Tiểu luận mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại việt nam - Pdf 30

Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam

1

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Phạm vi nghiên cứu 4
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài 4
5. Bố cục đề tài 4
CHƯƠNG 1 5
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ 5
1.1. Sự hình thành và phát triển của hoạt động mua bán, sáp nhập
doanh nghiệp Việt Nam 5
1.2. Những vấn đề lý luận chung về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
6
1.2.1. Khái niệm về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 6
1.2.2. Hình thức mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 9
1.3. Kiểm soát hành vi tập trung kinh tế bằng cơ chế pháp luật 10
1.3.1. Khái niệm về kiểm soát tập trung kinh tế 10
1.3.2. Vai trò của kiểm soát hành vi tập trung kinh tế 11
CHƯƠNG 2 13
QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VỀ MUA BÁN, SÁP
NHẬP DOANH NGHIỆP, THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM 13
2.1 Quy định của Luật cạnh trạnh về mua bán, sáp nhập doanh
nghiệp 13
2.1.1 Các quy định về hình thức mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 13
2.1.1.2. Hợp nhất doanh nghiệp 13
2.1.1.3. Mua lại doanh nghiệp 14

số lượng đông và chủ yếu vì vậy để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp đó tìm
cách liên kết, tập trung lại với nhau là một điều tất yếu và rất cần thiết. Mặt khác
trong bối cảnh chúng ta đang tham gia hội nhập kinh tế và đang dần khẳng định
mình trước nền kinh tế thế giới, nền kinh tế đang có những bước phát triển mạnh
mẽ và có sự chuyển biến tích cực, khi mà kinh tế thị trường phát triển thì sự cạnh
tranh sẽ gia tăng và ngày càng gay gắt, sự gia tăng các hoạt động tập trung kinh tế
như một đòi hỏi khách quan. Để thực hiện mua bán, sáp nhập doanh nghiệp cần
phải có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp khác nhau, sau khi tập trung lại thì thị
phần của các doanh nghiệp cũng sẽ thay đổi. Khi hoạt động tập trung kinh tế xảy ra
sẽ tiềm ẩn việc hình thành nên các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, nếu
trường hợp này xảy ra sẽ dẫn đến việc gây hạn chế cạnh tranh và nhiều hơn nữa là
thủ tiêu cạnh tranh. Chính vì vậy việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đã ảnh
hưởng không nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế, đối với sự cạnh tranh công
bằng trên thị trường. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trên thị
trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh, Luật cạnh tranh 2004 đã ra đời. Để tìm
hiểu rõ hơn quy định của Luật cạnh tranh về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp người
viết chọn đề tài “Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh
và thực tiễn tại Việt Nam” làm tiểu luận môn học Pháp luật về cạnh tranh.
2. Mục đích nghiên cứu
Các hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp mặc dù đã được nhiều văn bản
pháp luật điều chỉnh nhưng vẫn được xem là khá mới mẻ với Việt Nam nhất là các
doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên sẽ rất nguy hiểm khi các
công ty có tiềm lực mạnh trên thế giới xâm nhập vào thị trường trong nước gây lũng
đoạn nền kinh tế. Qua đó mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ thế nào là
mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, quá trình hình thành phát triển và các hoạt động
mua bán, sáp nhập doanh nghiệp trên thực tiễn, vì sao cần phải kiểm soát các hành
vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp và những quy phạm điều chỉnh của Luật cạnh
tranh đối với hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.
Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam


Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam

5

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ
1.1. Sự hình thành và phát triển của hoạt động mua bán, sáp nhập doanh
nghiệp Việt Nam
Có thể chia quá trình hình thành của tập trung kinh tế Việt Nam thành hai giai
đoạn: giai đoạn trước và sau khi hình thành Luật cạnh tranh.
* Giai đoạn trước khi luật cạnh tranh được ban hành
Đặc trưng của giai đoạn này là pháp luật chưa nhìn nhận việc sáp nhập, hợp
nhất, chuyển nhượng vốn góp, mua bán cổ phần và liên doanh thành lập doanh
nghiệp từ góc độ cạnh tranh. Các quy định của pháp luật trong giai đoạn này chỉ
giải quyết vai trò quản lý Nhà nước về doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, và ghi
nhận cho quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp mà chưa đề cập đến nhiệm vụ
quản lý, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, an toàn cho nền kinh tế. Nói cách
khác pháp luật giai đoạn này chỉ quy định nhiều về tổ chức doanh nghiệp, thực hiện
quyền đầu tư, quyền sở hữu trong doanh nghiệp. Các vấn đề trên chưa được giải
quyết bởi pháp luật cạnh tranh. Có thể lý giải tình trạng trên từ nhiều nguyên nhân
khác nhau, song có lẽ từ nhiệm vụ cơ bản của pháp luật kinh tế trong giai đoạn này
là xây dựng các thiết chế cơ bản để hình thành thị trường, nhiều lĩnh vực pháp luật
của thị trường hiện đại chưa được tiếp nhận và xây dựng tại Việt Nam, trong đó có
pháp luật cạnh tranh mà cụ thể là chế định về tập trung kinh tế.
Nền kinh tế của Việt Nam ta trong thời điểm nói trên đang trong quá trình
chuyển đổi và là một nước có nền kinh tế đang phát triển, quy luật tất yếu và đòi hỏi
nội tại của nền kinh tế là quá trình tích tụ kinh tế như là nền tảng cho sự tăng
trưởng. Mặc khác thực tiển cho thấy việc gia tăng sự xuất hiện của các tập đoàn đa

cận cơ bản:
Một là, nhìn nhận như là một quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi
của cấu trúc thị trường, tập trung kinh tế trên thị trường được hiểu là quá trình mà
số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua
các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của
doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất
1
. Cách nhìn nhận này đã làm rõ
nguyên nhân và hậu quả của tập trung kinh tế đối với cấu trúc thị trường cạnh tranh.
Trên cơ sở đó các nhà hoạch định chính sách có thể phân tích các yếu tố kinh tế để
tìm kiếm bản chất pháp lý của tập trung kinh tế và đề ra những cơ chế điều chỉnh
cho phù hợp.
Hai là, với tư cách là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung kinh tế (còn gọi
là tập trung tư bản) được hiểu là tăng thêm tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại
2
1
Lê Viết Thái, chuyên về hành vi tập trung kinh tế, đề tài nghiên cứu về thể chế cạnh tranh trong điều kiện
phát triển thị trường Việt Nam, Viện nghiên cứu thương mại-Bộ thương mại, 2005.
2
Tư bản được hiểu là các giá trị kinh tế trên thị trường được sử dụng để tìm kiếm lại giá trị thặng dư như
vốn, công nghệ trình độ quản lý…
Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam

7

hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác

1.2.2. Bản chất của tập trung kinh tế
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiện tượng tập trung kinh tế bao gồm: tăng
trưởng nội sinh; hiện tượng rút khỏi thị trường của một số doanh nghiệp; hiện tượng
gia nhập thị trường của một số doanh nghiệp; hiện tượng sáp nhập của một số
doanh nghiệp (tăng trưởng ngoại sinh)…Cho dù được nhìn nhận từ nhiều góc độ 3
Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, Tr.870.
4
Giáo trình những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mac-Lênin, Nxb chính trị quốc gia 2010, tr 250.
Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam

8

khác nhau và diễn tả bằng những ngôn ngữ pháp lý khác nhau, song các nhà khoa
học đều thống nhất với nhau về bản chất của tập trung kinh tế bằng những nội dung
sau:
Thứ nhất, chủ thể của hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp là các doanh
nghiệp hoạt động trên thị trường. Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có
thể là các doanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trường liên
quan Hành vi sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh chỉ xảy ra khi có nhiều
doanh nghiệp cùng tham gia thực hiện. Có nghĩa là trước khi thực hiện các hành vi
tập trung kinh tế, các doanh nghiệp đã tồn tại và đang hoạt động trên thị trường. Nói
cách khác hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp không phải là hành vi đơn
phương của doanh nghiệp. Vì vậy hành vi đầu tư vốn của một cá nhân, của một
doanh ngiệp nào đó có thể tạo ra nhóm kinh doanh nhưng sẽ không là hiện tượng
tập trung kinh tế theo luật cạnh tranh.
Thứ hai, các hiện tượng tập trung kinh tế có thể thấy rằng để tập trung kinh tế

