ảnh hưởng của khoáng đa lượng pkmg lên chu kỳ lột xác của tôm thẻ chân trắng (litopenaeus vannamei) ở các giai đoạn khác nhau khi nuôi trong môi trường có độ mặn thấp - Pdf 30


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN

BÙI ĐOÀN LUÂN ẢNH HƯỞNG CỦA KHOÁNG ĐA LƯỢNG P-K-Mg LÊN
CHU KỲ LỘT XÁC CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
(Litopenaeus vannamei) Ở CÁC GIAI ĐOẠN KHÁC NHAU
KHI NUÔI TRONG MÔI TRƯỜNG CÓ ĐỘ MẶN THẤP
LUẬN VẶN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
HUỲNH TRƯỜNG GIANG

12/2013
i
LỜI CẢM TẠ

Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu Trường Đại học
Cần Thơ, Ban chủ nhiệm Khoa thủy sản; Bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, các
thầy cô đã rất nhiệt tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình

5-10. Mức khoáng 10-10-20 cho tăng trưởng chiều dài tốt nhất cao hơn 3 mức
còn lại khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05). Tăng trọng về khối lượng, cao
nhất ở mức 10-10-20 tuy nhiên chỉ có WG cao nhất khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p <0,05) với 3 nghiệm thức thí nghiệm. Các mức hàm lượng khoáng bổ sung
chưa có tác dụng rút ngắn chu kì lột xác của tôm, nhưng ở mức bổ sung 20-20-40
có tác dụng nâng cao tỉ lệ lột xác của tôm thẻ chân trắng.
Thí nghiệm cỡ tôm 4,7±0,02 g (chiều dài 8,2±0,15 cm) cho kết quả tương
tự, bổ sung khoáng P-K-Mg thúc đẩy tăng trưởng và tăng trọng của tôm, mức bổ
sung 10-10-20 cho kết quả tốt nhất, tăng trưởng về chiều dài, tăng trưởng tuyệt
đối và tương đối đều cao hơn đối chứng khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05),
đồng thời ở mức khoáng này cũng cho tăng trọng về khối lượng (WG) và tăng
trọng tuyệt đối (DWG) cao hơn đối chứng khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
<0,05). Các mức hàm lượng khoáng bổ sung chưa rút ngắn được chu kì lột xác
và tỉ lệ lột xác của tôm thí nghiệm.
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 vài nét về đặc điểm sinh học của thẻ chân trắng (Litopenaeus Vannamei) 3
2.1.1 Hệ thống phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3

4.1 Ảnh hưởng của khoáng P-K-Mg lên chu kì lột xác của thẻ chân trắng L.
vannamei giai đoạn PL15-PL26 nuôi ở độ mặn 2‰ 25
4.1.1 Các yếu tố môi trường nước 25
4.1.1.1 Nhiệt độ và pH 25
4.1.1.2 TAN, NO
2
-
, PO
4
3-
25
4.1.1.3 Độ kiềm và độ cứng, Ca
2+,
Mg
2+
và tỉ lệ Mg/Ca 26
4.1.2 Chu kì lột xác 27
4.1.3 Tỉ lệ các giai đoạn trong chu kì lột xác 27
4.2 Ảnh hưởng của khoáng P-K-Mg lên sự lột xác của thẻ chân trắng L.
vannamei ở độ mặn 2‰, trong giai đoạn 0,5-1 g 30
4.2.1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 30
4.2.1.1 Nhiệt độ và pH 30
4.2.1.2 TAN, NO
2
-
, PO
4
3-
30
4.2.1.3 Độ kiềm và độ cứng, Ca

