Tài liệu Tiểu luận triết về ảnh hưởng của Nho giáo - Pdf 10

Lời mở đầu
Triết học ra đời đã làm thay đổi nhận thức, quan niệm của xã hội loài người về
thiên nhiên, về con người và về thế giới xung quanh. Triết học hình thành, tồn tại phát
triển cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ thứ
VIII đến thể kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân
loại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp. Theo người trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc
ngôn ngữ là chữ triết. Với chữ hình tượng này, người Trung Quốc hiểu triết học không
phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí, là sự
hiểu biết sâu sắc của con người. Theo người Ấn Độ, triết học được đọc là darshana.
Darshana có nghĩa là chiêm ngưỡng nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con
đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải. Ở phương Tây, thuật ngữ triết học
xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là
Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, Pholosophia vừa mang
tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.
Vì vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là
hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhân thức, đánh giá của con người, nó tồn tại
với tư cách là một hình thái ý thức xã hội. Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của
con người phục vụ nhu cầu sống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung
nhất, triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người.
Ngay từ buổi bình minh của nhân loại, để tồn tại, con người đã phải tiến hành
hoạt động lao động sản xuất và những hoạt động khác. Điều này đã đem lại cho con
người những tri thức nhất định về thế giới xung quanh và về bản thân mình, nhưng
đây mới chỉ là những tri thức rời rạc, phản ánh bề ngoài của một đối tượng. Hệ thống
tri thức lý luận chung nhất chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định, đó là
con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đén khả năng rút ra được cái
chung trong muôn vàn sự kiện, hiện tượng riêng lẻ. xã hội đã phát triển đến thời kỳ
hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hoá các quan điểm,
quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, hình thành lý luận và triết học ra đời.
Trong tiểu luận này, chúng ta sẽ đi đâu tìm hiểu quan niệm về con người xưa
và con người hôm nay trong con mắt, tư duy của Nho giáo.
Con người trong cái nhìn của Nho giáo

hiện nổi trọn vẹn Ðạo giữa đời nầy để chứng thực có cảnh thái hòa?
Ở chương 11 Sách Trung Dung trả lời như sau: Ðạo đó hạng "phu phụ chi ngu"
cũng biết và làm được, nhưng thánh nhân đến chỗ cùng tột cũng bất cập. Và ở chương
4, sách trích lời Khổng Tử nói "Ðạo không còn thi hành được nữa chăng!"
2
Ðể trả lời về cái cùng tột của đạt đạo, tức là hòa, Khổng Tử thường gợi đến một
thời Nghiêu Thuấn xa xưa, hình ảnh của một thời không phải là thời con người lịch
sử, nhưng có thể nói "một vườn Eden" nằm trong Ðại-ký-ức.
Vào những chương cuối của sách Luận ngữ, nhiều ẩn sĩ tân-Lão-học bi quan
nhắc Khổng Tử và đồ đệ ông là nơi xã hội trần thế không còn cách gì tạo hòa bình
được; tốt nhất là nên lui về ở ẩn cho yên thân:
"Có phải là người biết không thể làm được mà cứ làm ư?"
Khổng Tử cho rằng: "Muốn sạch cho riêng mình, mà để loạn cho luân thường
xã hội sao! Người thuận đạo ra làm kẻ sĩ, cứu dân, là để trọn nghĩa làm người của
mình. Ðạo không ai thi hành được, thì ta đã biết lâu rồi."
Việc tạo được hòa bình trần thế, nơi xã hội, Khổng Tử cho đó là sự sắp xếp của
Trời, và có thể nói tùy lòng người, là những kẻ khác mình nữa. Nhưng đạo làm người
trung thực vẫn là cố lắng nghe Ðạo và làm theo tiếng gọi của Ðạo.
Yêu thương (cố năng ái) phát xuất từ đức nhân, hay nhân tính chân thật, không
phải làm điều tốt cho ai theo ý mình, nhưng thực hiện mối tương giao chân thật, tương
kính, tôn trọng tự do theo chân lý của Ðạo. "Hòa bình" theo Nho học như thế là trật tự
hài hòa giữa Trời và Ðất, giữa cộng đồng nhân loại với nhau.
"Nhân" thường được con người tân thời ngày nay hiểu là Mẫu Mực Con Người
hay một Ý Niệm Người do tự mình hoặc ý thức về chính mình, hoặc do lịch sử của
nhiều thời đại xây đắp nên. Các chủ thuyết nhân bản tân thời Tây phương thường gọi ý
niệm nầy là nhân loại. (= Humanité selon les humanismes modernes). Còn Nho học thì
sẽ gọi "nhân loại tự tôn nầy" là "bất nhân tạo bất hòa", vì đây là ý niệm phát sinh do
những kẻ không sợ trời đất gì nữa. "Nhân" nơi Khổng Tử có nghĩa là "con người" trong
tương quan với "Trời" (nét ngang ở trên) và "Ðất" (là nét ngang ở dưới), như chữ
Vương trong vương đạo. "Nhân" đó là "mệnh" theo nghĩa là tính uyên nguyên của con

