Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LƢƠNG THỊ BẨY
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI NGÀNH Y TẾ
TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRẦN QUANG HUY
THÁI NGUYÊN, 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học
độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực có
nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả Lƣơng Thị Bẩy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Đóng góp mới của luận văn 3
5. Bố cục của luận văn 3
Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ
NƢỚC ĐỐI VỚI NGÀNH Y TẾ 4
1.1. Tổng quan về quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) 4
1.1.1. Khái niệm đặc điểm của quản lý ngân sách Nhà nước 4
1.1.2. Quản lý ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường 7
1.2. Quản lý ngân sách nhà nước đối với ngành y tế 10
1.2.1. Khái quát về thu ngân sách nhà nước đối với ngành y tế 10
1.2.2. Khái quát về chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế 14
1.3. Một số kinh nghiệm thực tế trong việc quản lý tài chính đối với
ngành y tế 35
1.3.1. Kinh nghiệm của một số tỉnh trong việc quản lý ngân sách đối với
ngành y tế 35
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý ngân sách nhà nước
đối với ngành y tế Tỉnh Thái Nguyên 39
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 39
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iv
2.2. Phương pháp nghiên cứu 39
v
4.1.4. Xác định nhu cầu chi ngân sách nhà nước cho Y tế của tỉnh
Thái Nguyên 94
4.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý ngân sách nhà nước cho Y
tế của tỉnh Thái Nguyên 94
4.2.1. Đổi mới phương thức lập và giao dự toán chi ngân sách cho Y tế 94
4.2.2. Tăng cường kiểm tra, thanh tra tình hình sử dụng kinh phí từ ngân
sách nhà nước cho lĩnh vực y tế tại Thái Nguyên 96
4.2.3. Quản lý chi NSNN cho Y tế phải được tăng cường trong cả ba
khâu lập, chấp hành và quyết toán NSNN 97
4.2.4. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác kế toán tài
chính ở các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở 98
4.2.5. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên 100
4.2.6. Hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
của các đơn vị sự nghiệp y tế 101
4.3. Một số kiến nghị 103
4.3.1. Kiến nghị với UBND tỉnh và Nhà nước 103
4.3.2. Kiến nghị với các đơn vị cấp dưới 105
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT : Bảo hiểm y tế
BHXH : Bảo hiểm xã hội
Bảng 3.5: Tình hình thu viện phí qua 3 năm 2010- 2012 69
Bảng 3.6: Chi ngân sách cho sự nghiệp y tế Tỉnh Thái Nguyên 72
Bảng 3.7: Cơ cấu chi ngân sách tỉnh cho Y tế qua 3 năm 2010- 2012 74
Bảng 3.8: Chi NSTP cho nhóm chi con người qua 3 năm 2010 - 2012 76
Bảng 3.9: Tình hình chi cho nghiệp vụ chuyên môn sự nghiệp y tế qua 3
năm 2010-2012 80
Bảng 3.10: Tình hình chi cho mua sắm sữa chữa qua 3 năm 2010- 2012 83
Bảng 3.11: Tình hình chi ngân sách cho quản lý hành chính 85 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại đơn vị 49
Sơ đồ 3.1. quy trình phân bổ ngân sách nhà nước tỉnh Thái Nguyên 64
Sơ đồ 3.2. Quy trình lập quyết toán thu chi NSNN của tỉnh Thái Nguyên 65 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, ngân sách nhà nước (NSNN) trở thành công cụ điều chỉnh
nền kinh tế vĩ mô cực kỳ quan trọng của bất kỳ Nhà nước nào trên thế giới,
giữa vai trò quan trọng, chủ yếu trong huy động và phân phối các nguồn lực
của nền kinh tế nhằm đảm bảo hoạt động của nhà nước, đồng thời phân phân
phối nguồn lực hợp lý để thúc đầy kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền
vững. Bên cạnh đó còn giải quyết những vấn đề xã hội, đảm bảo thực hiện
từng bước đổi mới, hoàn thiện. Đầu tư cho sức khỏe là đầu tư cho phát triển,
góp phần xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng để đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đồng thời góp phần nâng cao an
sinh xã hội. Tuy nhiên vẫn còn một vài hạn chế và trong giai đoạn tới cần
phải khắc phục và hoàn thiện hơn nữa chủ yếu là về vấn đề chi ngân sách Nhà
nước làm sao tiết kiệm, tránh lãng phí các nguồn lực nhằm phát triển bền
vững nền kinh tế.