4.3.2 Chu kỳ lột xác 41
4.3.3 Tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng 42
4.3.3.1 Tăng trưởng về chiều dài sau khi lột 42
4.3.3.2 Tăng trưởng chiều dài sau 3 chu kỳ lột 42
4.3.3.3 Tăng trưởng về khối lượng sau khi lột 43
4.3.3.4 Tăng trưởng khối lượng sau 3 chu kỳ lột 44
4.3.4 Tỉ lệ lột xác 45
4.3.5 Sự tăng trưởng tịnh tuyến của khối lượng và chiều dài sau mỗi chu kì
lột xác 46
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 48
5.1 kết luận 48
5.2 Đề xuất 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC 56

vi
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Tôm thẻ chân trắng (FAO, 2012) 3
Hình 3.1: Lồng lưới dùng trong thí nghiệm 20
Hình 3.2: Hệ thống thí nghiệm 20
Hình 3.3: Vị trí chân đuôi quan sát để xác định giai đoạn lột xác 21
Hình 4.1: Tần số dao động các giai đoạn của chu kì xác nghiệm thức đối chứng28
Hình 4.2: Tần số dao động các giai đoạn của chu kì xác nghiệm thức 5-5-10 29
Hình 4.3: Tần số dao động các giai đoạn của chu kì xác nghiệm thức 10-10-20. 29
Hình 4.4: Tần số dao động các giai đoạn của chu kì xác nghiệm thức 20-20-40. 29
Hình 4.5: Biến động tỉ lệ Mg
2+
/Ca
2+
trong thí nghiệm 2 32

Bảng 4.2: Biến động hàm lượng TAN, NO
2
-
, PO
4
3-
trong thí nghiệm 1 26
Bảng 4.3: Một số yếu tố môi trường quan trọng trong thí nghiệm 1 26
Bảng 4.4: Chu kì lột xác (ngày) của tôm thẻ chân trắng giai đoạn PL
15
-PL
25
27
Bảng 4.5: Nhiệt độ và pH sáng chiều giữa 4 nghiệm thức 30
Bảng 4.6: Biến động hàm lượng TAN, NO
2
-
, PO
4
3-
trong thí nghiệm 2 31
Bảng 4.7: Một số yếu tố môi trường quan trọng trong thí nghiệm 2 31
Bảng 4.8: Tăng trưởng về chiều dài của tôm 0,73±0,02 g ở các nghiệm thức 34
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của khoáng bổ sung lên tăng trọng về khối lượng 4
nghiệm thức 36
Bảng 4.10: Nhiệt độ và pH trong thí nghiệm 39
Bảng 4.11: Biến động hàm lượng TAN, NO
2
-
, PO

ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Trong nghề nuôi trồng thủy sản những năm gần đây, Việt Nam và trên thế
giới tình hình nuôi, phát triển và nghiên cứu khoa học về đối tượng tôm thẻ chân
trắng (Litopenaeus vannamei) ngày càng được nhiều quốc qia, tổ chức và các
công ty quan tâm thực hiện. Dù ở nước ta thời gian cho phép thả nuôi đại trà tôm
thẻ chân trắng trên cả nước chỉ mới bắt đầu năm 2008, nhưng tôm thẻ chân trắng
có vai trò vị thế quan trọng trong cơ cấu sản xuất, xuất khẩu tôm của Việt Nam,
góp phần không nhỏ trong việc ổn định nguồn cung cấp nguyên liệu cho chế
biến, duy trì và đẩy mạnh giá trị xuất khẩu tôm nói riêng và kim ngạch xuất khẩu
thủy sản của cả nước nói chung. Theo VASEP, giá trị xuất khẩu của riêng tôm
chân trắng năm 2010 đã đạt 414,6 triệu USD, tăng gấp rưỡi so với năm 2009,
bằng 20% giá trị xuất khẩu tôm nói chung và bằng 8% tổng giá trị xuất khẩu tất
cả các sản phẩm thủy sản; trong 6 tháng đầu năm nay, xuất khẩu tôm chân trắng
đạt 31.014 tấn và 248,4 triệu USD, tăng 37,7% về khối lượng và 72,5% về giá trị
so với cùng kỳ năm 2012.
Thẻ chân trắng được nuôi quanh năm tại nhiều vùng thâm canh của cả
nước, do đặc điểm tôm rộng muối sống trong khoảng độ mặn (0,5-40‰), nhiệt
độ từ 27-30
o
C… Là đối tượng có giá trị kinh tế cao phù hợp với nhiều vùng của
nước ta, bên cạnh những vùng nuôi truyền thống Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc
Trăng,… Việc tôm thẻ chân trắng thích hợp nuôi trong vùng nội địa độ mặn thấp
còn mở ra khả năng nuôi ở những vùng nhiễm mặn, hay vùng có độ mặn thường
xuyên biến động ở mức thấp. Tôm nước lợ mặn nên khi nuôi trong nước có độ
mặn thấp tôm thường tăng trưởng chậm, hay đề kháng thấp với bệnh làm giảm tỉ
lệ sống trong quá trình nuôi.
Thẻ chân trắng tăng trưởng theo hình bậc thang theo chu kì lột xác, sự lột
xác mặc dù chỉ chiếm một tỉ lệ ngắn của toàn thể chu kỳ nuôi, nhưng là thời kỳ
rất quan trọng, và tử vong thì thường cao. Trước sự lột xác tôm phải tích lũy một

