A. MỞ ĐẦU
Vấn đề con người là chủ đề trọng tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến
hiện đại. Từ xa xưa từ khi triết học chưa được hình thành thì vấn đề con
người đã được nhiều nhà tư tưởng bàn đến. Tuy nhiên chỉ đến khi triết
học Mác-Lê Nin xuất hiện< vào những năm 40 của thế kỉ XIX > thì vấn
đề này mới được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, triệt để khoa
học nhất.
Trong hệ tư tưởng Đức, Các Mác và Angghen đã khẳng định:”
tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của
những cá nhân con người sống”. Chính vì vậy mà mục tiêu cao cả nhất
mà triết học Mác- Lênin hướng tới đó chính là giải phóng con người,
hướng tới mục đích vì con người - chủ thể của lịch sử xã hội.
Hiện nay nước ta đang trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội.
Con người là một trong những động lực quan trọng nhất trong quá trình
xây dựng Chủ nghĩa xã hội, muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội thì trước
hết phải có con người của Chủ nghĩa xã hội. Bởi vậy chúng ta phải có
định hướng nghiên cứu đúng đắn về con người.
Sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước ta đang
được tiến hành trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa cùng với sự phát
triển của kinh tế tri thức. Cơ hội phát triển thực sự lớn lao nhưng thử
thách cũng không kém phần khắc nghiệt. Các nhà nghiên cứu đã khẳng
định rằng nâng cao chất lượng nhân lực, phát triển nguồn lực con người
là con đường ngắn nhất để tạo ra sức mạnh cạnh tranh trong môi trường
kinh doanh quốc tế đặc biệt là kinh tế tri thức. Do đó nếu không nghiên
1
cứu một cách có hệ thống và đúng đắn về vấn đề con người thì chúng ta
sẽ không thể có được những chính sách đúng đắn để phát triển con người.
Để hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh cần xây dựng được con người mới “ Phát triển cao về
trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo
1.2 Quan điểm về con người trong triết học phương Tây trước Mác
Các trường phái triết học tôn giáo phương Tây đặc biệt là Kitôg
các nhận thức con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí: con
người được quan niệm là kẻ có thể xác. Linh hồn là giá trị cao nhất trong
con người.
Trong triết học Hy Lạp cổ đại con người được xem là điểm khởi đầu của
tư duy triết học. Theo Arixtôt con người là “một động vật chính trị”, chỉ
có linh hồn tư duy trí nhớ, ý chí năng khiếu nghệ thuật là làm cho con
người nổi bật lên. Triết học Hy Lạp cổ đại bướoc đầu đã có sự phân biệt
con người với tự nhiên nhưng chỉ là biểu hiện bên ngoài về tồn tại con
người.
Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm của thượng
đế sang tạo ra. Triết học thời kì phục hưng cận đại đặc biệt đề cao vai trò
của trí tuệ, lí tính của con người xem con người là một thực thể có trí tuệ.
Tuy nhiên con người chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thể mà xem nhẹ về
mặt xã hội.
Trong triết học cổ điển Đức, Cantơ và Heghen đã phát triển quan
niệm về con người theo khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm. Heghen
với chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng con người là hiện thân của “ý
niệm tuyệt đối”. Heghen là người đặt vấn đề xem xét cơ chế hoạt động
của đời sống tinh thần. Heghen phát hiện ra quy luật về sự phát triển của
đời sống tinh thần cá nhân. Quy luật đó là: trong sự phát triển của đời
sống tinh thần cá nhân cần thiết và tất yếu phải lặp lại trong hình thái rút
ngắn và cô đọng những trình độ cơ bản mà đời sống tinh thần xã hôị phải
trải qua. Heghen là người khẳng định vai trò chủ thể của con người đối
với lịch sử, đồng thời là kết quả của sự phát triển lịch sử.
4
Phoiơbắc- nhà triết học duy vật phê phán tính chất siêu tự nhiên,
phi vật chất, phi thể xác về bản chất con người trong triết học Hêghen,
đồng thời khẳng định con người do sự vận động của thế giới vật chất tạo
xã hội xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người. Nhưng nó lại đóng
vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành con người. Xã hội
chính là đặc trưng biểu hiện con người là con người. Công cụ lao động,
ngôn ngữ, ý thức… đều là sản phẩm xã hội mang lại. Tóm lại trong con
người có hai mặt không thể tách rời: mặt tự nhiên và mặt xã hội.
Triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện cụ
thể trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là vấn đề lao
động sản xuất ra của cải vật chất. Chính hoạt động sản xuất< lao động>
đã tạo nên sự khác biệt giữa người và động vật, là cơ sở để hình thành
nên mặt xã hội trong con người. Chính trong qúa trình lao động mà con
người đã sản xuất ra đời sống vật chất của chính mình. Thông qua hoạt
động sản xuất vật chất con người đã làm thay đổi cải biến toàn bộ thế
giới tự nhiên” con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì
tái xản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên”. Cũng chính trong quá trình lao
động mà con người mới được hoạt động có ý thức, có mục đích, mới hình
thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy
lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người,
đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Quá trình hình thành và phát triển của con người luôn luôn bị
quyết định bởi ba hệ thống qui luật khác nhau nhưng thống nhất với
nhau< Hệ thống các qui luật tự nhiên quy định phương diện sinh học của
con người, hệ thống các quy luật tâm lí, ý thức hình thành và vận động
6
trên nền tảng sinh học của con người, hệ thống các quy luật xã hội quy
định quan hệ xã hội giữa ngưòi với người>. Ba hệ thống quy luật trên
cùng tác động, tạo nên một thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con
người bao gồm cả mặt sinh học và xã hội. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu
tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt
con người với loại vật. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vào
nhau để tạo nên con người.
cho phù hợp. Như vậy bản chất của con người không phải hệ thống đóng
kín mà là hệ thống mở tương ứng với điều kiện của con người. Con
người không phải là cái gì chung chung trừu tượng mà mang tính lịch sử
cụ thể, mang dấu ấn của hoàn cảnh, của văn hóa, của tư tưởng của một
thời đại nhất định. Mặc dù là”tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, con
người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể
sang tạo. Thông qua đó bản chất của con người cũng vận động biến đổi
cho phù hợp. Tóm lại bản chất của con người không phải nhất thành bất
biến không phải trừu tượng mà có sự vận động, biến đổi phát triển phù
hợp với sự biến đổi của hoàn cảnh thời đại. Do vậy muốn xem xét vấn đề
con người một cách khoa học và đúng đắn thì phải nghiên cứu con người
trong tính thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội. Mỗi mặt đó có
một chức năng khác nhau không thể thay thế cho nhau, trong đó mặt xã
hội chi phối sự hình thành bản chất con người.
3. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội
3.1 Khái niệm cá nhân
Cá nhân vừa là một chỉnh thể đơn nhất vừa mang tính cá biệt vừa
mang tính phổ biến, là chủ thể của lao động của mọi quan hệ xã hội và
8
của nhận thức nhằm thực hiện chức năng cá nhân và chức năng xã hội.
Mỗi cá nhân là thành viên của xã hội và mang bản chất xã hội.
Trong quan hệ với xã hội, cá nhân được phân biệt với các đặc
trưng: cá nhân là phương thức tồn tại cụ thể của loại người một cách trực
tiếp cảm tính. Không có con người nói chung mà chỉ có con người cụ
thể-cá nhân- của giống loài. Cá nhân là phần tử đơn nhất riêng lẻ tạo
thành cộng đồng xã hội, là cơ sở hình thành lịch sử xã hội loài người
đồng thời là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách, biểu hiện trong phẩm
chất sinh lí và tâm lí riêng biệt của mỗi người.
Cá nhân trong mối quan hệ với xã hội là một hiện tượng lịch sử vận
động phát triển phù hợp với mỗi thời đại nhất định.
lợi ích hình thành nên sự liên kết giữa cá nhân và tập thể, quy định
phương hướng hoạt động của tập thể nhằm làm cho tập thể vừa đảm bảo
lợi ích cá nhân. Từ đó mỗi cá nhân lại thúc đẩy tập thể phát triển.
Sự liên kết giữa cá nhân và tập thể được qui định bởi các mối quan
hệ khách quan và chủ quan.Tính khách quan bắt nguồn từ bản chất xã hội
của mọi thành viên.Tính chủ quan là năng lực tự tiếp nhận điều chỉnh
mọi suy nghĩ và hành vi của cá nhân .Sự thống nhất giữa tính khách quan
và chủ quan trong quan hệ cá nhân tập thể là điều kiện cần thiết để tập
thể phát triển lành mạnh.tuy nhiên trong điều kiện hiện thực của tập
thể,không thể đáp ứng mọi yêu cầu của cá nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa
cá nhân với tập thể . Đây là mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình
vận động và phát triển của cá nhân và tập thể .
