SKKN môn anh 6 phương pháp giảng dạy kỹ năng viết cho học sinh - Pdf 30

mục lục
Phần I: Mở đầu 02
1. Lý do chọn đề tài 02
2. Nhiệm vụ nghiên cứu 02
3. Đối tợng và cơ sở nghiên cứu 02
4. Phơng pháp nghiên cứu 03
Phần II: Kết quả nghiên cứu
I.đặc điểm tình hình 03
1.Thuận lợi
2.Khó khăn
II.Thực trạng tình hình dạy và học phân môn làm văn 03
1)Thực trạng giảng dạy của công tác giảng dạy 03
2)Thực trạng tình hình học tập của học sinh 06
III.Một số biện pháp trong quá trình giảng dạy
phân môn làm văn cho đối tợng học sinh DTIN 11
1.Đối với tiết dạy lý thuyết 11
2.Đối với tiết luyện tập 11
3.Đối với tiết luyện nói 12
4.Chấm văn - Trả bài 13
IV.Một số phơng pháp và thao tác chính trong quá
trình giảng dạy phân môn làm văn học sinh DTIN. 14
1.Thao tác phân tích mẫu 14
2.Phơng pháp thực hành 14
3.Phơng pháp động viên, khuyến khích 15
4.Hoạt động ngoại khóa 15
5.Biện pháp giao tiếp 16
V.Kết quả vận dụng các biện pháp 16
1.Thái độ học tập phân môn 16
2.Về chất lợng học tập của học sinh qua các bài làm văn 16
3.Về việc khắc phục các lỗi thông thờng 17
Phần III: Kết luận và đề nghị 18

môn Làm văn đối với đối tợng học sinh DTIN.
Đó chính là lý do chính để tôi chọn đề tài: Phơng pháp giảng dạy kỹ năng
viết cho học sinh. Hi vọng rằng với những gì có trong đề tài sẽ góp một phần
nhỏ bé vào việc nâng cao chất lợng dạy - học bộ môn Anh văn nói chung và kỹ
năng viết nói riêng cho học sinh.
1. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Qua thực tế giảng dạy trong hơn năm năm công tác cùng với sự tìm hiểu từ
các đồng nghiệp cùng môn, cùng đối tợng kết hợp với một số tài liệu có liên quan
nhằm cung cấp thực trạng của vấn đề, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những thực
Sáng kiến kinh nghiệm Trang 2
trạng đó để đa ra một số phơng pháp tối u cho công tác dạy - học phân môn Làm
văn cho đối tợng học sinh DTIN.
2. Đối tợng và cơ sở nghiên cứu:
- Học sinh bậc THCS ở địa bàn chủ yếu là ngời DTIN trên địa bàn huyện
Đăk Hà - Tỉnh Kon Tum (các xã: Ngọc Wang, Ngọc Réo).
- Học sinh khối 9 và khối 7 ở trờng THCS xã Ngọc Wang.
3. Phơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này bản thân đã trao đổi cùng các đồng nghiệp giảng
dạy cùng môn, cùng đối tợng và kết hợp một số phơng pháp chủ yếu sau:
- Phơng pháp thực nghiệm KHGD.
- Phơng pháp trò chuyện.
- Phơng pháp điều tra.
- Phơng pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
- Đọc sách và tài liệu.
Phần II: kết quả nghiên cứu:
I.đặc điểm tình hình:
1.Thuận lợi:
- Đợc sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trờng
trong quá trình giảng dạy, đặc biệt đợc chuyên môn nhà trờng sắp xếp theo sát
đối tợng học sinh một khối lớp trong suốt 4 năm học.