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vài nét về đặc điểm sinh học của thẻ chân trắng (Litopenaeus Vannamei)
2.1.1 Hệ thống phân loại
Ngành: Arthropoda
Ngành phụ: Crustacea
Lớp: Malacostraca
Lớp phụ: Eumalacostraca
Bộ: Decapoda
Bộ phụ: Macrura natantia
Họ: Penaedae
Giống: Penaeus
Loài: Litopenaeus vannamei (Boone, 1931)
hay Penaeus vannamei (Boone, 1931)
Tên tiếng Anh: Whiteleg leg shrimp.

Hình 2.1: Tôm thẻ chân trắng (FAO, 2012)
2.1.2 Phân bố
Tôm chân trắng phân bố ở vùng ven bờ Đông Thái Bình Dương, từ Bắc
Mexico đến Peru. Tôm trưởng thành sống ở biển sâu (0-72 m) đáy bùn, trưởng
thành ở biển giai đoạn giống phân bố vùng cửa sông. Hiện nay do việc di nhập
giống nên tôm chân trắng đã được phân bố khá rộng trên thế giới như Trung
Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia và Việt Nam (Trần Ngọc Hải
và Nguyễn Thanh Phương, 2009).
4
2.1.3 Môi trường sống
Tôm chân trắng là loài tôm nhiệt đới, có khả năng thích nghi với giới hạn
rộng về độ mặn và nhiệt độ. Ở vùng biển tự nhiên, tôm thẻ chân trắng thích nghi
nơi vùng đáy bùn, độ sâu khoảng 72 m, có thể sống ở độ mặn 0-50‰, thích hợp
ở độ mặn 20-35‰, và tăng trưởng tốt ở độ mặn khá thấp: 10-15‰, thích hợp
phát triển nuôi trồng thủy sản ở vùng nội địa, pH từ 7-8,4, nhiệt độ: 27-31

Tôm chân trắng có tốc độ tăng trưởng nhanh (cỡ tôm nhỏ hơn 20 g tăng
trưởng 3 g/tuần), chúng lớn nhanh hơn tôm sú ở giai đoạn nhỏ (20 g). Tôm có
tập tính ăn tạp, thành phần thức ăn đa dạng bao gồm thức ăn viên, động vật sống,
phiêu sinh, lab lab Tốc độ tăng trưởng của tôm phụ thuộc vào các yếu tố như:
giai đoạn sinh trưởng, tình trạng sinh lí, điều kiện dinh dưỡng và điều kiện môi
trường sống. Trong điều kiện tự nhiên, từ tôm bột đến khoảng 40 g/con mất
khoảng thời gian 120 ngày, hoặc từ cỡ 0,1 g lớn đến 15 g mất khoảng 90-120
ngày. Trong điều kiện sinh thái tự nhiên, nhiệt độ nước 30 – 32
o
C, độ mặn 20-
40‰ từ tôm bột đến thu hoạch khoảng 180 ngày (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư,
5
2004). Tôm tăng trưởng nhanh hơn trong 60 ngày nuôi đầu, sau đó, mức tăng
trọng giảm dần theo thời gian nuôi. Nhờ đặc tính ăn tạp, bắt mồi khỏe, linh hoạt,
nên tôm chân trắng trong quần đàn có khả năng bắt mồi như nhau, vì thế tôm
nuôi tăng trưởng khá đồng đều, ít bị phân đàn (Sở NN&PTNN TP. Hồ Chí Minh,
2009). Tại châu Á, tôm được nuôi thương phẩm bằng ao đất, Thái Lan và
Inđônêxia nuôi thâm canh với mật độ 60-150 con/m
2
đạt tốc độ tăng trưởng 1-
1,5g/tuần, tỷ lệ sống 80-90% (trong khi tốc độ tăng trưởng của tôm sú chỉ là 1-
1,2g/tuần và tỷ lệ sống chỉ khoảng 45-54%). Philippin nuôi thâm canh với mật
độ cao hơn 100-200 con/m
2
, hệ số thức ăn 1,3-1,5, tỷ lệ sống đạt 65-85%, năng
suất đạt 7-12 tấn/ha/vụ sau 90-120 ngày nuôi (http://Tư vấn thủy sản.com).
2.1.6. Sinh sản
Tôm chân trắng có thelycum hở, tôm thành thục sớm, con đực trưởng
thành từ 20 gam, con cái 28 gram cỡ 6-7 tháng tuổi, tôm mẹ có khối lượng 30-35
gram có sức sinh sản 100.000-250.000 trứng/lần đẻ, sức sinh sản tương đối thấp.

