BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÂM MINH CƯỜNG
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận
văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả luận văn
Lâm Minh Cường Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận
tình của:
- TS. Đỗ Thị Tám, Giảng viên chính Khoa Quản lý đất đai - Học
viện nông nghiệp Việt Nam - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt
thời gian thực hiện đề tài;
- Các thầy, cô giáo khoa Quản lý đất đai, Học viện nông nghiệp Việt
Nam và các đồng nghiệp;
- UBND huyện Phú Xuyên, phòng Quản lý đô thị, phòng Kinh tế,
phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Phú Xuyên; các các xã trong huyện
Phú Xuyên.
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Chức năng của nông thôn mới 5
1.1.3 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới 8
1.1.4 Nội dung xây dựng nông thôn mới 9
1.1.5 Các nguyên tắc của Chương trình xây dựng nông thôn mới 9
1.1.6 Vị trí và phạm vi của xây dựng nông thôn mới 10
1.1.7 Vị trí, vai trò của quy hoạch xây dựng nông thôn mới 11
1.2 Cơ sở pháp lý về xây dựng nông thôn mới 12
1.3 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của một số nước trên
thế giới 15
1.3.1 Xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản 15
1.3.2 Xây dựng nông thôn mới ở Thái Lan 16
1.3.3 Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc 18
1.4 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại Việt nam 20
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
1.4.1 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên phạm vi toàn quốc 20
1.4.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hà Nội 22
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Nội dung nghiên cứu 24
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội huyện
Phú Xuyên. 24
2.1.2 Đánh giá tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại
huyện Phú Xuyên 24
2.1.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn
mới tại xã Đại Thắng và xã Thụy Phú 24
2.1.4 Đề xuất một số giải pháp để đẩy nhanh tiến độ thực hiện xây
dựng nông thôn mới 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Đề xuất một số giải pháp để hoàn thành các chỉ tiêu chưa đạt 76
3.4.2 Cần xem xét điều chỉnh một số tiêu chí trong Đồ án quy hoạch
các xã đã được phê duyệt theo Bộ tiêu chí nông thôn mới 79
3.4.3 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện quy hoạch xây
dựng nông thôn mới 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 Kết luận. 83
2 Kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1 Hiện trạng sử dụng đất khu vực nông thôn năm 2013 28
3.2 Dân số lao động huyện Phú Xuyên giai đoạn 2010 - 2013 31
3.3 Tiêu chí quy hoạch và phát triển theo quy hoạch huyện Phú
Xuyên năm 2010 38
3.4 Tiêu chí hạ tầng kinh tế xã hội huyện Phú Xuyên năm 2010 43
3.5 Tiêu chí kinh tế và tổ chức sản xuất huyện Phú Xuyên năm 2010 44
3.6 Tiêu chí văn hóa, xã hội, môi trường huyện Phú Xuyên năm 2010 47
3.7 Tiêu chí hệ thống chính trị huyện Phú Xuyên năm 2010 49
3.8 Bảng tổng hợp các tiêu chí đạt trước khi lập đề án quy hoạch
xây dựng nông thôn mới huyện Phú Xuyên, năm 2010 50
3.9 Kết quả xây dựng nông thôn mới (đến 6/2014) huyện Phú
Xuyên theo Bộ Tiêu chí Quốc gia 52
3.10 Tổng hợp tình hình thực hiện các quy hoạch xây dựng nông
thôn mới huyện Phú Xuyên đến 6/2014 57
DANH MỤC VIẾT TẮT
NTM Nông thôn mới
SXNN Sản xuất nông nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
DTTN Diện tích tự nhiên
HĐND Hội đồng nhân dân
CP Chính phủ
KT - XH Kinh tế - Xã hội
QĐ Quyết định
TW Trung ương
THCS Trung học cơ sở
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương khóa
X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 đã
nêu mục tiêu tổng quát về xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng nông
thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh
công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu
bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được
bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được
tăng cường” (Ban chấp hành trung ương, 2008).
thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới huyện Phú Xuyên, thành
phố Hà Nội” là rất cần thiết.
2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới
huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng
nông thôn mới;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy
hoạch xây dựng nông thôn mới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
- Phương án quy hoạch xây dựng NTM các xã. huyện Phú Xuyên
- Các văn bản pháp lý có liên quan đến xây dựng NTM
- Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng NTM tại 2 xã Thụy Phú
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
và Đại Thắng.
b) Phạm vi nghiên cứu
- Nông thôn mới huyện Phú Xuyên được điều tra từ trước khi có đề
án quy hoạch xây dựng nông thôn mới (năm 2010).