02 Từ 5 đến 10 năm 02 22,2 %
03 Trên 10 năm 01 11,1 %
Tổng cộng
09 100 %
Qua bảng khảo sát thực tế về tình hình công tác của đội ngũ giáo viên ở
trên chúng ta có thể thấy số giáo viên có thâm niên trong giảng dạy từ 5 năm trở
lên chỉ chiếm một tỷ lệ là 33,3% - một con số khá khiêm tốn. Chính điều này đã
ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng giảng dạy của phân môn Ngữ văn nói chung và
phân môn Làm văn nói riêng ở những vùng khó khăn. Chúng tôi trong quá trình
giảng dạy đã đợc nghe rất nhiều những lời tâm sự hết sức chân thật của các đồng
nghiệp mới ra trờng: nào là em thực sự không biết phải dạy nh thế nào để học
sinh có thể viết đợc dẫu chỉ một đoạn văn cho ra hồn hay Em đã sử dụng tất cả
các phơng pháp đã đợc trang bị ở trờng ĐH vào trong quá trình giảng dạy rồi mà
sao học sinh vẫn không thể viết nổi một bài văn Những lời tâm sự trên đã phần
nào nói lên đợc tâm trạng bối rối của các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn
Ngữ văn nói chung và phân môn Làm văn nói riêng cho đối tợng học sinh dân tộc
ít ngời ở những vùng khó khăn. Và cũng từ những lời tâm sự ấy đã nói lên tâm
huyết của các giáo viên ở những địa bàn kể trên. Đó cũng là dấu hiệu khả quan
cho việc nâng cao chất lợng giảng dạy và chỉ cần một cú huých là sẽ có thể làm
thay đổi chất lợng.
Trình độ đào tạo của giáo viên cũng là một yếu tố góp phần vào không nhỏ
vào quá trình giảng dạy. Nếu ngời giáo viên đợc đào tạo đúng chuẩn sẽ đáp ứng
đợc yêu cầu cơ bản của việc truyền thụ kiến thức của bộ môn và ngợc lại. Nếu
làm một thống kê về trình độ đào tạo chuyên môn của các giáo viên môn Ngữ
văn ở hai trờng nói trên cho thấy một kết quả nh sau:
Stt Trình độ đào tạo Số lợng Tỷ lệ Ghi chú
Sáng kiến kinh nghiệm Trang 4
01 Trung học s phạm 0 0 %
02 Cao đẳng s phạm 06 66,7 %
03 Đại học s phạm 03 33,3 %

các buổi, các đợt sinh hoạt chuyên môn sao cho thiết thực và có hiệu quả. Ví dụ
các chuyên đề nh: Bàn về phơng pháp giúp học sinh nhận dạng đúng kiểu bài,
Bàn về phơng pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh Đồng thời với các chuyên
đề này cần có các tiết dạy thực nghiệm để giáo viên định hình đợc công việc
trong một giờ giảng của phân môn Làm văn.
- Nâng cao ý thức tự học ở mỗi giáo viên. Đây là một việc làm hết sức cần
thiết của mỗi giáo viên, bởi lẽ không có cách bồi dỡng nào có thể đem lại hiệu
Sáng kiến kinh nghiệm Trang 5
quả nh cách bồi dỡng này. Song để có thể kiểm tra, giám sát đợc việc làm này thì
phơng tiện duy nhất có thể thấy đợc là thông qua Sổ tích luỹ chuyên môn của cá
nhân mỗi giáo viên. Chuyên môn nhà trờng cùng Tổ trởng chuyên môn phải kiểm
tra định kỳ hàng tuần, hàng tháng để chấn chỉnh kịp thời ý thức tự học, tự rèn của
giáo viên.
- Tăng cờng công tác dự giờ thăm lớp: để đẩy mạnh công tác này mỗi giáo
viên đều phải có tính tự giác cao, nhất là với các giáo viên trẻ. ít nhất trong một
học kỳ họ cần phải dự khoảng 5 - 10 tiết ở phân môn Làm văn.
