ảnh hưởng của độ kiềm lên sự tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng (litopenaeus vannamei) nuôi thâm canh trong bể ở độ mặn thấp - Pdf 30

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRẦN PHƯƠNG TÙNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ KIỀM LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG
CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei)
NUÔI THÂM CANH TRONG BỂ Ở ĐỘ MẶN THẤP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2014

2014 3

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ KIỀM LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG
CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei)
NUÔI THÂM CANH TRONG BỂ Ở ĐỘ MẶN THẤP

Trần Phương Tùng và Lý Văn KhánhAbstract
The study of effect of alkalinity on the growth of white leg shrimp (Litopenaeus
vannamei) cultured intensive in low salinity tanks aimed to determine optimal alkalinity
concentration for the growth and development of while leg shrimp in low salinity 2ppt.
The experiment included 5 treatments with 40, 80, 120, 160, and 200mg CaCO
3
/L,
respectively, each treatment was repeated 3 times. Shrimp ware fed on 5times/day by
commercial feed for shrimp with 35% of protein. During the culture, exchange 10-20%
of water every 15days of each tank. The results of experiment after 2 cultured months
shown that the survival rate of all treatments were relatively low, fluctuated between
50.3% and 66%. On the other hand, the growth was respectively good with total length
from 8.89cm to 9.79cm, attained a weight from 5.13g to 6.80g (suitable range of white
leg shrimp). Therefore,white leg shrimp grow and develop best in alkalinities
concentration from 40-200mg CaCO3/L with low salinity 2ppt.
Key words: Litopenaeus vannamei, white leg shrimp, alkalinity, low salinity.

Tóm tắt

Việc nâng cao hiệu quả của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng đang là vấn đề cấp thiết đang
được đặt ra, và mở rộng vùng nuôi sang những khu vực nhiễm mặn, hay xa hơn là
4

những vùng nước ngọt là hướng đầu tư đáng suy ngẫm trong tương lai. Tuy nhiên vấn
đề mở rộng vùng nuôi sang những khu vực có độ mặn thấp sẽ đối mặt với thách thức
lớn khi độ kiềm của nước cũng sẽ rất thấp. Độ kiềm là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến sự phát triển cũng như tỉ lệ sống của tôm thẻ chân trắng. Đó cũng là nguyên nhân
chính gây ra hiện tượng mềm vỏ, một trong những nguyên nhân làm cho tỉ lệ sống giảm
đáng kể. Bên cạnh đó sự sụt giảm độ kiềm cũng ảnh hưởng đến quá trình lột xác của
tôm - nguyên nhân gây ra hiện tượng tôm chậm lớn và hao hụt đáng kể. Những vấn đề
nêu trên chính là rào cản lớn nhất khiến người nuôi đắn đo trong việc mở rộng vùng
nuôi sang những khu vực độ mặn thấp, nước ngọt. Chính vì thế đề tài “Ảnh hưởng của
độ kiềm lên sự tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) nuôi
thâm canh trong bể ở độ mặn thấp” được thực hiện để tìm ra độ kiềm thích hợp nhằm
nâng cao hiệu quả của mô hình nuôi thẻ chân trắng ở độ mặn thấp đạt tối đa, đồng thời
giải quyết tốt những khó khăn về độ kiềm.

2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức độ kiềm khác nhau
gồm 40, 80, 120, 160, và 200 mg CaCO
3
/L và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần
(nghiệm thức 40 mg/l lặp lại 2 lần). Các bể ương có thể tích 0,5 m
3
/bể và được sục khí
liên tục. Mật độ nuôi 100 con/bể (200 con/m
3
) và được nuôi ở độ mặn 2‰. Thức ăn sử

𝐷𝑊𝐺 =
Wc−Wđ
Tc−Tđ

Tốc độ tăng trưởng khối lượng tương đối (%/ngày):
SGR =
Ln
(
Wc
)
− Ln(Wđ)
Tc−Tđ
x 100
Tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối (cm/ngày):
DLG =
Lc−Lđ
Tc−Tđ

Tốc độ tăng trưởng chiều dài tương đối (%ngày):
SLR (%) =
Ln
(
Lc
)
− Ln(Lđ)
Tc−Tđ
x 100
Trong đó:
5


3
)
2.3. Phân tích và xử lí số liệu
Các số liệu thu thập được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, lớn nhất, nhỏ nhất
và phân tích thống kê (One-way ANOVA với phép thử DUNCAN) để tìm ra sự khác
biệt giữa các nghiệm thức ở mức ý nghĩa p<0,05 bằng các phần mềm Excel của office
phiên bản 2003 và SPSS phiên bản 13.0.