tâm tình "kính trọng" gọi là "lễ nghi". Nhưng cốt lõi của "Lễ" là lòng kính trọng điều
tai thường không nghe, mắt thường không thấy
"Yêu người" là nhân ái, nhưng kẻ trước mặt mình luôn cao cả hơn những gì mà
sức lực, tài trí tự nhiên có thể biết được. Nên "yêu người" đúng đạo nhân trước hết là
kính trọng người nơi sự cao cả của họ, mà các cách thẩm định giá trị của mình, của
lịch sử xã hội không thể đạt đến được.
Con người hôm nay và con người hôm qua - con người của ngàn xưa - dường
như không khác nhau là mấy. Cởi bỏ lớp vỏ bọc văn minh vật chất, con người ấy, dẫu
hình hài có thanh tú mỹ lệ hơn con người ban sơ, nhưng nỗi khắc khoải vẫn còn
nguyên vẹn. Vẫn còn đấy niềm băn khoăn muôn thuở: con người, mi là ai? Một nhà
thơ nào đó đã từng òa khóc cho thân phận con người trong cảnh thương hải tang điền:
«Ta là ai giữa mùa thay đổi ấy?» Hoặc như thi nhân Trần Tử Ngang (651-702) đời
Đường đã chua xót ngậm ngùi:
Chúng ta đều nhìn nhận rằng con người đã và đang tiến hóa, kể từ thuở là con
người tinh khôn (homo sapiens) của Đệ Tứ Nguyên Đại. Cuộc tiến hóa ấy có định
hướng chăng? Nếu có, ta khoan nói về cái viễn đích (telefinal) xa xôi ấy, mà hãy tạm
nhận thấy về cơ bản đó là con vật, một con vật thượng đẳng biết tư duy mà người
Đông Phương chúng ta mệnh danh là «linh ư vạn vật». Con vật ấy có tính xã hội, và vì
4
vậy trong cuộc cộng sinh, con vật ấy đã biết thích ứng với nhau, biết chế ngự bản
năng cầm thú, để được tiến hóa thành con người văn minh hiện nay. Thế nhưng con
người thực sự đã thuần hóa được cái con thú man rợ luôn chực nhe răng gầm gừ trong
cõi lòng mình không?
Nhìn phía trước người xưa vắng vẻ,
Ngoảnh về sau quạnh quẽ người sau.
Ngẫm hay trời đất dài lâu,
Mình ta rơi giọt lệ sầu chứa chan. [1]
Và chúng ta, ắt cũng có lần nào đó đã
từng ngao ngán như Nguyễn Gia Thiều
(1741-1798):