2)Thực trạng tình hình học tập của học sinh:
a) Thái độ học tập của học sinh:
Phần lớn các em học sinh dân tộc ít ngời khi đợc hỏi tới thái độ cá nhân khi
học tập phân môn Làm văn đều có một câu trả lời chung là Chán. Chúng tôi đã
tiến hành một cuộc khảo sát thực tế về thái độ học tập của học sinh đối với phân
môn Làm văn và thu đợc kết quả nh sau:
Stt Thái độ học tập Số lợng Tỷ lệ Ghi chú
01 Rất thích 05 5 %
02 Thích 17 17 %
03 Không thích 78 78 %
Tổng cộng
100 100 %
Nh vậy qua những con số trên đã phần nào nói lên đợc thực trạng của vấn
đề học văn ở trờng THCS nói chung và với phân môn Làm văn nói riêng ở đối t-

Điểm 1-2 Điểm 3-4
Điểm 5-6
SL % SL %
SL %
01 KSCL đầu năm 100 81 81 15 15 04 04
02 KSCL giữa HK I 100 68 68 19 19 03 03
03 Kiểm tra học kỳ II 100 56 56 38 38 06 06
04 KSCL giữa HK II 100 54 54 37 37 09 09
05 Thi Tốt nghiệp 100 48 48 39 39 13 13
Nh vậy qua những con số trên đã phản ánh phần nào bức tranh về chất l-
ợng học tập của phân môn Làm văn của học sinh DTIN ở vùng khó khăn. Thực tế
trong quá trình giảng dạy chúng tôi còn bắt gặp không ít những chuyện buồn. Ví
nh trong một lần tôi đa ra bài viết Tập làm văn 02 tiết ở Lớp 6A-Trờng THCS
Ngọc Wang nh sau: Em hãy tởng tợng để kể lại cuộc trò chuyện của em với
chiếc bàn học, sau 90 phút làm bài của các em những tởng tôi sẽ đợc đọc hàng
loạt những dòng chữ của trí tởng tợng của các em qua một đề văn hết sức thú vị
này, nào ngờ tôi chỉ nhận đợc ở các em một sự bất ngờ về trí tởng tợng. Đa số
các bài viết chỉ để cho có chữ, thậm chí có bài chỉ vẻn vẹn một dòng chữ duy
nhất: Cái bàn không biết nói nên em không thể trò chuyện với nó đợcMột sự
thật đến nỗi tôi không thể nào tởng tợng ra đợc mặc dù trí tởng tợng của tôi cũng
khá phong phú!
c) Một số lỗi thờng gặp:
Qua những giờ chấm và trả bài làm văn cho học sinh DTIN bậc THCS,
chúng tôi thờng nhận thấy một số lỗi phổ biến nh sau:
*Lỗi chính tả:
Đây là lỗi rất phổ biến trong các bài viết của học sinh, hầu nh ở bài viết
nào giáo viên cũng có thể bắt gặp. Tình trạng từ ngữ thiếu dấu, thừa dấu là rất
nhiều, có thể liệt kê ra hàng loạt những đoạn văn, bài văn mắc phải lỗi nh thế.
Sau đây là một đoạn văn của em A Tý- học sinh lớp 9A trong bài kiểm tra học kỳ
I, năm học 2004-2005, môn Ngữ văn nh sau: môi lân chù tôi về tham tôi là

* Lỗi bố cục:
Thông thờng một bài viết Tập làm văn đợc bố cục theo ba phần rõ ràng là:
Mở bài, Thân bài, kết luận. ở mỗi phần đều có nhiệm vụ riêng và đã đợc chỉ rõ
trong các dạng bài học về lý thuyết. Song đối với các em học sinh DTIN thờng
rất hay mắc phải lỗi này. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do các em đã
quá xem nhẹ lý thuyết nên khi thực hành thờng không biết mỗi phần cần viết
những gì, viết chừng nào là đủ. Và rồi cả một bài làm văn các em thờng gộp
chung một phần để khỏi sai (theo suy nghĩ của các em). đây cũng là hiện tợng
đáng báo động trong khi thực hành viết bài của các em hoặc sinh DTIN.