- Số liệu hiện trạng về đất đai, kinh tế xã hội lấy đến 31/12/2013.
- Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới được điều
tra đến tháng 6/2014.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; Dân trí được
nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; Chất lượng hệ
thống chính trị được nâng cao; An ninh tốt, dân chủ được phát huy (Ban
tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, 2013).
Việc xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh
tế của đất nước trong thời kỳ đổi mới. Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi
mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông thôn, nông dân, nước
ta đã đạt được thành tựu to lớn và khá toàn diện. Tuy nhiên, những thành
tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa
các vùng; nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có
xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp;việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm; năng suất, chất
lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn; đời sống vật chất và tinh thần
của người dân nông thôn còn thấp; chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn
với thành thị, giữa các vùng miền còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức
xúc…Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp
phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân ở nông thôn.
1.1.2. Chức năng của nông thôn mới
1.1.2.1. Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại
Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông
nghiệp của các quốc gia. Có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của
nông thôn. Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản
phẩm nông nghiệp chất lượng cao. Khác với nông thôn truyền thống, sản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới,
các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa
đất giao hoà, thuận theo tự nhiên với sự tôn trọng tự nhiên, mưu cầu phát
triển hài hoà cũng như chú trọng sự kế tục phát triển của các dân tộc (Cù
Ngọc Hưởng, 2006).
Để đảm bảo giữ gìn được văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông
thôn nên việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan
làng xã mang tính khu vực đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính
là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê
nông thôn. Điều này không những hạn chế tác dụng của chức năng nông
thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn
và cảnh quan văn hoá truyền thống (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
1.1.2.3. Chức năng sinh thái
Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ những tích luỹ trong
suốt một quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng với thiên nhiên, lợi
dụng, cải tạo thiên nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn đến phải hứng
chịu các ảnh hưởng xấu và cuối cùng là tôn trọng tự nhiên. Trong nông
thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hoà với nhau, chức
năng người tôn trọng tự nhiện, bảo vệ tự nhiên và hình thành nên thói quen
làm việc theo quy luật tự nhiên. Thành thị là hệ thống sinh thái nhân tạo
phản tự nhiên ở mức độ cao nhất. Quá trình mưu cầu cuộc sống đầy đủ về
vật chất đã khiến người thành thị càng ngày càng xa rời tự nhiên. Nền văn
minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con người
với thiên nhiên, dẫn đến phá vỡ môi trường một cách nghiêm trọng (Cù
Ngọc Hưởng, 2006).
Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng
xa rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước và không
khí. Nếu so sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông
nghiệp một mặt có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
trong sản xuất; sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao; xây dựng
nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và hiện đại, nhất
là đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, khu dân cư…; xây
dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi
trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; an ninh trật tự được giữ
vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
trong hệ thống chính trị ở nông thôn, củng cố vững chắc liên minh công
nhân – nông dân – trí thức.
1.1.4. Nội dung xây dựng nông thôn mới
Theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng
Chính phủ thì xây dựng nông thôn mới gồm 11 nội dung về: Quy hoạch
xây dựng nông thôn mới; Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; Chuyển dịch
cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; Giảm nghèo và an sinh xã
hội; Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở
nông thôn; Phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn; Phát triển y tế, chăm
sóc sức khỏe cư dân nông thôn; Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và
truyền thông nông thôn; Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;
Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội
trên địa bàn; Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn (Chính phủ, 2010).
1.1.5. Các nguyên tắc của Chương trình xây dựng nông thôn mới
Nguyên tắc 1: Các nội dung, hoạt động của Chương trình phải hướng
tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn
mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ
tướng Chính phủ.
Nguyên tắc 2: Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa
phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính
sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện; các hoạt động
cụ thể do chính cộng đồng người dân ở nông thôn, xã bàn bạc dân chủ để
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
Xây dựng nông thôn mới tập trung vào tổ chức thực hiện các nội
dung phát triển nông thôn tại cấp cơ sở. Việc quản lý và thực hiện trên cơ
sở cấp quản lý chính quyền tiếp xúc trực tiếp với cộng đồng dân cư. Nó có
giới hạn về phạm vi địa lý với vùng diện tích tương đối nhỏ, tương ứng với
phạm vi sinh sống của mỗi cộng đồng dân cư nông thôn. Xây dựng nông
thôn mới là một quá trình liên tục, lâu dài. Các nội dung sẽ bao trùm tất cả
các hoạt động phát triển nông thôn tại cấp cơ sở. Có nhiều bên với vai trò
khác nhau sẽ tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới, đó là người
dân, Nhà nước, các tổ chức và cá nhân khác (Nguyễn Quang Dũng, 2010).