Từ nhận thức như vậy, với những kiến thức đã được các thầy, cô của
trường Đại học Kinh tế và Quản Trị kinh doanh Thái Nguyên trang bị, cùng
thực tiễn công tác và mong muốn góp phần nhỏ công sức để tham gia công
tác quản lý NSNN của tỉnh Thái nguyên nói chung và của ngành y tế nói riêng
được tốt hơn nên tôi chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách
nhà nƣớc đối với ngành y tế của tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Làm rõ những lý luận cơ bản nhằm hoàn thiện công
tác quản lý ngân sách của ngành y tế Tỉnh Thái Nguyên (Chủ yếu là công tác
quản lý chi ngân sách) từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công
tác quản lý ngân sách nhà nước của ngành, góp phần phát triển kinh tế xã hội
của tỉnh Thái Nguyên
* Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận và thực tiền về quản lý ngân
sách nhà nước đối với ngành y tế.
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý ngân sách nhà nước của
ngành y tế Tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3
- Đề xuất được những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác
quản lý ngân sách nhà nước của ngành y tế Tỉnh Thái Nguyên
4
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI NGÀNH Y TẾ
1.1. Tổng quan về quản lý ngân sách nhà nƣớc (NSNN)
1.1.1. Khái niệm đặc điểm của quản lý ngân sách Nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm về quản lý NSNN
Ngân sách Nhà nước (NSNN) là một bộ phận quan trọng của hệ thống tài
chính, là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của một quốc gia và là cơ sở vật chất cho
Nhà nước tồn tại, hoạt động cũng như thực hiện các chức năng của mình.
Theo luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam thì: “NSNN là toàn bộ các
khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết
định và thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm
vụ của Nhà nước”. Trong phạm vi bài luận văn này e chủ yếu nhấn mạnh về
hoàn thiện công tác chi ngân sách nhà nước ngành y tế tỉnh Thái Nguyên
Quản lý NSNN là quản lý dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trong
một khoảng thời gian nhất định thường là một năm. Như vậy, quản lý NSNN
là một kế hoạch tài chính cơ bản của Quốc gia, trong đó bao gồm kế hoạch
thu, kế hoạch chi và được lập theo phương pháp cân đối.
Khái niệm thu NSNN là việc Nhà Nước dùng quyền lực của mình để
tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thoả
mãn các nhu cầu của Nhà Nước.
Khái niệm chi NSNN: Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ
NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những
nguyên tắc nhất định.
Như vậy có thể hiểu chi NSNN là các khoản chi tiêu của các cơ quan
Nhà nước, các đơn vị sử dụng Ngân sách để duy trì sự hoạt động của bộ máy
Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6
hội, Nhà nước đã ban hành hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân
và thể nhân phải nộp một phần thu nhập của mình cho Nhà nước để tạo quỹ
NSNN như pháp luật về thuế; đồng thời có các chế độ chi tiêu nhằm sử dụng
NSNN tiết kiệm, hiệu quả cho những mục tiêu nhất định. Các hoạt động thu
chi NSNN cũng luôn chịu sự kiểm tra của các cơ quan Nhà nước.
NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước, chứa đựng lợi ích chung
của toàn xã hội. Ẩn sau các hoạt động thu, chi NSNN là việc xử lý các mối
quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối
các nguồn lực tài chính quốc gia. Các doanh nghiệp nộp thuế cho Nhà nước
góp phần hình thành nguồn thu cho NSNN đồng thời doanh nghiệp được Nhà
nước trợ cấp, đầu tư, tài trợ (nếu có), được hưởng các lợi ích gián tiếp khác
(cơ sở hạ tầng, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực…) do Nhà nước chủ trì mang
lại. Các hộ gia đình, dân cư xã hội và các đoàn thể, tổ chức phi lợi nhuận có
nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước và được Nhà nước tài trợ hoặc cấp kinh phí
(trợ cấp gia đình, trợ cấp thất nghiệp, kinh phí hoạt động…), được Nhà nước
đảm bảo về quốc phòng, an ninh, cơ sở hạ tầng, bảo đảm xã hội, giáo dục,
chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và phúc lợi công cộng khác…
Quỹ NSNN luôn được phân chia thành các quỹ tiền tệ nhỏ hơn trước khi
đưa vào sử dụng, chủ thể sử dụng các quỹ này là những đơn vị sử dụng NSNN
được quyền sử dụng Ngân sách theo chức năng, nhiệm vụ và các quy định về
Ngân sách do Nhà nước ban hành. Việc phân phối NSNN thành các quỹ nhỏ với
mục đích khác nhau chính là quá trình sử dụng NSNN nhằm thực hiện chức
năng của Nhà nước, không trực tiếp chi dùng từ quỹ tiền tệ tập trung.