* Lỗi nhận dạng sai kiểu bài:
Sáng kiến kinh nghiệm Trang 8
Kiểu bài làm văn đợc thể hiện trong ngôn ngữ của mỗi đề bài. Đối với học
sinh thông thờng đều có thể nhận biết đợc kiểu bài sau thao tác đọc và tìm hiểu
đề. Song điều đó chỉ nhanh chóng và chính xác với dạng đề nổi còn với dạng đề
mang tính tổng hợp hoặc đề chìm thì vấn đề khá nan giải, bởi lẽ các ngôn từ xuất
hiện trong đề bài thờng ngắn gọn và súc tích. Thờng các em học sinh DTIN chỉ
xác định đợc kiểu bài dựa vào những từ ngữ mang tính chất cụ thể, ví dụ nh:
Em hãy miêu tả quang cảnh trờng em hoặc Em hãy phát biểu cảm nghĩ của em
về. còn các dạng đề Suy nghĩ từ câu ca dao hay Loài hoa em yêu thích
thì các em rất khó xác định đợc kiểu bài. Từ chỗ xác định sai kiểu bài dẫn
đến tình trạng nhầm lẫn giữa các thể loại. Nguyên nhân của tình trạng này là do
các em rất lời tham khảo các dạng đề bài trong kiểu bài đợc học. Mặt khác, cũng
lại một lần nữa ta lại đề cập tới vốn ngôn ngữ phổ thông nghèo nàn của các em.
d) Một số giải pháp nhằm sửa chữa lỗi thờng gặp trong bài viết làm văn
của học sinh:
* Đối với lỗi chính tả:
để khắc phục hiện tợng viết sai chính tả trong các bài viết của học sinh,
theo tôi ngời giáo viên cần phải có sự kiên trì trong quá trình giảng dạy. Trớc hết
cần phải cho học sinh thấy đợc sự cần thiết phải viết (nói) đúng chính tả, bởi lẽ
có nh thế đối tợng giao tiếp mới có thể hiểu đợc nội dung chúng ta cần truyền

số giáo viên chủ quan, xem nhẹ nên các lỗi sai ở học sinh ngày càng trầm trọng
hơn. (Chúng tôi sẽ trình bày chi tiết quy trình của tiết trả bài rút ra từ kinh
nghiệm thực tiễn trong quá trình giảng dạy ở phần 2 của đề tài này).
Mặt khác, trong các giờ giảng phân môn Tiếng Việt ngời giáo viên cũng
cần phải thờng xuyên củng cố lại kiến thức mà các em đã học ở các lớp dới, nhất
là các kiến thức liên quan đến thành phần câu.
Để khắc phục tình trạng học sinh không biết hoặc cha biết sử dụng từ ngữ
thích hợp trong bài viết thì việc động viên, khuyến khích các em trau dồi ngôn
ngữ tiếng Việt là điều hết sức cần thiết. Mặt khác, giáo viên cần tạo điều kiện cho
các em tiếp xúc với các bài làm văn mang tính chất mẫu mực thông qua các buổi
học phụ đạo.
* Đối với lỗi diễn đạt:
Để khắc phục lỗi diễn đạt trong bài viết của học sinh đòi hỏi ngời giáo
viên cần phải kết hợp các biện pháp sửa chữa lỗi. Song song với việc làm này thì
cần cho các em thực hành kỹ năng viết càng nhiều càng tốt. Trong quá trình rèn
luyện kỹ năng này chúng ta không nên ôm đồm những vấn đề lớn mà hẽy bắt đầu
từ những vấn đề nhỏ nhất. Ví dụ trong một tiết phụ đạo chúng ta chỉ yêu cầu học
sinh viết cho đợc một đoạn hay một phần của một đề bài văn, sau đó xoáy sâu
vào chỗ đợc và cha đợc để học sinh sửa chữa. Thông qua các thao tác này sẽ giúp
các em dần hình thành kỹ năng diễn đạt. Cần khen thởng, biểu dơng kịp thời
những câu văn, đoạn văn hay của học sinh. Nói tóm lại, đối với đối tợng học sinh
DTIN trong quá trình sửa lỗi chúng ta hãy thực hiện cho đúng phơng châm ma
dầm thấm lâu.