sự gia tăng kích thước của tôm, giai đoạn ấu trùng, tôm thẻ chân trắng lột xác sau
40 giờ ở 28
o
C, trong khi tôm chưa thành niên có trọng lượng 1-5 gram, lột xác
mỗi 4-6 ngày, tiếp theo trên trọng lượng 15 gram tôm ở giai đoạn lột xác này xảy
ra khoảng 2 tuần một lần.
Tôm thẻ lột xác có 4 giai đoạn: giai đoạn tiền lột xác, giai đoạn hậu lột
xác, giai đoạn trung gian lột xác, giai đoạn lột xác (Đỗ Thị Thanh Hương và
Nguyễn Văn Tư, 2010). Các giai đoạn của chu kỳ lột xác được phân biệt bởi lớp
biểu bì và lớp tơ trong chân đuôi của tôm thẻ chân trắng, quan sát sự hình thành
phát triển của nó dưới kính hiển vi. Năm giai đoạn phát triển của lớp biểu bì và
lớp tơ được xác định là: đầu và cuối thay tơ (A và B), giữa chu kì thay tơ (C) và
đầu và cuối trước khi thay tơ (D1, D2 và D3). Tổng thời gian của chu kỳ thay tơ
ở tôm cỡ 2 g là khoảng 5 ngày với tôm thẻ chân trắng và 6,5 ngày với tôm sú,
với cỡ tôm 15 g chu kì thay tơ là 11 ngày với tôm thẻ chân trắng và 12 ngày đối
tôm sú. Nhìn chung, thời gian tương đối của các giai đoạn hình thành lớp vỏ
trong chu kỳ là 5-10% cho giai đoạn A, 9-16% cho giai đoạn B, 12-20% cho giai
đoạn C, 28 - 36% cho giai đoạn D1 và 30-38% cho giai đoạn D2 (Corteel et al.,
2012).
Lớp vỏ, các lớp biểu bì của hầu hết các động vật giáp xác chứa các
khoáng chất chủ yếu là CaCO
3
với một lượng nhỏ magiê, phốt pho và lưu huỳnh.
Khoảng 99% các thành phần hữu cơ của lớp vỏ khác nhau giữa các loài, các bộ
phận trong cơ thể và thay đổi giữa các giai đoạn lột xác (Conklin, 1981).
Trong giai đoạn cuối trước khi lột xác và giai đoạn đầu sau khi lột xác, xảy ra
những thay đổi trong cấu trúc biểu bì vỏ và hoạt động của bơm Na
+
/K
+

hồi sức khỏe
Hơi cứng
Có hạt xuất
hiện
74,0±0,2

C1 1-2 ngày
Bắt đầu
ăn/Bình
thường
Cứng Có hạt 74,1±0,3

C2 6-8 ngày
Bình
thường/Bình
thường
Cứng Có hạt

C3
Giữa chu
kỳ lột xác
(intermolt)