Hoạt động thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn
trả trực tiếp là chủ yếu. Tính không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở chỗ
không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể
Ngân sách nhà nước là khái niệm quen thuộc theo nghĩa rộng mà bất kỳ
người dân nào cũng biết được, song lại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về
ngân sách nhà nước:
Theo quan điểm của nga: NSNN là bảng thống kê các khoản thu và chi
bằng tiền của nhà nước trong một giai đoạn nhất định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
8
Một cách hiểu tương tự, người pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế
toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của nhà nước trong một năm.
Có thể thấy rằng các quan điểm trên đều cho thấy biểu hiện bên ngoài
của NSNN và mối quan hệ mật thiết giữa nhà nước và NSNN.
Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đạo, đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực nhà nước. tại
việt nam, định nghĩa về NSNN được nêu rõ trong luật NSNN (20/3/1996):
NSNN là toàn bộ các khoản thu và chi của nhà nước trong dự toán đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một
năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. (điều1-
luật NSNN).
Trong thực tiễn, hoạt động quản lý NSNN là hoạt động thu (tạo lập) và
chi tiêu (sử dụng) quỹ tiền tệ của nhà nước, làm cho nguồn tài chính vận động
giữa một bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sản
phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị và một bên là nhà nước. đó chính là bản
chất kinh tế của NSNN. đứng sau các hoạt động thu, chi là mối quan hệ kinh
tế giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế, xã hội. nói cách khác, NSNN phản
ánh mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể trong phân phối tổng
sản phẩm xã hội, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà
nước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành
thu nhập của nhà nước và nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể
Một vai trò được coi là không kém phần quan trọng của quản lý NSNN
là giải quyết các vấn đề xã hội: bất công, ô nhiễm môi trường… chẳng hạn
trước vấn đề công bằng xã hội. Chống lại sự bất công là cần thiết cho một xã
hội văn minh và ổn định, chính phủ thường sử dụng các biện pháp tác động
tới thu nhập để thiết lập laị sự công bằng xã hội, điều chỉnh thu nhập của các
nhóm dân cư khác nhau bằng cách trợ cấp thu nhập cho những người có thu
nhập thấp hoặc hoàn toàn không có thu nhập. một cách khác, chính phủ có thể
sử dụng biện pháp tác động gián tiếp đến thu nhập bằng cách tạo khả năng tạo
thu nhập cao hơn dựa vào năng lực của bản thân. Theo đánh giá thì đây là
biện pháp tích cực nhất, đồng thời làm tăng thu nhập quốc dân; Nói cách
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
khác, nó làm cho một số người dân giàu lên mà không ai nghèo đi; hoặc qua
chính sách thuế thu nhập, sử dụng mức thuế suất cao đối với người có thu
nhập cao và ngược lại.
Như vậy, vai trò của quản lý NSNN là rất lớn. vấn đề đặt ra là việc tổ
chức quy mô, cơ cấu và quản lý NSNN như thế nào để phát huy được vai trò
của nó.
1.2. Quản lý ngân sách nhà nƣớc đối với ngành y tế
1.2.1. Khái quát về thu ngân sách nhà nước đối với ngành y tế
1. Thu từ nguồn ngân sách chi thường xuyên:
Đây là nguồn lấy từ NSNN hàng năm cung cấp chủ yếu trong hoạt
động của khu vực y tế Nhà nước. NSNN là nguồn kinh phí ổn định, là nguồn
có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động chăm sóc sức khỏe và bảo vệ
sức khoẻ nhân dân mà nguồn khác không thể thay thế được. Nguồn NSNN
đầu tư cho hoạt động y tế được phân chia ra làm 3 mảng do ba phòng tài
chính của Sở Tài chính quản lý: Nguồn NSNN cấp cho hoạt động chi thường
xuyên của sự nghiệp y tế do phòng Hành chính sự nghiệp cấp phát và quản lý;
BHYT của Tỉnh, 2% nộp BHYT Việt Nam.
BHYT Việt Nam có trách nhiệm thanh toán đối với cơ sở khám chữa
bệnh về trợ cấp BHYT cho người có thẻ BHYT do mình phát hành như sau:
Người có thẻ BHYT điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh thuộc tỉnh đề
nghị BHYT Việt Nam làm thủ tục chi hộ. BHYT Việt Nam sẽ thanh toán một
phần viện phí cho người được BHYT với cơ sở khám chữa bệnh thông qua
BHYT tỉnh giám định và thực hiện phương thức thanh toán đa tuyến.