* đối với lỗi bố cục:
Với kiểu lỗi này thì để khắc phục đợc trớc hết giáo viên cần phải kiểm tra
chặt chẽ việc học thuộc lòng dàn bài chung của từng kiểu bài ở học sinh. Bởi lẽ
khi các em nắm vững đợc nhiệm vụ cụ thể của từng phần trong đề bài sẽ giúp ích
cho việc định hớng trớc khi thực hành bài viết. trong việc này thậm chí có thể sử
Sáng kiến kinh nghiệm Trang 10
dụng hình thức chép phạt đối với học sinh cha thuộc hoặc cha nắm vững với mục

giáo viên cần phải biết chắt lọc nội dung ghi bảng sao cho ngắn gọn và súc tích
nhất, đặc biệt cần giành nhiều thời gian cho phần khắc sâu kiến thức ở phần ghi
nhớ. Và để làm đợc điều đó, một dụng cụ không thể thiếu là bảng phụ có chép
sẵn nội dung phần ghi nhớ. Phơng pháp trực quan sẽ phát huy tác dụng của việc
truyền thụ kiến thức. Kinh nghiệm của bản thân cho thấy, ở những tiết có sử dụng
đddh trực quan sẽ giúp học sinh nắm bài chắc hơn. Điều chú ý khi sử dụng đồ
dùng này là ngời GV cần phải cho học sinh nhắc đi, nhắc lại càng nhiều lần càng
Sáng kiến kinh nghiệm Trang 11
tốt (trong thời gian cho phép) và yêu cầu học sinh học thuộc lòng những kiến
thức này ngay sau mỗi tiết học. Sau đó giáo viên sẽ kiểm tra trong suốt quá trình
học kiểu bài, có hình thức khen, chê rõ ràng đối với học sinh về việc tiếp thu kiến
thức.
3.2) Đối với tiết luyện tập:
Mục tiêu của tiết luyện tập là củng cố kiến thức về kiểu bài và rèn luyện
cho học sinh các thao tác: tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn bài và viết bài. Do vậy,
những tiết luyện tập cũng chiếm vị trí hết sức quan trọng. Trong phân phối chơng
trình, các tiết luyện tập thờng đợc u ái từ 2-3 tiết, thậm chí có kiểu bài đến 4 tiết
và thờng nằm dới các tiêu đề nh: Đề văn và cách làm văn , Luyện tập
cách làm, Cách lập ý. Điểm chung của các tiết học này là học sinh thờng
đợc thực hành trên một đề bài cho trớc, sau đó dới sự hớng dẫn của giáo viên các
em lần lợt đi các bớc: Tìm hiểu đề, tìm ý > Lập dàn bài > Tập viết đoạn
> Tập viết bài. Đối với đối tợng học sinh DTIN trong các tiết học này, khi ra
đề bài ngời giáo viên cần phải biết lựa chọn những đề tài gần gũi với cuộc sống
của các em, tránh những đề bài mà các em cha hiểu tờng tận hay những vấn đề
cha bao giờ các em bắt gặp.Ví dụ chúng ta không thể yêu cầu các em miêu tả lại
không khí nhộn nhịp của phố thị vào giờ tan tầm đợc mà thay vào đó nên yêu
cầu các em miêu tả cảnh làng quê vào một buổi chiều thì tính khả thi của bài
tập làm văn sẽ đợc nâng cao. Để thực hiện tốt các giờ học này, ngời giáo viên cần
phải tổ chức cho học sinh các hoạt động thảo luận, trao đổi nhóm cặp để các em
có điều kiện học hỏi lẫn nhau, đặc biệt là trong các thao tác tìm ý, sắp xếp ý và

ở hoạt động luyện nói trên lớp ngời giáo viên phải tạo cơ hội cho nhiều
học sinh nói càng tốt. bản tính của học sinh DTIN là rụt rè, nhút nhát và tự ti do
vậy giáo viên phải luôn luôn động viên các em trong quá trình nói. Điều cần lu ý
là trong quá trình nói của học sinh, giáo viên nên để học sinh nói thông suốt và
ghi nhớ những lỗi nói học sinh mắc phải và điều chỉnh ngay sau khi học sinh
hoàn thành bài nói của mình, không nên cắt ngang trong quá trình nói của học
sinh.
