ sung những dẫn liệu khoa học về
đặc điểm sinh học, sinh thái loài bọ rùa 8 chấm (Harmonia octomaculata
Fabricius), một loài thiên địch quan trọng trên cây hoa cúc.
* Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài về họ bọ rùa
Coccinellidae, loài bọ rùa 8 chấm (Harmonia octomaculata Fabricius) góp
phần đề xuất việc lợi dụng loài thiên địch này trong biện pháp sinh học phòng
chống sâu hại nói chung trên cây hoa cúc nói riêng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6


Nhóm cúc tia:
- Tia có muỗng: Trắng, vàng nghệ, Xanh két Cánh kép. Hoa 4-5 cm
- Tia không muỗng: Màu trắng, vàng tuơi, đỏ, xanh Cánh kép dạng
ống thẳng. Hoa 4-5 cm
Diện tích canh tác hoa cúc cắt cành tại Đà Lạt đã gia tăng rất lớn trong
những năm 1997-2000, chiếm khoảng 40-50% diện tích sản xuất hoa cắt cành
của địa phương. Hoa cúc chủ yếu được trồng trong nhà che Plastic và sản xuất
quanh năm. Hàng năm Đà lạt cung cấp cho thị trường tiêu dùng 10-15 triệu
cành hoa cúc các loại.
Những năm gần đây, nghề trồng hoa phát triển khá mạnh ở nhiều vùng
trong cả nước. Khu vực miền Bắc, Hà Nội được đánh giá là vùng trồng và tiêu
thụ hoa lớn nhất, trong đó phải kể đến huyện Từ Liêm với diện tích 500 ha, thì
xã Tây Tựu có 330 ha (chiếm 66% diện tích trồng hoa của huyện, chiếm
84,6% diện tích trồng của xã), người dân chủ yếu trồng hoa cúc, hoa hồng,
hoa đồng tiền, hoa ly, hoa loa kèn…
Ở Việt Nam, cây hoa có ý nghĩa lớn trong nền kinh tế của các vùng
trồng hoa, cây hoa đem lại hiệu quả kinh tế cao gấp 5-20 lần so với trồng các
cây trồng khác. Ở Việt Nam có nhiều khu vực trồng hoa hiệu quả cao như
Đồng Thái (Hải Phòng), Dĩnh Kế (Bắc Giang), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Tây
Tựu, Nhật Tân (Hà Nội)… Hiện nay, cả nước có trên 5.700 ha hoa, tập trung ở
Hà Nội (khoảng 1.500 ha), Hải Phòng (730 ha)
Cây hoa cúc tại Hoa Kỳ bị 17 loài côn trùng chích hút gây hại (rệp
muội, rệp sáp, bọ phấn, bọ xít). Tại Anh đã phát hiện ra trên 20 loài sâu hại
chính trên cây hoa cúc. Tại châu Á, Malaysia ghi nhận 4 loài sâu hại,
Singapore và Philippin có 3 loài, Thái Lan, Lào và Myanma có 2 loài. Dòi
đục lá Liriomyza trifolii là loài sâu hại hoa cúc rất quan trọng ở Hoa Kỳ,

Coccinella, Coccinellinae, Coleomagilla, Cycloneda, Harmonia, Hippodamia,
Mulsantia, Neoharmonia, Propylea, Psyllobora.
Phân họ thứ 3: Epilachninae có 1 giống Epilachna.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

