BÀI THUYẾT TRÌNH VỀ TRẦN NGUYÊN HÃN
LỜI NÓI ĐẦU
Khởi nghĩa Lam Sơn thế kỉ XV(1418-11427) là một sự kiện quan trọng
trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập của dân tộc ta. Trong
cuộc khởi nghĩa đó, dưới hai vị lãnh tụ tối cao là Lê Lợi và Nguyễn Trãi, còn có
những nhà quân sự có tài như Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Lê Văn Linh
… Mỗi người đều có những cống hiến xứng đáng mà đến ngày nay sử sách
nước ta vẫn chưa đánh giá hết được.
Riêng Trần Nguyên Hãn, là một tướng có tài, có nhiều đóng góp quan
trọng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, được phong chức “Tả tướng quốc”, và
ban quốc tính. Trần Nguyên Hãn là tướng đứng đầu về ban võ trong cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn và trong thời gian đầu triều Lê Thái Tổ. Nhưng vì sau cuộc khởi
nghĩa chống Minh, Ông bị Lê Thái Tổ nghi can và giết hại, vì vậy mà công lao
của Ông đối với khởi nghĩa Lam Sơn không được ghi chép đầy đủ.
Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn là anh em họ với nhau, cùng nhau
tham gia và đóng vai trò quan trọng trong khởi nghĩa Lam Sơn. Nguyễn Trãi, là
một nhân vật vĩ đại tromg lịch sử dân tộc, vì vậy có rất nhiều công trình nghiên
cứu về khía cạnh, lĩnh vực liên quan đến Nguyễn Trãi. Còn Trần Nguyên Hãn,
tuy cũng là một “khai quốc công thần” của triều Lê, là một người chí thân với
Nguyễn Trãi, có những cống hiến to lớn cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn lại chưa
được đánh giá đúng mức. Vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài về Trần Nguyên Hãn
để làm báo cáo khoa học của mình, trước hết là để hiểu thêm về khởi nghĩa Lam
Sơn, về cuộc đời của một anh hùng dân tộc trong cuộc khởi nghĩa đó; Hơn nữa,
là những người con của quê hương Ông, bản thân chúng tôi càng cảm thấy có
trách nhiệm và lòng tự hào nghiên cứu, tìm hiểu về một vị anh hùng dân tộc,
một “danh nhân văn hoá” của tỉnh nhà, con người đã có công lao to lớn trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc thế kỉ XV.
Chỉ sau khi vua NhânTông, năm Diên Ninh thứ hai (1456) nhân đại xá
“biểu dương người có công lao cũ “(Lê Quý Đôn) đã khôi phục lại danh dự và
khẳng định công lao của Trần Nguyên Hãn với khởi nghĩa Lam Sơn. Chính sử
1
Bí nổi dậy hoạt động ở châu Thái Nguyên.
Năm 1409, Hoàng Cự Liêm nổi dậy ở châu Quảng Oai.
1
Lê Tung, tức là Dương Bang Bản, đỗ Hoàng giáp năm 1484.
2
Những tài liệu này , chúng tôi được nhà nghiên cứu lịch sử Lê Kim Thuyên ở Lập Thạch, Vĩnh Phúc cung cấp
2
Nguyễn Sư Cối tự xưng Vương, cùng Đỗ Nguyên Thế chiếm cứ xã Nghi
Dương thuộc An Lão châu Đông Triều. Theo sử nhà Minh, thì số lượng của
nghĩa quân khoảng 2 vạn người, hoạt động mạnh mẽ ở vùng cửa sông Hoàng
Giang, sông Ma Lao, Đại Toàn. Nhưng đến năm 1410 thì bị nhà Minh dập tắt.
Vùng xung quanh thành Đông Quan, nghĩa binh cũng hoạt động rất mạnh.
Lê Nhị cầm đầu nghĩa quân ở Thanh Oai, Từ Liêm. ở phủ Lạng Sơn có Hoàng
Thiêm Hữu, Nguyễn Nguyên Hách. Phủ Thái Nguyên là khu vực hoạt động của
Chu Sử Nhan, Bùi Quý Thăng. Đặc biệt là nghĩa binh áo đỏ (hay Hồng Y) ở
Thái Nguyên hoạt động trong một thời gian dài, gây ra nhiều khó khăn cũng như
tổn thất cho quân xâm lược nhà Minh.