3.4) Chấm văn - Trả bài:
Nh chúng ta đã biết, công việc chấm bài văn rất nhọc nhằn, nhất là với đối
tợng học sinh DTIN nhng vì mong mỏi và phấn khởi trớc sự tiến bộ của học trò
mà tôi quên mệt. Sau hơn năm năm làm việc này tôi có thể tổng kết cách làm
của tôi nh sau:
Trong mỗi bài viết, tôi yêu cầu học sinh để lề rộng bằng 1/3 trang giấy để
cho tôi khi chấm bài có thể chỉ ra và hớng dẫn cách chữa cho từng lỗi sai và ghi
những cái tốt, cái hay của các em để phát huy.
Khi chấm bài, tôi đều soạn rõ một đáp án nh kiểu chấm thi. Mỗi bài văn
tôi đều chấm hai lần. Chấm xong mỗi bài tôi đều ghi tóm tắt nhận xét vào giấy
chấm bài
Lần thứ nhất: tôi chú trọng chỉ ra những lỗi sai, cái đúng bằng những kí
hiệu riêng của mình. ít khi tôi chữa trực tiếp nhng tôi yêu cầu các em sau khi
nhận lại bài phải tự sửa chữa lỗi mà thầy đã chỉ. Em nào không thể tự chữa, sẽ
phải tranh thủ hỏi thầy và hỏi bạn, hỏi anh chị.
Chỉ ra cái sai của học sinh thì ai cũng làm. Nhng việc nêu ra cái đúng của
các em thì nhiều đồng nghiệp còn tiết kiệm quá. Riêng tôi rất chú trọng tìm ra
cái hay, cái tốt, dù rất nhỏ, nhất là ở học sinh yếu, trung bình. Làm nh vậy, các
em sẽ tự tin hơn và tích cực vơn lên hơn.
Sáng kiến kinh nghiệm Trang 13
Lần thứ hai: Tôi đọc nhanh bài viết của học sinh, có thể phát hiện đúng sai
thêm, sau đó đối chiếu lần một, đối chiếu đáp án, với tình hình chung mà quyết
định nhận xét và cho điểm. Làm nh vậy sẽ nâng cao đợc độ công bằng về điểm

vấn đề dạy và học phân môn làm văn và đa ra một số giải pháp khắc phục vấn đề
trên, đồng thời thông qua việc áp dụng vào thực tế trong quá trình giảng dạy đối
với đối tợng học sinh DTIN ở hai trờng THCS xã Ngọc Wang và Ngọc Réo,
chúng tôi mạnh dạn đa ra một số thao tác nh sau:
Sáng kiến kinh nghiệm Trang 14
1.Thao tác phân tích mẫu:
Để thực hiện tốt thao tác này trong quá trình giảng dạy đòi hỏi ngời giáo
viên phải chịu khó su tầm những bài viết mang tính mẫu mực cho các kiểu bài.