Phân họ thứ 4: Scymninae có 3 giống: Brachiacantha, Cryptolaemus,
Hyperaspis. Trong 4 phân họ bọ rùa bắt mồi trên, người ta xác định có hơn 450
loài. Phần lớn các loài bọ rùa này được phát hiện trên các cây trồng ở ruộng và
vườn. Chúng được biết đến như các loài côn trùng ăn thịt có ích. Vật mồi của
chúng chủ yếu là rệp. Có loài ăn ve, bét, có loài ăn trứng của bọ cánh phấn và ăn
những côn trùng nhỏ khác. Bọ rùa ăn rệp ở 2 giai đoạn trưởng thành và ấu trùng.
Ở châu Âu những nghiên cứu về bọ rùa Coccinellidae đã được tiến hành
từ rất lâu. Bọ rùa được các nhà sinh học nghiên cứu về phân loại học, khu hệ
Dobzhansky (1941). Đây là một họ có nhiều loài và phân bố rộng trên khắp thế
giới, 36 loài đầu tiên thuộc họ bọ rùa đã được Linne mô tả năm 1758 và xếp
chúng vào giống Coccinella. Số lượng loài bọ rùa được phát hiện ngày càng
nhiều. Sau gần 2 thế kỷ số loài đã tăng lên tới từ 2500 đến 3500 hiện nay có
khoảng 4000- 5000 loài. Ở nửa đầu thế kỷ 19, với mục đích khai thác, bóc lột các
nước thuộc địa, nhiều nước ở châu Âu như Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, … đã tổ chức
nhiều nhóm nghiên cứu thực địa. Họ đã thu được nhiều bộ sưu tập phong phú.
Những chuyên khảo về bọ rùa đã lần lượt xuất hiện (dẫn theo Nguyễn Thị Bích
Lan, 2010).
Murat Aslan (2005) đã xác định thành phần loài bọ rùa ăn rệp muội trên
các cây trồng ở Thổ Nhĩ Kỳ có 33 loài bọ rùa ăn rệp muội và đã xác định được
tên của các vật mồi (rệp muội) là 59 loài.
Châu Á gồm phần lớn các quốc gia có nền nông nghiệp phát triển mạnh, vì
vậy các nghiên cứu về khu hệ côn trùng nông nghiệp đã được nghiên cứu nhiều
trong đó các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến côn trùng có ích và sử dụng
chúng phòng trừ sâu hại. Bọ rùa là 1 trong những nhóm côn trùng có ích, kẻ thù tự

một cách chính xác từ những nghiên cứu trước đó. Từ đó dẫn tới hiện tượng “
ngừng sinh sản” chứ không phải “ ngừng sinh sản tạm thời”.
Semyanov et al. (2003) đã nghiên cứu ảnh hưởng của hiện tượng ngừng
dinh dưỡng đến sự đẻ trứng và tuổi thọ của loài bọ rùa nhiệt đới Harmonia
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

sedecimnotata. Hiện tượng đẻ trứng của loài bọ rùa cái này diễn ra mạnh mẽ đạt
93% tỷ lệ số trứng đẻ ở các con cái ăn rệp trở lại sau 30 ngày ngừng ăn. Tuổi thọ
của những cá thể cái này cũng kéo dài thêm 14% so với cá thể cái ăn hàng ngày.
Zaslavskii, Semyanov (1998) đưa ra kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của
sự thiếu hụt thức ăn đã làm chậm lại quá trình chín noãn hoàn trứng của bọ rùa cái
loài Harmonia sedecimnotata và chỉ khi sự thiếu hụt đó được bù lại bằng thức ăn
giàu Protein (rệp) thì quá trình chín noãn đó mới được kích thích trở lại.
Michaud (2001) đã xác định, phản ứng số lượng của loài bọ rùa Olla v-
nigrum diễn ra mạnh mẽ ở nơi mà quần thể rệp Diaphorina citri sinh sống. Điều
đó chỉ ra rằng đây chính là chìa khóa trong phòng trừ sinh học đối với loài rệp hại
cam quýt Diaphorina citri.
Zaslavskii et al. (1998) xác định, thức ăn như một nhân tố tín hiệu kiểm
soát hiện tượng đình dục ở loài bọ rùa Harmonia secdecimnotata. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, sự thiếu hụt thức ăn là nhân tố gây ra hiện tượng đình
dục với loại bọ rùa này. Hiện tượng đình dục có thể kéo dài cả tháng, nhưng
nó có thể chấm dứt ngay lập tức tại bất kỳ thời gian nào khi nguồn thức ăn là
rệp xuất hiện nhiều trở lại.
Subrata Paul Chowdhury et al. (2008) đã nghiên cứu sự mắn đẻ của loài bọ
rùa ăn rệp Micraspis discolor dưới sự ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ ở các mức
khác nhau: 20
0
C, 25
0