1-2 ngày
Bình
thường/Bình
thường
Cứng Hạt dầy đặt

D0 1-2 ngày

Tiền lột
xác
(premolt)
1-2 ngày
Không ăn/hấp
thu nước
Lớp vỏ cũ
mềm đi
71,0±0,7

E Lột xác 1-2 phút
Không ăn/Cơ
thể lớn lên về
mặt thể tích
Lớp vỏ cu-
tin cũ bên
ngoài bung
ra 8
2.2.1 Điều hòa áp suất thẩm thấu
Hầu hết các loài giáp xác biển điều hòa áp suất thẩm thấu (ASTT) trong
dịch máu ngang bằng với ASTT của môi trường. Điều hòa ASTT là cơ chế duy
trì ổn định sự cân bằng nồng độ thẩm thấu bên trong cơ thể sinh vật và bên ngoài
môi trường. Sự duy trì nồng độ thẩm thấu huyết tương cao hơn hoặc thấp hơn so
với môi trường được gọi là điều hòa thẩm thấu ưu trương hay nhược trương
(Wurt, 1987). Các cơ chế có liên quan đến điều hòa thẩm thấu ở giáp xác bao
gồm các quá trình hấp thu chủ động hoặc bài tiết các ion qua bề mặt cơ thể, qua
ống dạ dày-ruột, mang và các cơ quan bài tiết. Nếu nồng độ thẩm thấu của máu

đoạn vừa mới lột xác tôm không bắt mồi và ít hoạt động và mãi đến sau 24 giờ
mới phục hồi, cứng vỏ và hoạt động bắt mồi bình thường.
Sự điều hòa áp suất thẩm thấu khi tôm sống trong môi trường có nồng độ
muối thấp liên quan đến sự sử dụng khẩu phần protein trong thức ăn. Protein
cung cấp nguồn acid amin được sử dụng như là nhân tố ảnh hưởng đến điều hòa
áp suất thẩm thấu và liên quan đến hàm lượng protein trong máu (Pierce, 1982).
Sau lột xác (giai đoạn A) hàm lượng Ca
2+
trong máu cao nhất sau đó giảm
dần trong giai đoạn B và C do sự chuyển hóa Ca
2+
vào vỏ, làm vỏ trở nên cứng
hơn. Bình thường hàm lượng Ca
2+
trong các bộ phận trong cơ thể của tôm cũng
9
khác nhau như: vỏ, gan tụy, máu và cơ, trong đó Ca
2+
trong vỏ và gan tụy là cao
nhất. Trong chu kỳ lột xác thì hàm lượng Ca
2+
tăng cao trong máu và gan tụy ở
giai đoạn tiền lột xác (giai đoạn D), trong khi lại giảm thấp trong vỏ và cơ (Li và
Cheng, 2012).
2.2.2 Vai trò của một số chất khoáng đa lượng
Chất khoáng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của động vật
thủy sản như xây dựng cơ thể, tham gia vào các quá trình trao đổi chất, duy trì
chức năng sinh lí. Tham gia thành phần cấu tạo cơ thể như các khoáng đa lượng
Ca, P, Mg tham gia cấu tạo khung cơ thể (Trần Thị Thanh Hiền, 2009).
Ngoài ra còn là thành phần thiết yếu của xương, răng, và bộ xương ngoài. Nó cần


19.4
Tri basic Calcium phosphate
Ca
3
(PO4)
2

9.9
Mono basis Potassium phosphate
KH
2
PO
4

68
Mono basis sodium phosphate
NaH
2
PO
68.2

10
 Magiê: Magiê đóng vai trò làm ổn định sự trao đổi chất và là yếu tố
tham gia một lượng lớn các phản ứng enzyme chất đường trong cơ thể (Davis và
Lawrence, 1993). Nồng độ magiê trong nước biển cao, được bài tiết bởi giáp xác
và cá vì vậy lượng magiê trong máu thấp hơn của môi trường ngoài (Dall và
Moriarty, 1983).
Ở môi trường nồng độ muối thấp hoặc môi trường nước ngọt thì tôm cá
cần được cung cấp magiê từ thức ăn. Tôm nuôi trong nước có hàm lượng Mg