sau đó giành nhiều thời gian để phổ biến và phân tích cho các em thấy đợc cái
hay, cái mẫu mực trong từng bài viết. Đặc biệt với những bài văn do chính các
học sinh đồng niên viết thì khi đọc xong ngời giáo viên cần phải chốt lại để kích
thích tính cạnh tranh và học sinh sẽ tự đặt cho mình câu hỏi Tại sao bạn lại
viết hay nh vậy? hoặc mình cũng phải cố gắng viết cho bằng bạn! Từ đó
các em sẽ học tập đợc rất nhiều từ bố cục, cách hành văn, mạch cảm xúc trong
từng bài văn mẫu. Thứ đến, trong các giờ giảng dạy văn bản giáo viên cần khai
thác tốt những chuẩn mực mà văn bản đa ra, bởi lẽ hệ thống chơng trình đợc xây
dựng trên quan điểm tích hợp. Thực tế giảng dạy cho thấy, phần lớn các giáo viên
thờng chỉ đi vào những vấn đề cốt yếu về mặt nội dung chứ ít khi chú ý về mặt
hình thức của một văn bản do vậy học sinh chỉ nắm đợc cái cốt chứ không nắm
đợc những gì làm nên cái cốt ấy. Ngoài ra, để học sinh DTIN thực hành tốt những
kiểu bài đợc học giáo viên bộ môn Ngữ văn cần tăng cờng công tác phụ đạo cho
toàn bộ học sinh.
2. Phơng pháp thực hành:
Đây là phơng pháp chủ đạo trong quá trình dạy & học của phân môn Làm
văn, do vậy ngoài các tiết thực hành ở trên lớp, giáo viên cần cho học sinh thực
hành kỹ năng viết trong các buổi phụ đạo. Một điều cần lu ý khi thực hiện phơng
pháp này là nên đi từng bớc một, tránh ôm đồm dẫn tới hiện tợng chán nản ở học
sinh. Đôi khi chỉ trong một tiết phụ đạo giáo viên chỉ nên yêu cầu học sinh hoàn
thiện một phần nhỏ trong một yêu cầu lớn của một đề làm văn. Đặc biệt để thực
hành tốt giáo viên cần cho học sinh thực hành theo nhóm với cùng một nội dung

hoạt động này mong rằng BGH, Tổ bộ môn cần tạo điều kiện hết mình để hoạt
động ngoại khoá đợc thực hiện càng nhiều càng tốt.
5. Biện pháp giao tiếp:
Biện pháp này ngời giáo viên nói chung và giáo viên trực tiếp giảng dạy
môn Ngữ văn nói riêng cần phải hết sức chú trọng. Muốn thực hiện tốt biện pháp
này, ngời giáo viên cần phải tranh thủ mọi lúc, mọi nơi có thể để tăng cờng giao
tiếp cùng các em nhằm giúp các em có thêm vốn ngôn ngữ phổ thông, đồng thời
giải đáp ngay những thắc mắc của bản thân các em xung quanh những vốn từ liên
quan đến môn học.
V.kết quả vận dụng các biện pháp:
Từ việc nghiên cứu các vấn đề đã đề cập ở trên và qua việc áp dụng những
phơng pháp, biện pháp trong quá trình dạy - học phân môn Làm văn cho đối tợng
học sinh DTIN ở vùng khó khăn chúng tôi đã thu đợc một số kết quả ban đầu nh
sau:
1)Về thái độ học tập phân môn:
Qua khảo sát thực tế 36 học sinh lớp 7A trờng Trung học cơ sở Ngọc Wang
về thái độ học tập phân môn Làm văn, chúng tôi thu đợc kết quả qua bảng tổng
hợp sau:
Sáng kiến kinh nghiệm Trang 16
Stt Thái độ học tập Số lợng Tỷ lệ Ghi chú
01 Rất thích 11 30,6%
02 Thích 16 44,4%
03 Không thích 09 25,0%
Tổng cộng
36 100 %
Nh vậy, qua bảng tổng hợp trên chúng ta có thể thấy không phải toàn bộ
học sinh DTIN ở vùng khó khăn là không thích học văn mà lỗi chủ yếu là do các
giáo viên trẻ không biết khai thác triệt để thế mạnh của các em và cha động viên
kịp thời khi các em tiến bộ. và muốn nâng cao chất lợng học tập bộ môn rất cần
sự linh hoạt trong việc áp dụng các phơng pháp giảng dạy của quý thầy (cô) giáo!