loại thức ăn giàu Protein.
Michaud (2001) cũng đã đưa ra kết quả nghiên cứu về bảng sống của
loài bọ rùa Olla V- Nigrum liên quan tới độ phong phú của quần thể rệp. Bảng
sống của loài bọ rùa này được xây dựng trên cơ sở các nghiên cứu ngoài tự
nhiên và mối liên quan đến sự thay đổi theo mùa về số lượng cá thể loài rệp
trên cây Atiso. Có 2 nguyên nhân ảnh hưởng đến tần suất xuất hiện của loài
bọ rùa này ngoài tự nhiên là sự ăn thịt lẫn nhau giữa các cá thể bọ rùa cùng
loài và sự ăn thịt lẫn nhau giữa các loại bọ rùa không cùng loài.
Thức ăn vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của bọ rùa ở các giai
đoạn. Theo nghiên cứu của Dixon (2000), thì thức ăn hạn chế sự phát triển của ấu
trùng H. axyridis trở nên rất khó khăn, điều đó cũng chính là nguyên nhân làm cho
khả năng sống sót của ấu trùng ở cuối mỗi tuổi xuống thấp.
Takahashi (1993) đã nghiên cứu loài bọ rùa Coccinella septempunctatabrucki
Mulsant, đây là một kẻ thù tự nhiên quan trọng của loài rệp hại cỏ linh lăng.Tác
giả đã nghiên cứu tập tính hoạt động của loài bọ rùa Coccinella septempunctata
brucki Mulsant trên cỏ linh lăng. Ở 10
0
C, bọ rùa chỉ hoạt động ban ngày, khi ánh
sáng cao hơn 0,2 MJ/ m
2
/0,5hr và tốc độ gió nhỏ hơn 10m/s.
Freier et al. (1996) đã nuôi liên tục nhiều thế hệ bọ rùa Harmonia axyridis
dễ dàng mà không cung cấp rệp. Tác giả cho rằng đây là một hy vọng dùng bọ rùa
ăn thịt này như một nhân tố phòng trừ sinh học. Trong tương lai cần sử dụng bọ
rùa để diệt rệp bông A. gossypii trên dưa chuột và rệp hại ở vườn quả.
Arshad Ali et al. (2009) đã thực hiện chương trình nghiên cứu về “ cơ sở
sinh thái học và hiệu quả của bọ rùa 6 vằn”. Kết quả cho thấy, vòng đời trung bình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12