+
(6,2 mg/L) và Mg
2+
(4.6 mg/L) đến 40 và 20
mg/L. Ngoài ra K
+
có vai trò quang trọng trong quá trình trao đổi chất của tôm,
khi nuôi tôm trong môi trường có K
+
thấp tôm thẻ chân trắng có biểu hiện biếng
ăn, hoạt động kém tăng trưởng chậm thậm chí chết .
Trong hầu hết động vật giáp xác nồng độ kali trong huyết thanh gần như
bằng với iso-ion kali để bên ngoài môi trường, trừ một số trường hợp nó chiếm tỉ
lệ nhỏ hơn (McFarland và Lee 1963). Trong môi trường có độ mặn thay đổi nồng
độ kali trong cơ thể có xu hướng được điều chỉnh để đạt mức giá trị cân bằng
(McFarland và Lee 1963; Dall và Smith 1981). Môi trường nước có lượng kali
thấp, thì việc bổ sung kali vào chế độ ăn uống được coi là cần thiết, không chỉ để
cung cấp kali cho môi trường trong, mà còn tạo thuận lợi cho chức năng điều hòa
ổn của muối natri clorua trong tôm.
11
Thông thường tỉ lệ Ca trong khẩu phần ăn khoảng từ 2-3% và và P tối
thiểu là dao động từ 1-2%. Tỉ lệ Ca/P 1:1 là có thể cung cấp đủ cho tôm phát
triển tốt của tôm, tuy nhiên cần bổ xung đầy đủ các chất khoáng. Theo Davis và
Gatlin (1996) có 6 chất khoáng được xem là thiết yếu đối với tôm là. Ca, Cu, P,
Mg, K, Se, Zn. Nồng độ trung bình của Ca
2+
trong các ao nuôi tôm ở Mexico là
166 mg/L, thuận lợi cho sự phát triển bình thường của tôm. Theo Scarpa và
Vaughan (1998) báo cáo rằng độ cứng cao hơn 150 mg/L của CaCO
3

12
giai đoạn cuối của tiền lột xác (D3) giá trị này tăng lên 12% (Martinez-Cordova
et al., 1998).
Theo Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009) hàm lượng oxy
hòa tan tốt nhất cho tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm biển trong khoảng giữa 3,5
mg/L đến bảo hòa. Oxy hòa tan quá bảo hòa cũng gây nguy hiểm cho tôm.
2.2.4 Độ mặn ảnh hưởng đến tăng trưởng của tôm
Độ mặn là tổng lượng (tính theo gram) các chất hòa tan chứa trong 1
kg nước, bao gồm các muối khoáng các ion hòa tan trong nước. Độ mặn ảnh
hưởng trực tiếp đến điều hòa ASTT, sự thay đổi độ mặn vượt ngoài giới hạn
thích ứng của tôm nuôi đều gây sốc và làm giảm khả năng kháng bệnh của tôm
(Nguyễn Văn Hảo, 1995)
Bảng 2.4: Thành phần một số ion của nước biển và nước ngọt
Thành phần Nước ngọt Nước biển
khoáng Nồng độ (mg/L) nồng độ (mg/L)
Mg
2+
4 1294
Ca
2+
15 412
K
+
2 399
Phốt pho (P) 20 35
Theo nghiên cứu của Roy et al. (2007) đề nghị khi nuôi tôm L.
vannamei trong điều kiện độ mặn thấp tỷ lệ Mg:Ca nên được đảm bảo xấp xỉ
với tỉ lệ tìm thấy trong nước biển tự nhiên (3,1:1).
Nồng độ muối khoáng trong nước mặn cao hơn nhiều lần so với nước
ngọt, tỉ lệ từ cao xuống thấp, nước càng mặn nồng độ muối khoáng càng cao.