2,8
2 Số 2 36 8
22,2
12
33,3
15
41,7
1
2,8
3 Số 3 36 6
16,7
10
27,8
17
47,2
3
8,3
4 Số 4 36 5
13,8
10
27,8
14
38,9
7
19,4
5 Số 5 36 2
5,5
9
25,0
15

dung sửa chữa trong các giờ trả bài viết. Những lỗi chính tả thờng gặp trong các
bài làm đang tha dần, khiến chúng tôi càng có cái nhìn tích cực về quá trình sửa
lỗi của các em.
b)Lỗi sử dụng sai câu, từ:
Trong các tiết phụ đạo chúng tôi đã dành khá nhiều thời gian để ôn tập và
hệ thống toàn bộ kiến thức về phân môn Tiếng việt cho các em. Việc làm này đã
có tác dụng rất lớn đến quá trình tạo lập văn bản. Những câu nói và viết của các
em đã có đủ các thành phần chính; những dấu câu đã đợc trả về đúng vị trí mà nó
cần đợc nằm, do vậy thầy (cô) giáo đã không bị mệt đến đứt hơi nh trớc đây.
c) Đối với lỗi diễn đạt:
Trong các bài viết văn cũng nh trong những giờ luyện nói hoặc qua những
ý kiến phát biểu xây dựng bài của các em trong từng tiết học chúng tôi đã mừng
trớc sự tiến bộ về cách diễn đạt của các em. Nếu nh trớc đây, mặc dù hiểu ý song
các em không biết cách diễn đạt thì nay phần lớn học sinh đã mạnh dạn diễn đạt
một cách khá suôn sẻ, thậm chí có nhiều em còn có cách diễn đạt khá văn
vẻ.Ví dụ khi miêu tả lại dòng suối của quê hơng em Y Hơng- học sinh lớp 6A đã
viết: Con suối gần nhà em có một cái tên gọi thật trìu mến - Suối Hiền. Quả
đúng nh vậy, con suối quanh năm có dòng nớc trong vắt nó đã mang lại rất nhiều
những niềm vui cho bà con. Vào những ngày tiết trời nóng nực con suối đã góp
phần làm ôn hòa khí hậu khi em ngâm mình xuống Qua việc cung cấp một số
tài liệu tham khảo, nhiều em đã ghi chép một cách khá cẩn trọng và học thuộc
lòng những câu văn, đoạn văn hay của các tác giả. Chính điều này đã góp phần
nâng cao dần chất lợng bài viết của các em.
d) đối với lỗi bố cục:
Một điều dễ nhận ra sự tiến bộ của các em về việc khắc phục lỗi bố cục là
ở tất cả các bài viết cho dù ngắn hay dài các em đều có sự phân chia ba phần Mở
bài, thân bài, kết bài rõ ràng. Nếu nh trớc đây các em còn hiểu mờ nhạt về việc
phân chia bố cục thì giờ đây qua các giờ học phụ đạo các em đã thuộc lòng
nhiệm vụ cụ thể của các phần trong các kiểu bài.
e)Đối với lỗi nhận dạng sai kiểu bài:

Và đặc biệt với hoạt động ngoại khoá Ngữ văn thì BGH các trờng học cần quan
tâm, tạo điều kiện để mỗi năm học có từ 3-4 buổi dành riêng cho hoạt động này.
Cuối cùng là công tác duy trì sĩ số cần phải đợc đẩy mạnh để đảm bảo tính hệ
thống về mặt kiến thức bộ môn, phân môn của các em học sinh.
Ngọc Wang, ngày tháng 3 năm 2006
Ngời viết
Sáng kiến kinh nghiệm Trang 19
NguyÔn Quang ThiÖn
Phô lôc
C¸c tµi liÖu tham kh¶o:
-
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm Trang 20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status