các tập đoàn kinh tế và đi vào hoạt động các tập đoàn này sẽ tăng cường đầu tư, mở
rộng quy mô, phạm vi hoạt động, cơ cấu lại kinh doanh đa ngành tập trung vào các
ngành nghề trọng điểm. Tích cực nghiên cứu, triển khai ứng dụng và chuyển giao
khoa học công nghệ mới vào ản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực quản lý, kỹ
thuật, tay nghề của đội ngủ công nhân xây dựng thành các tập đoàn kinh tế mạnh,
có tầm cỡ trong khu vực. Các tập đoàn kinh tế có vai trò tích cực đối với sự phát
triển kinh tế của đất nước, kéo theo các tiến bộ về văn hóa xã hội. Bên cạnh đó khi
các tập đoàn kinh tế lớn mạnh cũng có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế thị
trường khi các doanh nghiệp liên kết lại sẽ làm giảm cạnh tranh gây hạn chế cạnh
tranh trên cùng một lĩnh vực của ngành, khi mà các doanh nghiệp tăng cường liên
kết lại với nhau tập trung kinh tế cao đến một lúc nào đó sẽ hình thành nên các công
ty lớn, các tập đoàn kinh tế có tính độc quyền, thống lĩnh thị trường trong một
ngành, một lĩnh vực từ đây sẽ ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh khi các tập
đoàn kinh tế, các công ty lạm dụng vị trí độc quyền, vị trí thống lĩnh thị trường chèn
ép các đối thủ cạnh tranh khác, các doanh nghiệp nhỏ hơn.
1.2.2. Hình thức mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
Dựa vào vị trí của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong các cấp
độ kinh doanh của ngành kinh tế – kỹ thuật, tập trung kinh tế được bao gồm tập
trung theo chiều ngang, tập trung theo chiều dọc hoặc tập trung theo đường chéo
(tập trung hỗn hợp).
* Tập trung kinh tế theo chiều ngang: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc
liên doanh… của các doanh nghiệp trong một thị trường liên quan (sản phẩm và
không gian). Mục tiêu chính của hình thức này là: thực hiện hiệu quả theo quy mô,
thực hiện mục tiêu chiến lược thị trường (khống chế thị trường hoặc tạo rảo cản thị
trường)…
Tập trung kinh tế theo chiều ngang có thể tạo ra những tác động tích cực và
tiêu cực. Theo lý thuyết cạnh tranh thì sự gia tăng tập trung theo chiều ngang sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp hành động giữa các doanh nghiệp và từ đó
dẫn đến hạn chế cạnh tranh theo giá, giảm khả năng sáng tạo, gây nguy cơ thiệt đến
người tiêu dùng. Về nguyên tắc khi số lượng doanh nghiệp hoạt động trên thị

Ngày nay kiểm soát tập trung kinh tế đã được coi là một trong những nhiệm vụ
cơ bản của pháp luật cạnh tranh hiện đại. Tất cả các quốc gia đang phát triển về thị
trường đều đặt ra cơ chế phối hợp giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật về doanh
nghiệp để kiểm soát việc tập trung kinh tế. Theo đó, pháp luật về doanh nghiệp sẽ
thừa nhận quyền được tập trung kinh tế của doanh nhân, quy định về thủ tục pháp lý
để họ thực hiện các hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại và góp vốn để bảo đảm
trật tự pháp lý trong kinh doanh. Pháp luật cạnh tranh kiểm soát các hiện tượng tập
trung kinh tế có khả năng đe dọa đến trật tự cạnh tranh của thị trường bằng hai cơ
chế, đó là: (1) Cấm đoán các trường hợp tập trung kinh tế làm tổn hại đến tình trạng
cạnh tranh; (2) Kiểm soát các trường hợp có khả năng tổn hại đến cạnh tranh. Pháp
luật cạnh tranh của Việt Nam cũng vậy theo quy định tại mục 3 chương II Luật cạnh
Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam

11

tranh năm 2004, có thể thấy rằng, các nhà làm luật của Việt Nam đã chia các trường
hợp tập trung kinh tế thành 3 nhóm để kiểm soát khác nhau:
- Nhóm tập trung kinh tế bị cấm.
- Nhóm tập trung kinh tế cần phải kiểm soát.
- Nhóm tập trung kinh tế được tự do thực hiện.
Qua đó ta có thể định nghĩa về kiểm soát tập trung kinh tế như sau: là hoạt
động, sự quản lý của cơ quan nhà nước, theo quy định của luật cho phép hay cấm
các hành vi tập trung kinh tế nhằm kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế trên thị
trường theo khuôn khổ pháp luật, giúp cho thị trường cạnh tranh lành mạnh, công
bằng, các doanh nghiệp yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, đưa nền kinh tế đất
nước ngày càng phát triển.
1.3.2. Vai trò của kiểm soát hành vi tập trung kinh tế
Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến cấu
trúc thị trường và suy giảm tính cạnh tranh trên thị trường. Bởi lẽ, khi các doanh

học công nghệ - kỹ thuật, trang bị máy móc thiết bị hiện đại, giá cả hàng hóa giãm
xuống có lợi cho người tiêu dùng. Chính vì môi trường cạnh tranh lành mạnh mà
khi các doanh nghiệp tăng cường đầu tư sẽ yên tâm hơn. Bên cạnh đó khi ta kiểm
soát tốt các hành vi tập trung kinh tế nó sẽ mang lại các tác động tích cực đối với
nền kinh tế vì tập trung kinh tế giúp tạo khả năng hợp tác sâu sắc trong kinh doanh,
sẽ giúp cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tổng hợp và có thể thực hiện chiến
lược mở rộng kinh doanh, giảm thiểu rủi ro kinh doanh. Ngoài ra, tập trung kinh tế
có thể làm tăng hiệu quả kinh tế theo quy mô và phạm vi, làm giảm chi phí, nâng
cao chất lượng và thúc đẩy sản lượng. Dưới góc độ lợi ích của doanh nghiệp, tập
trung kinh tế giúp doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, nâng cao trình độ
quản lý, chiến lược chiêu thị để mở rộng hoạt động kinh doanh mà không phải tốn
quá nhiều chi phí để xây dựng thêm cơ sở hạ tầng. Trong một số trường hợp, thông
qua việc thực hiện tập trung kinh tế, doanh nghiệp có thể phát triển được hệ mạng
lưới phân phối, kỹ năng quản lý và động lực bán hàng một cách dễ dàng và hiệu quả
hơn.
Qua đó ta thấy vai trò của kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế là rất lớn, nó
có ý nghĩa đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước, nếu ta kiểm soát tốt nó sẽ tạo
môi trường cạnh tranh thuận lợi, các doanh nghiệp trong và ngoài nước yên tâm đầu
tư phát triển sản xuất. Ngược lại nếu các hành vi tập trung kinh tế không được kiểm
soát nó sẽ mang lại những tác động tiêu cực cho nền kinh tế thị trường cụ thể như
các hành vi lợi dụng vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền gây lũng đoạn nền kinh
tế ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng.
Như vậy, ngoài việc tạo điều kiện thuận lợi cho những trường hợp tập trung
kinh tế có tác động tích cực đến nền kinh tế thì Nhà nước cần có những biện pháp
hợp lý để kiểm soát những vụ tập trung kinh tế gây tổn hại cho chính sách cạnh
tranh và nền kinh tế. Biện pháp pháp lý, cụ thể là các chính sách và quy định pháp
luật, là một trong những biện pháp đầu tiên mà Nhà nước có thể sử dụng để kiểm
soát hoạt động tập trung kinh tế.
Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam

các doanh nghiệp bị hợp nhất”.
6

Ví dụ: Doanh nghiệp A + Doanh nghiệp B  Doanh nghiệp X, trong đó doanh
nghiệp A, doanh nghiệp B là các doanh nghiệp đã tham gia hợp nhất với nhau. Sau
khi tiến hành hợp nhất hai doanh nghiệp này sẽ chấm dứt hoạt động nghĩa là sẽ
không còn doanh nghiệp A hay doanh nghiệp B nữa chỉ còn tồn tại doanh nghiệp X,
doanh nghiệp X là doanh nghiệp mới được hình thành, sẽ nhận tất cả tài sản, quyền
và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp A, B…Tương tự như hành vi sáp nhập 6
Khoản 2 Điều 17 Luật cạnh tranh.
Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam

14

doanh nghiệp thì hành vi hợp nhất doanh nghiệp cũng được nêu lên trong Luật cạnh
tranh, nhưng chủ thể của hành vi này cũng chỉ là doanh nghiệp Luật cạnh tranh
chưa quy định rõ ràng đối với chủ thể khi tham gia hành vi sáp nhập doanh nghiệp
là loại doanh nghiệp nào và quy định cụ thể đó được nêu ở trong Luật doanh nghiệp
2005 vì đây là luật chuyên ngành điều chỉnh về các hành vi trên.
Qua phân tích ở trên ta thấy hình thức hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp có
nhiều điểm tương đồng với nhau như: các doanh nghiệp điều chuyển hết tài sản,
quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình khi tham gia vào hai hình thức này và chấm
dứt sự tồn tại của mình. Tuy nhiên giữa chúng vẫn tồn tại sự khác nhau cơ bản đó
là: với hành vi hợp nhất doanh nghiệp thì hai hoặc nhiều doanh nghiệp thỏa thuận
với nhau về việc chia tài sản, thị phần, thương hiệu,… để hình thành nên một doanh
nghiệp hoàn toàn mới với tên gọi mới và chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp

Mua lại doanh nghiệp gồm hai trường hợp: mua lại toàn bộ và mua lại một
phần doanh nghiệp. Trường hợp mua lại toàn bộ doanh nghiệp thì người mua trở
thành chủ sở hữu doanh nghiệp cũng như tài sản doanh nghiệp, được hưởng các
quyền và nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp đó; trường hợp mua lại
một phần doanh nghiệp thì không thay đổi chủ sở hữu nhưng được thực hiện dưới
hình thức mua tài sản, cổ phần của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối
hoạt động của doanh nghiệp bị mua đó.
2.1.1.4. Liên doanh giữa các doanh nghiệp
Tại Khoản 4 điều 17 Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định về hành vị liên
doanh giữa các doanh nghiệp như sau: “Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc
hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và
lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới”.
Ví dụ: Doanh nghiệp A + Doanh nghiệp B  Doanh nghiệp A, B, C trong đó
doanh nghiệp A, doanh nghiệp B là các doanh nghiệp đã tham gia hoạt động liên
doanh, doanh nghiệp C là doanh nghiệp mới được hình thành. Sau khi tiến hành liên
doanh thì hai doanh nghiệp này vẫn tồn tại độc lập với nhau, còn doanh nghiệp C là
doanh nghiệp mới thuộc sở hữu của A, B.
Liên doanh là dạng liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua việc cùng tham
gia thành lập một doanh nghiệp mới. Chủ thể tham gia hoạt động này là các doanh
nghiệp, nội dung của hoạt động này là các doanh nghiệp cùng nhau góp một phần
tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh
nghiệp mới, hệ quả sau khi tiến hành liên doanh các doanh nghiệp tham gia vẫn tồn
tại và tồn tại độc lập với nhau, riêng doanh nghiệp mới hình thành là doanh nghiệp
chung.
Hành vi liên doanh giữa các doanh nghiệp và hợp nhất doanh nghiệp cũng hằm
mục đích tạo ra chủ thể pháp lý mới trên thị trường có sức mạnh kinh tế lớn hơn,
song sự khác biệt cơ bản giữa hai hành vi được thể hiện ở chỗ: đối với hành vi hợp
nhất hợp nhất doanh nghiệp, sau khi chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi
ích hợp để hình thành doanh nghiệp mới thì sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp
nhất chấm đứt về mặt pháp lý. Còn đối với hành vi liên doanh, các doanh nghiệp chỉ

thấp hơn 30% trên thị trường liên quan. Lúc này việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại
hay liên doanh giữa các doanh nghiệp chỉ đơn giản là các biện pháp cơ cấu lại kinh
doanh hoặc đầu tư vốn bình thường nên chưa có tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến trật tự
cạnh tranh trên thị trường. Luật cạnh tranh đã sử dụng thị phần làm cơ sở để phân
loại nhóm tập trung kinh tế và làm tiêu chí để xác định khả năng gây tác hại của các
trường hợp tập trung kinh tế.
- Doanh nghiệp sau khi tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và
nhỏ thì theo quy định của pháp luật không tín đến thị phần kết hợp của các doanh
nghiệp tham gia tập trung kinh tế đạt được mức bao nhiêu trên thị trường liên quan
vì đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi tiến hành tập trung kinh tế sẽ không ảnh
hưởng lớn đến môi trường cạnh tranh. Quy định trên nhằm khuyến khích các doanh
nghiệp vừa và nhỏ nâng cao năng lực tài chính phát triển doanh ngiệp thông qua tập
trung kinh tế có hiệu quả.
Vậy thế nào là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tại Điều 3 nghị định số 56/2009/NĐ-
CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đã định nghĩa doanh nghiệp nhỏ
và vừa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh
doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy
Bảng 1 : Các nhóm tập trung kinh tế theo thị phần kết
hợp

Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam

17

mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong
bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng
nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Quy


100 tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
II. Công
nghiệp và
xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
III. Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến 50
người

mạnh nước ngoài, các tập đoàn kinh tế lớn, nhưng không vì vậy mà pháp luật mở
rộng cho các doanh nghiệp tự do tập trung kinh tế. Mức quy định sau khi tập trung
kinh tế có thị phần thấp hơn 30% thị trường liên quan cũng là mức quy định trung
bình vừa khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ cải thiện quy mô sản xuất, mở rộng
năng lực kinh doanh vừa cũng kiểm soát các doanh nghiệp lớn tiến hành tập trung
kinh tế hình thành nên các công ty độc quyền, các tập đoàn kinh tế hùng mạnh gây
hạn chế cạnh tranh, lũng đoạn nền kinh tế.
2.1.2.2. Nhóm hành vi cần kiểm soát
Tại điều 20 Luật cạnh tranh quy định: “Các doanh nghiệp tập trung kinh tế có
thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp
của các doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi
tiến hành tập trung kinh tế”. Trường hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp
tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp
doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ
và vừa theo quy định của pháp luật thì không phải thông báo.
Như vậy trong trường hợp nêu trên các doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện hành
vi tập trung kinh tế sau khi đã hoàn tất thủ tục thông báo và nhận được trả lời của cơ
quan quản lý cạnh tranh theo quy định của pháp luật.
Qua trên ta thấy pháp luật đã quy định rõ hành vi nào được thực hiện tập trung
kinh tế tự do hành vi nào phải thông báo và được sự cho phép của cơ quan quản lý
cạnh tranh, đó là cách quản lý của pháp luật nước ta, mức tập trung kinh tế có thị
phần chiếm từ 30% đến 50% đây là các doanh nghiệp mà nếu sau khi tiến hành tập
trung kinh tế nó đã có sự tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sự cạnh tranh gây hạn chế
cạnh tranh của các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường vì vậy pháp luật
đã quy định cần phải thông báo có sự cho phép của cơ quan quản lý cạnh tranh, sự
cho phép này đã được các cơ quản quản lý cạnh tranh phân tích đánh giá tình hình
và sự ảnh hưởng của doanh nghiệp sau khi tập trung kinh tế nếu các hành vi tập
trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan sẽ có
nguy cơ tiềm ẩn sự đe dọa đến thị trường cạnh tranh, vì vậy các hành vi tập trung
kinh tế nói trên cần phải được kiểm soát, sự kiểm soát được thể hiện như sau: phải

đa số thị phần trên thị trường liên quan và làm cho các doanh nghiệp còn lại chỉ là
số ít trên thị trường. Điều này cho thấy sự thay đổi cơ bản, đột ngột trong tương
quan cạnh tranh và cấu trúc cạnh tranh trên thị trường. Nhà nước quy định việc cấm
các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế khi thị phần kết hợp của các doanh
nghiệp này chiếm lớn hơn 50% trên thị trường liên quan là hợp lý. Đối với nền kinh
tế nước ta việc thị phần của một doanh nghiệp chiếm trên 50% thị trường liên quan
đã là một doanh nghiệp lớn có khả năng khống chế thị trường. Vì vậy cần quy định
cấm các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế khi thị phần kết hợp của các doanh
nghiệp này chiếm trên 50% trên thị trường liên quan nhằm mục đích ngăn chặn các
hành vi sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh.
2.1.2.4. Các trường hợp được miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế bị
cấm và thủ tục miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế
2.2.4.1. Các trường hợp miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế bị cấm
Điều 18 của Luật cạnh tranh quy định về trường hợp tập trung kinh tế bị cấm
nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên
50% thị trường liên quan. Về nguyên tắc các trường hợp này bị cấm tuyệt đối, song
pháp luật luôn cân nhắc đến tính hiệu quả của hành vi bằng cách dành ra những
trường hợp ngoại lệ để cho hưởng miễn trừ. Các trường hợp được miễn trừ được
quy định tại Điều 19 của Luật cạnh tranh như sau: 8
Ts. Lê Hoàng Oanh, Bình luận khoa học luật Cạnh tranh, NXB Chính trị quốc gia, 2006, tr 85.
Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam

20

Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể
hoặc lâm vào tình trạng phá sản. Theo đó, doanh nghiệp đang trong nguy cơ bị giải

Đối với hoạt động tập trung kinh tế của các tập doàn, doanh nghiệp nhà nước
thì tính đến năm 2012 đã có 12 tập đoàn kinh tế được thí điểm thành lập, trong đó
có 11 tập đoàn do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập. Các tập đoàn thành
Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam

21

lập chủ yếu ở các lĩnh vực có tính chiến lược, phát triển kinh tế cao như: Dầu khí,
điện lực, công nghiệp than và khoảng sản, dệt may, công nghiệp đóng tàu, hoạt
động sôi nổi là trong lĩnh vực ngân hàng: NHTM Cổ phần Nông thôn Tây Đô (TP.
Cần Thơ) sáp nhập vào NHTM Cổ phần Phương Đông (TP. Hồ Chí Minh), NHTM
Cổ phần Phương Nam sáp nhập với NHTM Cổ Phần Châu Phú (An Giang), NHTM
Cổ phần Đông Á mua lại NHTM Cổ phần Tứ Giác Long Xuyên, NHTM Cổ phần
Thương Tín sáp nhập với NHTM cổ phần Thạnh Thắng (TP. Cần Thơ), NHTM Cổ
phần Nông thôn Tân Hiệp (Kiên Giang) sáp nhập với NHTM Cổ phần Đông Á (TP.
Hồ Chí Minh)
9
… Bên cạnh đó các doanh nghiệp nhà nước cũng thực hiện sáp nhập
để hoạt động có hiệu quả hơn như sáp nhập EVN Telecom và Viettel, chuyển giao
vốn Jetstar Pacific sang Vietnam Airlines quản lý, sáp nhập 3 Tổng công ty dịch vụ
cảng hàng không tại ba miền quản lý.
10
Đây cũng là những trường hợp miễn trừ tập
trung kinh tế bị cấm (thị phần kết hợp trên 50%) được Thủ tướng Chính phủ quyết
định.
Theo báo cáo Tập trung kinh tế Việt Nam năm 2012 thì giá trị giao dịch
M&A
11
tại Việt Nam có xu hướng tăng mạnh trong những năm gần đây. Theo đó,


tế đưa ra tại Diễn đàn thường niên về M&A Việt Nam 2013, tổ chức ngày 8/8/2013
tại thành phố Hồ Chí Minh.

Biểu đồ:
12
Số lượng và giá trị tập trung kinh kế M&A từ năm 2003 – Quý I/2012
2.2.2. Những tồn tại và hướng giải quyết
* Những tồn tại về mặt pháp lý
Thứ nhất, Luật cạnh tranh chưa đề cập đến việc kiểm soát đối với tập trung
kinh tế theo chiều dọc, tập trung kinh tế chéo, đó là việc tập trung kinh tế giữa hai
doanh nghiệp không cùng hoạt động trên thị trường liên quan. Dạng tập trung kinh