3. Kết quả và thảo luận
3.1. Yếu tố môi trường nuôi
Nhiệt độ trong suốt quá trình nuôi không có sự chênh lệch lớn giữa các nghiệm thức,
dao động trong khoảng từ 27,4-28,9
o
C. Theo Vũ Thế Trụ (2003), nhiệt độ chấp nhận
được với tôm thẻ chân trắng nằm trong khoảng 23-30
o
C. Cũng theo Boyd và ctv (2002),
chênh lệch nhiệt độ trong ngày không quá 5
o
C là tối ưu cho nuôi tôm. Vì vậy có thể
thấy, nhiệt độ luôn ở mức thích hợp cho quá trình phát triển của tôm.
pH thấp nhất vào buổi sáng là 7,18; cao nhất là 8,69, còn vào buổi chiều pH thấp nhất là
6,77, cao nhất là 9,02. pH của nước có sự thay đổi giữa buổi sáng và buổi chiều nhưng
tương đối ổn định. Theo Brock and Main (1994), khoảng pH thích hợp cho nuôi tôm thẻ
chân trắng là 7,0-9,0, nên các giá trị pH trong thời gian nuôi gần như nằm trong khoảng
thích hợp.
Bảng 1: Các chỉ tiêu môi trường nước trong quá trình nuôi
Nghiệm
thức
(CaCO

28,8±0,13
8,10±0,24
8,37±0,36
2,33±1,83
0,29±0,01
160
27,4±0,50
28,7±0,08
8,30±0,27
8,60±0,28
1,77±1,88
0,33±0,08
200
27,4±0,55
28,8±0,13
8,40±0,31
8,57±0,21
1,63±1,85
0,25±0,04
Trong suốt quá trình nuôi, nồng độ nitrite được quản lí khá tốt, nằm trong khoảng từ
1,60-2,33 mg/L. Ở tuần nuôi thứ 3 thì lượng NO
2
-
ở các bể khá cao, một số bể khoảng 4
mg/L, tuy nhiên đã được xử lí bằng cách thay nước. Nhìn chung, trong thời gian thí
nghiệm, nồng độ nitrite trong bể được quản lí tốt, không ảnh hưởng nhiều đến sự sinh
trưởng của tôm. Nitrite trong ao quá cao có khả năng gây độc khi có khả năng tạo thành
chất methemoglobin và giảm sự chuyển oxygen tới tế bào.
Hàm lượng ammonia trong các bể được quản lí tốt trong quá trình nuôi dao đọng trong
khoảng 0,25-0,35 mg/L không có tác động đến tôm nuôi. Theo Nguyễn Thanh Phương

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa nghiệm thức 40 và 200 mg CaCO
3
/L.
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tương đối về chiều dài của tôm thẻ chân trắng
sau 2 tháng nuôi.
Nghiệm thức
(mg CaCO
3
/L)
Tốc độ tăng trưởng tuyệt
đối (cm/ngày)
Tốc độ tăng trưởng tương đối
(%/ngày)
40
0,11 ± 0,01
a
2,26 ± 0,12
a

80
0,12 ± 0,01
a
2,40 ± 0,07
ab

120
0,12 ± 0,01
a

2,42 ± 0,09

40 mg CaCO3/L
80 mg CaCO3/L
120 mg CaCO3/L
160 mg CaCO3/L
200 mg CaCO3/L
a
a
a
a
aa
b
ab
ab
ab
7

3.3. Tăng trưởng về khối lượng
3.3.1. Khối lượng của tôm qua các tháng nuôi
Tôm trước khi thả có kích thước tương đối đồng đều, do đó khối lượng của tôm được bố
trí ban đầu khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p>0,05). Sau 1
tháng nuôi, khối lượng của tôm tương đối đồng đều và có sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê (p>0,05) giữa các nghiệm thức, nghiệm thức có khối lượng trung bình lớn nhất
là nghiệm thức 200 mg CaCO
3
/L (1,51 g), thấp nhất là nghiệm thức 80 mg CaCO
3
/L
(1,17 g). Sau 2 tháng các nghiệm thức có sự tăng nhanh về khối lượng. Khối lượng lớn
nhất ở nghiệm thức 120 mg CaCO
3