1‰ (73,0-83,1%) ở độ mặn 0‰ tôm không thể
sống sau 45 ngày.
Tôm thẻ chân trắng L. vannamei có khả năng điều hòa tình trạng ASTT
tốt, thích ứng với điều kiện độ mặn trên lệch 5‰/ngày. Thí nghiệm chuyển tôm
thẻ chân trắng vào môi trường nước 3‰, trong thời gian đầu sau vài giờ một vài
con đã không có khả năng điều hòa kịp ASTT, lượng nước vào cơ thể quá nhiều,
tôm bị mất một lương ion khá lớn nên gây chết. Khi vào môi trường có độ muối
quá thấp 0,5‰ (15 mOsm) và 1‰ (28 mOsm), ASTT giữa máu và môi trường
chênh lệnh quá lớn tôm bị hiện tượng trương nước và mất một lượng ion khá lớn
ra môi trường ngoài, ASTT và nồng độ ion giảm đột ngột trong 6 giờ thí nghiệm,
kết quả là tôm không có khả năng sống sót trong môi trường độ mặn quá thấp
như vậy L. vannamei đòi hỏi thời gian thích nghi trong vòng 1 đến 3 ngày khi
chuyển vào môi trường có độ mặn thấp (Đỗ Thị Thanh Hương và Wilder, 2008).
Nồng độ muối thấp làm giới hạn khả năng của tôm trong việc duy trì áp
suất thẩm thấu hay cân bằng môi trường trong máu tôm, kết quả có thể gây chết
khi lột xác, dấu hiệu là tôm lớn từ 18-20 g có thể bị chết nhiều hơn tôm nhỏ. Khả
năng điều hòa áp suất thẩm thấu của tôm thẻ L. vannamei bị giảm khi tôm phát
triển đến giai đoạn tiền hoặc trưởng thành. Nguyên nhân là: (1) tôm nhỏ có khả
năng điều hào áp suất thẩm thấu tốt hơn tôm lớn (Vargas-Albores và Ochoa,
1992); (2) tỉ lệ tôm chết do mềm vỏ cao hơn tỉ lệ tôm không lột xác được
(Ferraris et al., 1987).
14
Nguyên nhân tại sao độ mặn thấp là thích hợp cho sự sinh trưởng của thẻ
chân trắng L. vannamei. Nó liên quan đến nguồn và bản chất của quá trình trao
đổi chất protein Khi tôm sống trong môi trường có độ mặn thấp, tôm bắt buộc
phải sử dụng tổng acid axit amin tự do (free amino acid pool) (FAAP) để bù đắp
cho những thay đổi về thể tích của tế bào. Các tổng axid amin tự do có thể sử
dụng bằng 3 con đường: (1) được sử dụng như một nguồn năng lượng và chức
năng như là những nguồn năng lượng thêm vào, hoàn thiện sự sản xuất năng

bổ sung K
+
ở các hàm lượng (5, 10, 20, và 40 mg/l) thử nghiệm tốc độ tăng
trưởng trong 6 tuần của tôm thẻ chân trắng có khối lượng khoảng 1g thì tỉ lệ sống
của tôm 23,3%; 95,0%; 96,7%; 93,3%; 93,3%. Trong khi đó cũng cùng độ mặn
15
trên bổ sung Mg
2+
ở các hàm lượng (10, 20, 40, 80, 160 mg/L), thì tỉ lệ sống
tương ứng của tôm là 60,2%; 90,0%; 96,5%; 93,2%; 95,0%.
Van-Wyk et al. (1999) báo cáo tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn một chút khi
tôm thẻ chân trắng nuôi trong nhiệt độ nước dưới 26
o
C, và không tăng trưởng
khi dưới 22
o
C. Trong quá trình nuôi thương phẩm nông dân ở phía tây Alabama
có đã thành công trong việc nâng cao sản lượng tôm chân trắng nuôi trong nội
địa có độ mặn thấp, bằng việt bổ sung khoáng vào trong nước tăng K
+
và Mg
2+

đến ngưỡng lý tưởng hơn (Davis et al. 2005). Theo kết quả điều tra của
McNevin et al. (2004) sản lượng tôm ở Alabama tăng khi nuôi trong nước mặn
thấp bằng cách nâng cao khoáng K
+
(6,2 mg/L) và Mg
2+
(4,6 mg/l), đến 40 và 20

sinh sản nhân tạo thành công vào ngày 6/4/2002. Đồng thời, Công ty xuất khẩu

Trích đoạn Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm Tăng trưởng chiều dài sau 3 chu kỳ lột
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status