1.1.7. Vị trí, vai trò của quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, quy hoạch và thực hiện
quy hoạch có vai trò quan trọng, nhằm bảo đảm cho việc sử dụng đất và
xây dựng hạ tầng thiết yếu, các khu dân cư khu vực nông thôn vừa theo
hướng văn minh, hiện đại, vừa giữ được bản sắc văn hóa làng, xã của địa
phương.
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới sẽ góp phần hạn chế và giảm
thiểu các quy hoạch chắp vá, tùy tiện, giữ gìn và phát huy các không gian
kiến trúc truyền thống vốn có của nông thôn Việt Nam, đồng thời đáp ứng
yêu cầu của Chính phủ về nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết của Đảng về “tam nông”,
phấn đấu đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới thì vấn đề
quy hoạch nông thôn đang rất cần được quan tâm.
Trong các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, công tác quy hoạch
được đặt lên hàng đầu, phải đi trước một bước.
Công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới không chỉ liên quan
đến nhiều tiêu chí khác, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội cả vùng - huyện.
về Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông
thôn;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
- Quyết định số 2933/BGTVT-KHĐT ngày 11/5/2009 của Bộ Giao
thông vận tải hướng dẫn tiêu chí nông thôn mới trong lĩnh vực giao thông
nông thôn;
- Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông
nghiệp và PTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới;
- Thông tư liên tịch 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT
ngày 28/10/2011 của Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Thông tư liên tịch số 26/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày
13/04/2011 hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/TTg
ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu
quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;
- Thông tư số 17/TT-BXD ngày 30/9/2010 của Bộ xây dựng hướng
dẫn xác định và quản lý chi phí quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị;
- Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/02/2010 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn quy hoạch phát triển sản
xuất nông nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Thông tư liên tịch số 22/2007/TTLT-BVHTT-UBTDTT ngày
4/7/2007 của Bộ Văn hóa thông tin và Ủy ban Thể dục Thể thao về việc
hướng dẫn tổ chức và hoạt động của trung tâm văn hóa thể thao xã phường
thị trấn;
- Nghị quyết số 03/2010/NQ-HĐND ngày 21/04/2010 của UBND
thành phố Hà Nội về việc xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai
đoạn 2010- 2020, định hướng 2030;
- Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011 của Thủ tướng Chính
mới thời kỳ công ngiệp hóa hiện đại hóa’’ trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Căn cứ Chủ trương của huyện ủy, HĐND, UBND huyện Phú
Xuyên, xã Đại Thắng, xã Thụy Phú về việc xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010 -2020;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
1.3. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của một số nước trên thế giới
Bất luận tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa được thúc đẩy thế
nào, các nước có đa phần dân số làm nghề nông cũng bắt buộc phải chấp
nhận một thực tế vài chục năm, thậm chí hàng trăm năm nữa, số dân tiếp
tục dựa vào nông nghiệp để mưu sinh vẫn là số lớn. Bởi vậy, xây dựng
nông thôn mới không phải là một quy hoạch ngắn hạn, mà là một quốc sách
lâu dài. Mỗi nước trên thế giới đều có giải pháp xây dựng và phát triển
nông thôn theo cách riêng của mình tùy thuộc vào điều kiện về tự nhiên,
kinh tế, xã hội và chính trị khác nhau. Dưới đây là một số chương trình xây
dựng nông thôn mới ở một số quốc gia.
1.3.1. Xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản
Đến giữa những năm 50 của thế kỷ XX, sự tăng tốc của công nghiệp
hóa ở Nhật Bản đã thu hút một lượng lớn sức lao động của nông nghiệp,
lực lượng lao động ở nông thôn trở nên thiếu hụt. Nhưng lúc này, Nhật Bản
đã kịp chuẩn bị điều kiện “tư bản thay thế lao động”. Công nghiệp hóa
cung cấp cho nông nghiệp một lượng lớn máy móc công cụ, bắt đầu thời kỳ
cơ khí hóa nông nghiệp quy mô lớn. Máy cày động lực và máy kéo dùng
trong nông nghiệp ở Nhật Bản đã tăng từ 90 ngàn chiếc (năm 1955) lên gần
400 ngàn chiếc (đầu những năm 1970), cơ bản hoàn thành hiện đại hóa
nông nghiệp. Nhưng cũng vào thời kỳ này, chính sự bảo hộ nông nghiệp
của Nhật Bản gặp phải sự phản đối của các tập đoàn lợi ích thương nghiệp,
công nghiệp và người tiêu dùng. Về sau, khi công nghiệp phát triển nhanh
chóng, sự tẩy chay đối với nông nghiệp ở trong nước mới mất đi. Đoàn thể