Bên cạnh những điểm tích cực thì nguồn vốn từ BHYT cho hoạt động y
tế vẫn còn những mặt hạn chế sau: Nguồn vốn BHYT chỉ cung cấp hoạt động
khám chữa bệnh cho những người có thẻ BHYT, chưa cung cấp lực lượng vật
chất cho các hoạt động khác của ngành y tế. Chưa huy động được đông đảo
các tầng lớp dân cư tham gia BH, đặc biệt là tầng lớp người nghèo vẫn chưa
được hưởng nhiều dịch vụ y tế từ nguồn BHYT cung cấp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
12
4. Nguồn viện phí:
Nguồn viện phí là nguồn tài chính do các hộ gia đình cung cấp khi họ có
người thân nằm viện. Việc thu viện phí do các bệnh viện thực hiện, viện phí là
nguồn thu của NSNN nhưng không nộp vào ngân sách nhà nước mà thông qua
việc ghi thu, ghi chi NSNN. Với cơ chế này sẽ tiện lợi cho các bệnh viện nhưng
sẽ hạn chế khả năng kiểm tra, giám sát và quản lý của cơ quan tài chính.
Việc thu viện phí được áp dụng như sau: Đối với người bệnh ngoại trú,
biểu giá thu một phần viện phí được tính theo lần khám bệnh và các dịch vụ
mà người bệnh trực tiếp sử dụng. Đối với người bệnh nội trú, biểu giá thu một
phần viện phí được tính theo ngày, giường nội trú, của từng chuyên khoa theo
phân hạng bệnh viện và các khoản chi phí thực tế sử dụng trực tiếp cho người
bệnh gồm tiền thuốc, máu, dịch truyền, xét nghiệm, phim X- Quang.
Tổng nguồn thu viện phí được sử dụng như sau:
Nguồn tài trợ từ nước ngoài giúp cho việc thực hiện các chương trình
dự án chăm sóc sức khoẻ của nhân dân được tiến hành thuận lợi. Tiền viện trợ
giúp cho công tác đào tạo cán bộ ngành y tế, giúp cho ngành y tế có điều kiện
thuận lợi để tiếp xúc với những cách thức quản lý hiện đại, khả năng tiếp nhận
các máy móc, quy trình công nghệ mới cho hoạt động của ngành y tế, nâng
cao chất lượng khám chữa bệnh trong các bệnh viện, tăng cường sức khoẻ cho
nhân dân.
Tuy nhiên, nguồn viện trợ cũng có những hạn chế sau:
Nó là nguồn kinh phí không ổn định vì nó phải phụ thuộc vào thái độ
chính trị của nhà tài trợ. Việc sử dụng nguồn lực này cho hoạt động y tế phụ
thuộc vào ý muốn của các nhà tài trợ. Do đó, không tạo được tính chủ động
đối với các hoạt động chăm sóc sức khoẻ của nhân dân và cũng sẽ phải chịu
những ràng buộc nhất định khi nhận nguồn tài trợ, viện trợ.
Việc giải ngân cho các dự án do nước ngoài tài trợ trong đó có cả viện
trợ không hoàn lại còn chậm, các chủ dự án cũng như các địa phương tiếp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
14
nhận nguồn này chưa nắm rõ được về việc quản lý và hạch toán nguồn viện
trợ này nên tiến độ triển khai còn chậm.
Các nguồn viện trợ thường sử dụng cho một dự án nhất định phù hợp
với tôn chỉ mục đích hoạt động của tổ chức quốc tế chứ không đáp ứng được
mọi nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân.
6. Nguồn thu khác:
Là khoản thu từ các nguồn khác như: Nguồn thu cho thuê dịch vụ,
nguồn thu về xã hội hóa, dịch vụ khám bệnh theo yêu cầu
1.2.2. Khái quát về chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế
1.2.2.1. Nội dung chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế
Khái niệm: Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế được hiểu là
Theo tuyến chi:
Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế gồm: Chi Y tế cho tuyến
Trung ương, tuyến Tỉnh, tuyến Huyện và tuyến Xã.
Tác dụng của việc phân loại này là có thể xác định được mức độ chi
Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế ở mỗi cấp để có sự điều chỉnh hợp
lý, đảm bảo tính công bằng trong việc phân bổ kinh phí hoạt động Y tế giữa
các tuyến, phù hợp với nhu cầu phát triển của ngành Y tế nói riêng và sự phát
triển của kinh tế - xã hội nói chung của từng vùng.
Trong công tác quản lý các khoản chi tiêu thường xuyên của Ngân sách
Nhà nước chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế được phân chia theo 4
nhóm chính sau:
Nhóm 1: Chi Bộ máy
Đứng trên góc độ tài chính, đây là khoản chi tiêu thường xuyên như:
Tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp và các
khoản khác. Trong đó:
Tiền lương bao gồm: Lương ngạch bậc, lương tập sự, lương hợp đồng.
Tiền phụ cấp gồm: Phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm
thêm, phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại nguy hiểm và phụ cấp đặc biệt.
Tiền thưởng gồm: Thưởng thường xuyên, thưởng đột xuất và thưởng khác.