xử theo bản năng thấp hèn. Người quân tử thì biết bảo tồn sự sai biệt ấy, để vượt lên
trên loài cầm thú, để khắc phục bản năng thú cầm. Chẳng hạn bản năng ăn uống, sự
đói và khát có thể làm hại tâm (đói ăn vụng, túng làm càn), nhưng người ta có thể
ngăn chặn mối nguy hại đó. Thà đói khát chứ không làm điều sai quấy. Mạnh Tử nói:
«Nếu người ta có thể ngăn cản mối hại của đói khát đừng hại lây đến lòng dạ mình,
như vậy dẫu mình chẳng bằng người nhưng lòng mình chẳng lo buồn.» [4]
Người ta rất dễ dàng nhận ra đâu là tiểu nhân, đâu là quân tử. Toàn bộ Tứ Thư (Đại
Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử), cho đến Kinh Thi và Kinh Dịch phần lớn đều đề
cập đến đức hạnh của bậc quân tử. Nếu chưa được tài đức đó thì họ vẫn còn là tiểu nhân.
Kinh điển Nho giáo dạy chúng ta con đường tiến hóa từ
tiểu nhân thành bậc quân tử. Nội chỉ đọc riêng quyển Luận Ngữ
thôi, ta có thể trích dẫn vô số câu nói của Khổng Tử về quân tử.
Và có thể hình dung một con người tiến hóa gọi là quân tử.
Quân tử là người biết mục đích cao cả của kiếp người, biết
cái Thiên Mệnh mà trời trao cho con người, nghĩa là biết cái
viễn đích tối hậu của nhân sinh. Người quân tử có thể tóm ở
mấy chữ: Nhân, Trí, Dũng, Lễ, Nghĩa, Trung, Tín, Thành, Hiếu
Đễ, Khoan Thứ, Tự Cường, Hiếu học, Chuyên Cần (Bất Tức)
Vì Nhân (bác ái) nên lòng yêu người tỏa khắp, mong
muốn người khác cũng được hạnh phúc. Vì yêu thương nhân
loại, nên lòng khoan dung độ lượng thứ tha. Không nhớ lỗi
lầm của người khác, mà chỉ chú trọng giáo hóa họ nên người.
Khổng Tử
(551-479 tcn)
Người quân tử thì chú trọng vào nghĩa, kẻ tiểu nhân chú trọng vào lợi.[5] Tiểu nhân chỉ
lo trau chuốt bề ngoài, trọng hư danh, lời lẽ xảo trá. Sở dĩ như vậy vì họ mong dối gạt người.
[2] Nhân chi sơ, tính bản thiện, tính tương cận, tập tương viễn. (Tam Tự Kinh)
[3] Nhân chi sở dĩ dị vu cầm thú giả kỷ hi, thứ dân khử chi, quân tử tồn chi. Mạnh Tử -
Ly Lâu hạ, ch. 19)
[4] Nhân năng vô dĩ cơ khát chi hại vi tâm hại, tắc bất cập nhân, bất vi ưu hỹ. (Mạnh Tử

cảm can gián không sợ mích lòng, thà vậy còn hơn là xu phụ dối gạt họ.
Vì Trung nên giao du với bằng hữu thì hết lòng, làm việc cho người thì hết dạ.
Vì trung nên làm việc cho ai hoặc phụng sự ai thì hết lòng, không phản bội. Nhưng cái
Trung đó không phải là lòng trung máy móc và thiển cận (ngu trung). Bậc quân tử
ngay cả lúc phụng sự vua đâu phải vì cá nhân nhà vua, mà chính vì lẽ Đạo.
[6] Nhân bất tri nhi bất oán. Luận Ngữ, 1-1.
[7] Quân tử giao tuyệt, bất xuất ác thanh.
Nếu vua mà vô Đạo thì trung làm gì.[8] Bậc quân tử vì chữ Tín mà hành xử. Tín
là tin mình, tin người. Nhờ chữ Tín đó mà thành Người. Vì tự tin vào mình nên dù ai
7
không biết tài đức của mình, mình cũng không buồn không oán. Tự tin vào tài đức của
mình, càng ngày càng trau dồi, để một mai kinh bang tế thế, bấy giờ người biết mình
cũng không muộn. Vì có tin nhau nên việc mới thành tựu, người mà không tín thì
không biết ra thế nào.
Người quân tử cốt yếu là ở lòng Thành. Nhờ lòng thành ấy mà người khác mới
tin tưởng mình. Những lễ lạc cũng chủ yếu là ở lòng thành chứ không phải hình thức
xa hoa lòe loẹt.
Quân tử đã Hiếu lại còn Đễ. Hiếu là cái đạo đối với phụ mẫu. Đễ là cái đạo đối với
anh chị em. Đó là kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã
yêu mến, thờ cha mẹ lúc chết cũng như sống, lúc cha mẹ mất mà tưởng như hãy còn, ấy
là chí hiếu vậy. Cái Đạo đối với anh chị em là mỗi người phải ăn ở đúng phận mình, anh
ra anh, em ra em. Đễ là gì ? Chẳng qua là đạo phụng sự huynh trưởng. Theo Nho giáo,
hiếu đễ là đầu mối của lòng nhân (bác ái) nếu ta chẳng yêu cha mẹ ta, chẳng tôn kính anh
em ta mà bảo rằng yêu mến tôn kính người và cha mẹ người khác, đó là lừa bịp vậy.
Khoan thứ là lòng bao dung quảng đại của bậc quân tử. Bởi lẽ tiểu nhân là
«quân tử chưa thành và sẽ thành», cho nên người quân tử chú trọng giáo hóa tha nhân
hơn là ghét bỏ họ. Quân tử không tưởng nhớ lỗi lầm của người khác. Người ta phạm
điều ác, bởi lẽ không nhận ra cái ranh giới phân định giữa con người và cầm thú. Bậc
quân tử không những nhìn ra cái ranh giới ấy mà còn giáo hóa tha nhân để họ phân
biệt được cái ranh giới ấy và vươn lên cao hơn loài cầm thú bằng cách khắc phục bản