10
Trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào ,cá nhân cũng không tách rời
khỏi xã hội .Là một hiện tượng lịch sửcá nhân –xã hội luôn luôn vận
động biến đổi vá phát triển trong đó sự thay đổi về chất chỉ diễn ra khi có
sự thay thế hìng thái kinh tế -xã hội này bằng hình thái kinh tế khác
.Trong giai đoạn cộnh sản nguyên thủy lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội là
thống nhất. Đến xã hội phân chia giai cấp quan hệ cá nhân và quan hệ xã
hội vừa có tính thống nhất vừa có tính mâu thuẫn.Trong CNXH,những
điều kiện của xã hội mới tạo tiền đè cho cá nhân phát huy năng lực vá
bản sắc riêng của mình phù hợp với lợi ích và mục tiêu của xã hội
mới .Vì vậy xã hội XHCN và cá nhân là thống nhất biện chứng là tiền đề
lá điều kiện của nhau .
Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội do sự qui định
do sự qui định của mặt khách quan và mặt chủ quan .Mặt khách quan
biểu hiện ở trình độ phát triển và năng suất lao động xã hội.Mặt chủ quan
thể hiện ở khả năng nhận thức và vận dụng quy luật xã hội phù hợp với
mục đích của con người .
của quần chúng nhân dân
II. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM MÁC- LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀO
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CNH-HĐH Ở NƯỚC TA
1.Yếu tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
12
Tầm quan trọng của việc phát triển yếu tố con người-nguồn nhân
lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định” Nguồn
lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững”. Con người và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định
sự phát triển đất nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Nguồn lục con người là điểm cốt yếu nhất của nội lực đất nước, do đó
phải bằng mọi cách phát huy yếu tố con người và năng cao chất lượng
nguồn lực.
Nhận thức được tầm quan trọng của nhân tố con người trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng rất quan tâm đầuv tư phát
triển nhân tố con người một cách toàn diện tức là phát triển con người
không chỉ về mặt trí tuệ, thẩm mĩ tinh thần mà còn phát triển cả về thể
lực, sức khỏe của con người.
Đảng nhà nước ta coi con người là động lực là mục tiêu của cách
mạng xã hội chủ nghĩa vì xét đến cùng con người là động lực quan trọng
nhất thúc đẩy sự phát triển của xã hội
2. Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam
Nguồn nhân lực nước ta đang ở trình độ của các nước đã phát triển
cao trong thời kì cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, cách mạng công
nghiệp lần thứ hai và thời đại công nghệ thông tin, kinh tế tri thức. Chúng
ta phải đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực để chuyển từ một nền kinh tế
lạc hậu sang một nền kinh tế công nghiệp trong ngữ cảnh xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo đường lối hội nhập
mở cửa. Tức là phải chú ý tới đội ngũ lao động, đại bộ phận là lao động
Tất cả những điều nêu trên là những bất hợp lý nổi cộm, bức xúc
nhiều năm nay và cần sớm giải quyết để đưa nước ta trở thành nước phát
triển
3. Vấn đề xây dựng nhân lực con người-Phương hướng và giải pháp
Đảng và nhà nước ta rất coi trọng vấn đề con người, coi con người
là trung tâm của chính sách , đường lối, chủ trương phát triển xã hội.
Hiện nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, công nghệ
hiện đại và tương ứng với nó là sự phát triển của nền kinh tế tri thức trên
toàn thế giới. Nó đòi hỏi con người cũng phải phát triển tương ứng với sự
phát triển đó. Hội nghi Trung ương lần thứ II- khóa VIII Đảng ta đã
khẳng định:” Những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sang, ý chí kiên
cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có khả năng
tiếp thu văn hóa nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người
Việt Nam có ý thức cộng đồng và phát huy tích cực của cá nhân, làm chủ
tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tác dụng sang tạo, có kĩ năng
thực hành giỏi, có tác phong công ngiệp, có tính tổ chức kỉ luật, có sức
khỏe là những người thừa kế xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội như lời Bác
dạy”
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ qua trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Phát triển thể năng của con người để có khả năng lao động, làm
việc với nhịp độ cao, chính xác.
Mỗi người là một cá nhân độ lập làm chủ quá trình lao động của
mình. Lấy lợi ích của người lac động làm nguyên tắc cơ bản của quản lý
lao động nhằm tăng năng suất lao động
15
Bảo đảm môi trương dân chủ thuận lợi cho tiến hành giao lưu đồng
thuận, tạo cơ hội thăng tiến cho tất cả mọi người.
Với độ dài chưa đến mười ba trang đây chỉ mới là những nội dung
cơ bản sơ qua về vấn đề con người và nguồn nhân lực con người trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tin chắc rằng với những
đường lối đúng đắn của Đảng và nhà nước ta thì mục tiêu dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, mọi người, mọi nhà ấm no,
hạnh phúc “ sẽ sớm được hoàn thành”.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình triết học Mác Lênin
Các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc
Lý luận chính trị 4-2005
Trang web: HTTP:// www.vienkinhtehochiminhcity.gov.vn
18