Năm 1415, vùng Thanh Hoá bùng nổ cuộc khởi nghĩa của Trần Nguyệt
Hồ, tự xưng là Nguyệt Hồ Vương, hoạt động ở vùng lưu vực sông Mã.
2. Các cuộc khởi nghĩa của Quý tộc nhà Trần
Khởi nghĩa của Trần Ngỗi
Trần Ngỗi (có sách chép là Trần Quỹ) là con thứ của vua Trần Nghệ
Tông (1370-1372), đời Trần đã được phong là Giản Định Vương, sang thời Hồ
đổi phong là Nhật Nam Quận Vương
Khi nhà Minh lùng bắt con cháu và quan lại nhà Trần, Trần Ngỗi phải lẩn
tránh vào bến Yên Mô (Ninh Bình). Trần Triệu Cơ ở Nam Định đang chuẩn bị
khởi nghĩa, liền đón Trần Ngỗi về lập lên làm Minh chủ.
Khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng.
Trần Quý Khoáng là con thứ của Mẫn Vương Ngạc, cháu vua Trần Nghệ
Tông và cũng là cháu của Trần Ngỗi. Dưới Triều Trần, Ông từng giữ chức Nhập
nuôi chí cứu đời giúp dân” (Lê Quý Đôn) hoặc “... Hãn thường hữu ý ư thảo tặc”
(Hãn thường có ý thức giết giặc). Là một Tôn thất, nhưng Trần Nguyên Hãn
không bao giờ có một phút suy tư đến việc cứu giúp, khôi phục lại cơ nghiệp
nhà Trần. Lo cho dân, muốn giúp dân thoát khỏi lầm than nhưng không có nghĩa
là dựng lại một vương triều đã đổ vỡ.
4
3
Trần Quốc Vượng, Nghĩ về Trần Nguyên Hãn và cái chết của Ông, trong: Văn hoá Việt Nam - tìm tòi và suy
ngẫm, NXB Văn Học, Hà Nội – 2003, tr.747.
4
Lê Kim Thuyên, Trần Nguyên Hãn, Sở Văn Hoá Thông tin Thể thao Vĩnh Phúc, 1998.
4
Năm1400 , Hồ Quý Ly chiếm đoạt ngôi báu nhà Trần.
Năm 1406 Minh Thành Tổ đã khéo léo lợi dụng khẩu hiệu “Phù Trần
diệt Hồ” chiếm được nước Nam nhanh chóng. Việc tìm lập con cháu nhà Trần là
âm mưu chính trị lắt léo của nhà Minh qua từng thời kì, dưới những chiêu bài
hết sức phức tạp:
Để đánh vào lòng người, cô lập cha con Hồ Quý Ly, Minh Thành Tổ
nêu vấn đề “Tìm lập con cháu nhà Trần”. Đó là việc năm 1406, tổ chức đưa tên
Việt gian Trần Thiêm Bình mạo nhận con vua Trần về nước.
- Khi chiếm xong nước Nam, đặt quận huyện, Trương Phụ yết bảng
“tìm bắt” con cháu nhà Trần.
- Khi Lê Lợi khởi nghĩa, nhà Minh lại đề ra chiêu bài “Tìm lập con cháu
nhà Trần”. Chiêu bài này, lắt léo, khi ẩn khi hiện khiến vua Lê Lợi, phải ứng
phó linh hoạt cho đến suốt thời kì lên ngôi hoàng đế (1428-1433).
Trần Nguyên Hãn do vậy, cũng phải có cách ứng phó rất mưu lược trước
chính cuộc phức tạp đó. Ông “ung dung” ở Sơn Đông, rồi đứng vững vàng trong
bộ chỉ huy của nghĩa quân Lam Sơn, làm đến chức Tướng Quốc. Nhưng cả vua
Lê Lợi và vua Minh không hề lợi dụng được con người nhà Trần ở nơi ông.
Ông là con người cứu nước, cứu dân chân chính, không dễ hiến mình cho các