phải lấy dân làm gốc và phải tâm niệm rằng: quý nhất là
dân, sau đó là quốc gia, và thấp nhất là nguời cai trị (Dân
vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Cho nên người cai trị
phải mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Muốn vậy, phải biết
trọng hiền tài, vời họ ra giúp dân giúp nước. Nếu không tin
vào bậc hiền tài thì nước trống không, nếu không có lễ
nghĩa thì nước sẽ loạn. Nhờ chính sách chiêu hiền đãi sĩ, kẻ
sĩ trong nước không bỏ nước mà đi, kẻ hiền tài ở xa xôi hâm
mộ mà quy phục, như vậy quốc gia mới mau phú cường,
nhân dân mới chóng hạnh phúc. Đã dùng người hiền tài thì
phải trao thực quyền cho họ, đừng khiến cho họ chỉ có hư
vị. Và thận trọng đừng chọn lầm mà khiến kẻ tiểu nhân ti
tiện vượt lên trên người tôn quí (quân tử).
9
Trở lại vấn đề đã nêu ở trên: Sự tiến hóa của con người rõ ràng trước mắt là làm
cho xã hội hoàn thiện hơn, hạnh phúc hơn. Nhưng sự tiến hóa ấy còn đi về đâu nữa ? Sự
tiến hóa ấy rõ ràng là có định hướng vậy cái viễn đích (telefinal) xa xôi tối hậu ấy là gì?
3. Con người siêu xuất xã hội:
Theo quan niệm của Nho giáo, con người không chỉ là con người xã hội (tiểu nhân
và quân tử) mà còn là con người siêu xuất xã hội. Con người siêu xuất ấy gọi là Thánh
Nhân. Thánh Nhân cũng là con người như chúng ta, nhưng Thánh Nhân cũng vượt ra
khỏi đồng loại, siêu xuất trên xã hội người đời, và là kẻ siêu quần bạt tụy.[9] Thánh
Nhân là người đạt Đạo, là Trời được nhân cách hóa (tức là đã Phối Thiên).
Nho giáo không chỉ là cái nhân đạo thực tiễn, mà còn là cái đạo học siêu hình, và
điều này được nói rõ chủ yếu trong Trung Dung. Theo Trung Dung, cái bản tính con
người chính là mệnh trời (Thiên mệnh) và Đạo là gì? Chẳng qua là noi theo Tính đó
(Suất Tính).[10] Tánh là hoàn thiện quang minh (Trung Dung, chương 21) Mệnh vừa
Thiên Mệnh, vừa Nhân Mệnh. Muốn hiểu được Mệnh Trời phải am tường bản tánh.
Và định mệnh con người là phải am tường bản tánh đó.[11] Vậy Mệnh Trời là muốn
ta tìm được bản thể của mình, theo tiếng gọi lương tâm, phục tòng thiên lý để kết hợp