chưa có quy định phối hợp thực hiện cụ thể, hợp lý. Thiết nghĩ cần có những quy
định sửa đổi, bổ sung cho hoàn chỉnh, phù hợp, thống nhất các quy định với nhau.
* Những tồn tại về thực tiễn áp dụng
Bên cạnh những thực trạng còn tồn tại trong quy định của hệ thống pháp luật
thì thực tiễn áp dụng vẫn còn những khó khăn nhất định trong hoạt động kiểm soát
hành vi tập trung kinh tế cần được hoàn thiện như sau:
Thứ nhất, thực tế cho thấy dù số lượng giao dịch tập trung kinh tế là khá lớn
và tăng mạnh trong các năm vừa qua, quy mô của nhiều giao dịch cung không nhỏ,
nhưng số lượng các giao dịch thông báo đến Cục quản lý cạnh tranh còn thấp, một
phần là do các doanh nghiệp đã thực hiện việc tập trung kinh tế trên các thị trường
có thị phần kết hợp không cao (dưới kiếm soát 30%), nhưng quy định về nghĩa vụ
về thông tin chính xác về thị phần của các bên tham gia tập trung kinh tế là khó
khăn cho các doanh nghiệp hiện nay. Bởi vì, doanh nghiệp chỉ có thể biết và chịu
trách nhiệm về doanh số của mình mà không có nghĩa vụ nắm doanh số của các
doanh nghiệp khác, yêu cầu doanh nghiệp tìm hiểu thông tin liên quan đến thị
trường và thị phần doanh nghiệp khác gây khó khăn cho các doanh nghiệp muốn
thực hiện thủ tục thông báo hoặc tham vấn ý kiến Cục quản lý cạnh tranh.
Thứ hai, hạn chế khi thực hiện đánh giá tập trung kinh tế dựa trên tiêu chí thị
phần. Thủ tục thông báo chỉ xác định lại về thị phần kết hợp của các doanh nghiệp
tham gia tập trung kinh tế mà chưa là quá trình đánh giá tác động của tập trung kinh
tế. Cho thấy việc kiểm soát tập trung kinh tế chưa thực hiện hiệu quả, bởi vì thị
trường luôn vân động không ngừng trong các hoạt động mua lại, sáp nhập doanh
Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam

24

nghiệp,…thủ tục thông báo được tiến hành trước khi tập trung kinh tế nên hậu quả
cạnh tranh có thể chưa xảy ra.
Thứ ba, khó khăn của các cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc thu thập các

nhất do một doanh nghiệp hoặc một tập đoàn quản lý chung, tập trung kinh tế đã tạo
ra khả năng đầu tư lớn hơn với sức mạnh tổng hợp để giải quyết nhiều vấn đề được
Mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt
Nam

25

đặt ra từ thị trường mà từng doanh nghiệp khó có thể thực hiện được. Để cải thiện
môi trường kinh doanh theo hướng trên, các nhà hoạch định chính sách cũng cần
nhìn nhận theo hướng khách quan và tích cực, nghĩa là hỗ trợ và tạo điều kiện thuận
lợi tối đa cho các doanh nghiệp, những chủ thể chính trên thị trường, có khả năng
tiếp cận, gia nhập thị trường không gặp trở ngại bởi những rào cản về mặt hành
chính, Theo đó, các thủ tục cần thiết phải được minh bạch, công khai, không tạo nên
sự “ khó hiểu” cho doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp triển khai kịp
thời những kế hoạnh, chương trình kinh doanh bắt nhịp được yêu cầu của thị trường
mà không bị cản trở bởi độ trễ của thủ tục.
- Thứ hai:
Cần thống nhất và làm rõ các khái niệm về những hành vi mua bán sáp nhập
doanh nghiệp, đặc biệt là quan niệm về hành vi mua lại doanh nghiệp giữa các lĩnh
vực pháp luật có liên quan như luật cạnh tranh, luật doanh nghiệp, luật đầu tư
Chẳng hạn quy định về sáp nhập và hợp nhất: Luật doanh nghiệp không quy định cụ
thể, rõ ràng những loại hình doanh nghiệp nào có thể tiến hành hợp nhất, sáp nhập
mà chỉ quy định chung chung là cùng loại, như vậy cùng loại hình kinh doanh, hay
cùng ngành nghề… Đối với luật cạnh tranh không sử dụng khái niệm cùng loại
nghĩa là tất cả các loại hình doanh nghiệp điều có thể tiến hành sáp nhập, hợp nhất
với nhau. Như vậy quy định về sáp nhập, hợp nhất trong luật doanh nghiệp và luật
cạnh tranh không đồng nhất với nhau, gây khó khăn cho cơ quan chức năng cũng
như các doanh nghiệp trong qua trình tiến hành hoạt động sáp nhập, hợp nhất không
biết áp dụng theo luật nào.
Trong pháp luật đầu tư chỉ có một quy định đề cập đến vấn đề kiểm soát tập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status