(nhiều loài rệp và ở các giai đoạn phát triển khác nhau,…). Phần lớn các loài
bọ rùa có phản ứng với điều kiện môi trường không thuận lợi bằng cách di cư.
Tuy nhiên, phần lớn các con trưởng thành vẫn cam chịu sự thay đổi bất lợi
của môi trường bằng cách ngủ đông tạm thời, ngủ đông, ngủ hè hoặc qua hè.
Mặc dù những tập tính thích nghi này, song bọ rùa vẫn rất dễ gặp nguy hiểm
từ những nhân tố giới hạn, như kẻ thù tự nhiên và những tác động của con
người. Vì vậy cần có những biện pháp bảo vệ chúng (Iperti, 1999).
Sự thay đổi mùa vụ có ảnh hưởng đến sự xuất hiện và bùng phát rệp phá
hoại thực vật và tập tính của bọ rùa. Các loài bọ rùa được phát hiện ở các vùng
khác nhau có thể coi là một chỉ thị sinh học mới cho vùng địa lí khí hậu. Trong
phòng trừ sinh học hiện nay, bọ rùa là nhân tố quan trọng để hạn chế số lượng của
rệp sáp, rệp muội và ve bét. Tập tính tập trung của bọ rùa còn được giải thích cho
hiện tượng thích nghi khí hậu của loài ở những vùng lãnh thổ mới. Nghiên cứu
trong tương lai về di truyền, sinh lí học và tập tính của bọ rùa kết hợp với nghiên
cứu về động lực bay của chúng và các tác động đến hệ sinh thái nông nghiệp sẽ
được cải tiến một cách chắc chắn hơn trong chương trình sử dụng bọ rùa làm cơ
sở phòng trừ rệp hại (Iperti, 1999).
Biswas et al. (2006) đã bố trí thí nghệm trong nhà lưới và trong phòng
thí nghệm để xác định ảnh hưởng của hai loại thuốc rầy nâu hại thực vật là
Cymbush và Brifer lên loài bọ rùa đỏ M. discolor và loài nhiện sói Lycosa
pseudoannulata. Hiệu lực của thuốc được đánh giá trên cơ sở tỷ lệ chết của
rầy nâu, bọ rùa và nhiện sói trong điều kiện phòng thí nghiệm ở 24, 48 và 72
giờ sau khi sử lý thuốc. Giữa 2 loài ăn thịt thí nghiệm nhện sói chịu ảnh
hưởng của thuốc hóa học nhiều hơn bọ rùa đỏ.
Yu Guoyue et al. (1995) đã sử dụng 3 loài rệp Aphis craccivara, Aphis
gosypii, Rhopalosiphum maidis làm thức ăn cho 2 loài bọ rùa Coelophora
biplagiata và Micraspis discolor và đã chỉ ra đặc điểm sinh học: giai đoạn phát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14



Bảng 2.1: Thành phần bọ rùa họ Coccinellidae có ích ở Việt Nam
TT TÊN GIỐNG SỐ LOÀI TT TÊN GIỐNG SỐ LOÀI
1 Pharellus 1 29 Phymatostermus 4
2 Serangium 1 30 Chilocorus 6
3 Serangiella 1 31 Brumoides 1
4 Microserangium 1 32 Phaenochilus 1
5 Sticholotis 10 33 Sumnius 1
6 Xestolotis 1 34 Rodolia 10
7 Pharoscymnus 1 35 Llleis 3
8 Jauravia 1 36 Halyzia 1
9 Paranesolotis 1 37 Macroilleis 1
10 Plotina 1 38 Vibidia 1
11 Paraplotina 1 39 Coccinella 2
12 Palaeoeneis 2 40 Propylea 1
13 Stethorus 6 41 Calvia 2
14 Horniolus 2 42 Harmonia 3
15 Axinoseymnus 1 43 Leis 1
16 Pseudoscymnus 6 44 Micraspis 5
17 Apseudoscymnus 1 45 Mononeda 1
18 Nephus 1 46 Menochilus 1
19 Scymnus 20 47 Coelophora 7
20 Aspidimerus 5 48 Lemnia 4
21 Cryptogonus 7 49 Ballia 3
22 Pseudaspidimerus

1 50 Phrynocaria 1
23 Ortalia 2 51 Oenopia 7
24 Amida 6 52 Synonycha 1
25 Telsimia 2 53 Anisolemnia 3

đặc điểm hình thái học của bọ rùa M. discolor”. Tác giả đã tiến hành thí
nghiệm nuôi bọ rùa đỏ ở 2 mức nhiều độ và độ ẩm không khí khác nhau, với
3 loại thức ăn khác nhau. Kết quả thu được gồm: kích thước các pha phát
triển, thời gian phát dục các pha phát triển, khả năng đẻ trứng, tuổi thọ, vòng
đời và khả năng ăn rệp của loài bọ rùa này trong điều kiện phòng thí nghiệm.

Trích đoạn Thành phần loài bọ rùa thuộc họ Coccinellidae bộ Coleoptera trên hoa Đặc điểm hình thái của bọ rùa 8 chấm (Harmonia octomaculata) Tập tính hoạt động của bọ rùa 8 chấm (H octomaculata) Thời gian phát dục các pha và vòng đời của bọ rùa 8 chấm (H Octomaculata)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status