5. Ảnh hưởng của Nho giáo đến Việt Nam:
Qua các thời đại lịch sử của dân tộc ta, không phải bất cứ ai cũng thấu đáo
được hết ý nghĩa của đạo Nho, phân tích thành hệ thống theo yêu sách của trường ốc,
bác học. Hơn thế nữa, cũng có những cách hiểu, cách áp dụng đạo Nho lấy "dụng"
làm "thể", nên có những hiện tượng phản kháng nếp sống cao ngạo, giả tạo và khắt
khe của lớp "quan lại hủ nho", những cách đối xử thiếu tình nghĩa trong gia đình và
ngoài xã hội, những lễ nghi rườm rà, bất nhân Sứ điệp nào, tôn giáo nào cũng gặp
nguy cơ như thế khi tiếp cận với lịch sử xã hội. Nhưng đằng sau những hiện tượng xã
hội tiêu cực trên đây, hồn của đạo Nho vẫn thấm nhập vào nếp sống sinh hoạt của mỗi
một người con dân Việt; và đôi khi chính cái hồn đó là sức mạnh tố giác những hình
thức nhiêu khê, giả tạo của nếp sống "nho nhã" giả hình.
[12] James Ware, The Sayings of Confucius, Mentor Books, 1960. p.17: «Diligent
study of The Sayings of Confucius can help solve the profound moral problem of the West.
Reading Confucius may enable us to restate our own traditional religious beliefs and help us
to realize again the value of emotion and idealism to all men.»
11
Từ triều đình đến cuộc sống làng mạc, từ cách cư xử bạn bè, thân quyến đến
nếp sống gia đình Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín được đề xuất như những mẫu mực tạo
một trật tự nhân sinh tình nghĩa. Từ vua chúa đến thứ dân, từ người có học đến người
dân quê không biết đọc biết viết , thì "lễ", là sự kính trọng kẻ khác, luôn được cảm
nhận như giềng mối của các tương quan xã hội.
Mỗi người biết kính trọng kẻ khác, vì tất cả đều phải kính trọng "Chí Thiện",
cái Ðạo sâu kín mà ngay cả Nghiêu Thuấn cũng còn bất cập. Cố tâm thực thi Ðạo,
gần, thật gần với người, nhưng không do người làm ra và không bao giờ thấu đáo hết
trong thân phận con người của mình, đó là "nghĩa" (= làm điều phải làm).
Nên kẻ kiến tạo hòa bình không ảo tưởng cho rằng một trật tự nào đó nơi
dương gian nầy bất kỳ, theo ý con người bày ra, là Hòa thật sự. Nhưng từng bước đi
của mình, con người luôn cố gắng noi theo ánh sáng của Ðạo nơi Ðại Ký Ức, nơi Chí
Thiện. Nỗ lực liên tục này là "nghĩa" của con người. Chữ "nghĩa" của Nho giáo, cũng
như dân Việt Nam ta hiểu không nằm trong khuôn khổ sự hiểu biết sự vật. Nhưng

giận, cùng loại với Thần khí.
Tượng trưng của Trời Đất, tương quan của khí Âm Dương thường thấy thiết
dụng ở thân Người. Thân Người cũng như Trời, tương tham hợp với số Trời, nên
cùng liên hệ với Trời bằng sinh mệnh.
Vũ trụ mà không có Người là vũ trụ không hoàn toàn, bởi vì vũ trụ là một đại
hòa điệu của Tam Tài (Thiên, Địa, Nhơn), mà thiếu đi một yếu tố thì sự hòa điệu
không còn. Trời và Người quan hệ mật thiết với nhau, bởi thế mới lấy phép tắc tự
nhiên của Trời làm mô phạm của Người, lấy Thiên luân làm Nhơn luân, lấy Thiên
đạo làm Nhơn đạo.
Nho giáo lấy ý dân làm ý Trời, sự sáng suốt của Trời hiện ra ở trong sự sáng
suốt của dân, dân muốn chính là Trời muốn. Sự sáng suốt của Người thường bị mất đi
là do lòng vật dục che khuất, do đó mà không cảm ứng được với Trời.
Đến khi người ta mệnh chung thì cái tia sáng ấy trở về Trời, còn cái thân vật
chất thì hẩm nát đi.
Bởi lý tưởng ấy, cổ nhân nói rằng: “Sinh ký dã, tử qui daõ”. Nghĩa là : Sống là
gởi vậy, chết là về vậy. Trong câu nói ấy hàm chứa sự Luân hồi. (Theo Nho giáo Trần
Trọng Kim).
13
Sách tham khảo chính
1. Chiêm Bình, Tứ thư tường giải, Đài Loan, 1964.
2. James Legge dịch, Tứ thư (Four Books), Hương Cảng.
3. Trần Trọng Kim, Nho Giáo, Nxb Trung Tâm Học Liệu, Sài gòn, 1971.
4. Phan Bội Châu, Khổng Học Đăng, Nxb Khai Trí, 1973.
5. Phan Bội Châu, Chu Dịch, Nxb Khai Trí.
6. H.G. Creel, Confucius and the Chinese Way, 1960.
7. H.G. Greel, Chinese Thought from Confucius to Mao tse Tung, 1964.
8. J.R. Ware, The Sayings of Confucius (Luận Ngữ) và (Mạnh Tử), 1960.
9. Bé Gi¸o dôc vµ §µo t¹o, Gi¸o tr×nh TriÕt häc M¸c - Lªnin, Nxb ChÝnh trÞ quèc gia, 2004
10. Häc viÖn ChÝnh trÞ Quèc gia Hå ChÝ Minh - Khoa TriÕt, Gi¸o tr×nh LÞch sö TriÕt häc,
Nxb ChÝnh trÞ quèc gia, 2004


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status