40
0,08 ± 0,01
a
7,67 ± 0,24
a

80
0,10 ± 0,01
ab

8,01 ± 0,17
ab

120
0,11 ± 0,02
b

8,09 ± 0,23
b

160
0,10 ± 0,00
ab

8,03 ± 0,06
ab

200
0,11 ± 0,01
b

120 mg CaCO3/L
160 mg CaCO3/L
200 mg CaCO3/L
b
ab
b
ab
a
b
a
abaab
8

liệu thu được cho thấy mức tăng trưởng ở các nghiệm thức qua thời gian thí nghiệm là
rất tốt, đặc biệt ở các nghiệm thức có độ kiềm từ 80 mg CaCO
3
/L trở lên.
Tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối và tương đối nhanh nhất ở nghiệm thức 120 và
200 mg CaCO
3
/L và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với nghiệm thức
40 mg CaCO
3
/L (chỉ đạt 7,67 %/ngày), nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê
(p>0,05) so với nghiệm thức 80 và 160 mg CaCO
3
/L.
Qua kết quả cho ta thấy, độ kiềm có tác động đến sự tăng trưởng của tôm, ở các độ kiềm
từ 120-200 mg CaCO
3

. Thấp nhất là ở nghiệm thức 80 mg
CaCO
3
/L, cao nhất ở nghiệm thức 120 mg CaCO
3
/L đạt 712 g/m
3
. Tuy nhiên, giữa các
nghiệm thức có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Hệ số phân đàn dùng để đánh giá mức độ phân đàn của tôm về khối lượng khi thu
hoạch. Hệ số phân đàn càng cao thì mức độ phân đàn càng lớn. Xảy ra hiện tượng phân
đàn trong quá trình nuôi có thể do lượng thức ăn chưa đáp ứng nhu cầu của tôm và
trong quá trình cho ăn xảy ra hiện tượng tranh giành thức ăn ở tôm nuôi.
0
10
20
30
40
50
60
70
40
80
120
160
200
Tỷ lệ sống (%)

712 ± 218
a

41,7 ± 10,64
a

160
695 ± 94,0
a

44,3 ± 2,98
ab

200
694 ± 39,2
a

46,3 ± 0,84
ab

Các giá trị trên cùng một cột có ký tự giống nhau(a, b)thể hiện sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P
>0,05).
Bảng 4 cho thấy hệ số phân cỡ của tôm thấp nhất ở nghiệm thức 120 mg CaCO
3
/L khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với nghiệm thức 40 mg CaCO
3
/L nhưng khác biệt
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) so với các nghiệm thức còn lại. Điều này cho thấy
khối lượng tôm ở nghiệm thức 120 mg CaCO

Thử nghiệm nuôi tôm thẻ chân trắng ở độ mặn 2‰ ở độ kiềm 120-160 CaCO
3
/L ngoài
ao đất

Tài liệu tham khảo
Araneda M., Perez E.P. and Gasca-Leyya E., 2008. White shrimp Penaeus vannamei
culture in freshwater at three densities: Condition state based on length and
weight. Aquaculture 283, 13–18.
Boyd, C. E and Green, B,W, (2002). Coastal water quality mornitering in shrimp Areas:
An example from honduras. Resport of the World Bank, NACA, WWF and FAO
consortium program in shrimp farming and the environment. World progess for
public discussion: 29p.
Brock J.A. and Main K. L., (1994). A guide to common problems and diseases of
cultured Penaeus vannamei. The World Aquaculture Society – The Oceanic
Institute. 242p.
Coman G., S. Arnold, M.J. Jones, N.P. Preston (2007). Effects of rearing densities on
growth, survival and reproductive performance of domesticated Penaeus
monodon. Aquaculture 264(1): 175-183.
Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004. Kĩ thuật sản xuất giống và nuôi giáp
xác. Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ.
Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2003. Kĩ thuật nuôi tôm he chân trắng. Nhà xuất bản
Nông Nghiệp Hà Nội. 105 trang.
Vũ Thế Trụ, 2003. Cải tiến kĩ thuật nuôi tôm tại Việt Nam. Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Hà Nội. 203 trang.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status