ảnh hưởng của độ kiềm lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm thẻ chân trắng (litopenaeus vannamei) - Pdf 30



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
HUỲNH TẤN HỌC ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ KIỀM LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ
TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG VÀ HẬU ẤU TRÙNG TÔM
THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN


Mục tiêu của đề tài là tìm ra độ kiềm thích hợp cho sự phát triển và tỷ lệ sống của
ấu trùng và hậu ấu trùng tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) nhằm ứng dụng cho
qui trình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng. Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức, mỗi nghiệm
thức được lặp lại 3 lần với những độ kiềm tương ứng là 100 (I); 120 (II); 140 (III); 160
(IV) và 180 (V) mg CaCO
3
/lít, bể thí nghiệm có thể tích 120 lít/bể, độ mặn 30 ‰, mật độ
ương 150 con/lít. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố môi trường như nhiệt độ, oxy
hòa tan và pH trong suốt quá trình ương nằm trong khoảng thích hợp cho ấu trùng và hậu
ấu trùng tôm thẻ chân trắng phát triển tốt. Chiều dài của tôm PL
12
ở nghiệm thức 3 cao
nhất (10,4±0,7 mm) khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với các nghiệm thức còn
lại. Tỷ lệ sống của tôm ở nghiệm thức 3 cao nhất ở các giai đoạn M
1
(87,3±7 %), giai
đoạn PL
1
(67,4±6,1%) và giai đoạn PL
12
(48,8±4%) khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05) so với các nghiệm thức còn lại. Khi gây sốc giảm 50 % độ mặn thì tất cả các
nghiệm thức đều đảm bảo chất lượng. Kết quả nghiên cứu này cho thấy ở độ kiềm 140
mg CaCO
3
/lít thích hợp cho ấu trùng và hậu ấu trùng tôm thẻ chân trắng phát triển tốt
nhất.
Từ khóa: Tôm thẻ chân trắng, độ kiềm, chất lượng hậu ấu trùng
ABSTRACT
The study aimed to investigate the appropriate alkalinity for the best growth and

1. GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) là
loài được nuôi rộng khắp ở nhiều vùng trên thế giới. Tôm thẻ chân trắng có nhiều
ưu điểm như: Tốc độ tăng trưởng nhanh, chu kỳ nuôi ngắn và có sức chịu đựng tốt
với các biến động môi trường. Thực tế sản xuất hiện nay cho thấy, do tốc độ nghề
nuôi thương phẩm phát triển nhanh, nên yêu cầu về số lượng con giống hàng năm
tăng nhanh. Hiện nay tôm thẻ chân trắng đã được sản xuất giống đại trà ở nước ta.
Trong giai đoạn ương nuôi ấu trùng của quy trình sản xuất giống tôm thẻ chân
trắng, thường gặp rủi ro, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và chất lượng
ấu trùng trong đó độ kiềm. Độ kiềm biểu thị khả năng thu nhận proton H
+
của
nước, độ kiềm trong nước do 3 ion chính tạo ra : hydroxide (OH
-
),
carbonate(CO
3
2-
) và bicarbonate (HCO
3
-
). Độ kiềm ảnh hưởng đến hệ đệm trong
môi trường nước, duy trì sự biến động thấp nhất của pH nước và giúp ổn định pH
nước. Khi độ kiềm trong môi trường nước thay đổi sẻ ảnh hưởng đến các yếu tố
lý, hóa, sinh, tỷ lệ sống và tăng trưởng của động vật thủy sản. Hiện nay độ kiềm
chưa có nhiều nghiên cứu vì vậy đề tài. “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ kiềm
đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus
vannamei)” nhằm tìm ra độ kiềm thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng tôm thẻ
chân trắng, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất giống, đáp ứng nhu
cầu con giống cho nghề nuôi.

180

Thí nghiệm được bố trí 3 lần lặp lại trong xô nhựa 120 lít, độ mặn nước
ương là 30‰ được pha từ nước ót có độ mặn 100‰ và nước ngọt. Nguồn ấu trùng
Nauphius thí nghiệm được mua từ trại giống ở Ninh Thuận, nước trong bể ương
duy trì ở mức khoảng 100 lít, mật độ ương là 150 ấu trùng/L.
3

Cách tăng độ kiềm.
Dùng Soda tăng độ kiềm phù hợp cho từng nghiệm thức trước khi bố trí,
trong suốt quá trình ương theo dõi độ kiềm để điều chỉnh cho phù hợp ở từng
nghiệm thức.
Soda có công thức hóa học là : NaHCO
3

NaHCO
3
CaCO
3
1 N 1 N N: là đương lượng gam (g/L)
1 N NaHCO
3
= 84 g/L 1 N CaCO
3
= 50 g/L
1,68 mg/L 1 mg/L
Để tăng được một đơn vị độ kiềm thì ta phải dùng 1,68 mg/L Soda.
Cho ấu trùng ăn: thức ăn cho ấu trùng tùy thuộc vào giai đoạn phát triển.
Khi ấu trùng Nauplius bắt đầu chuyển sang giai đoạn Zoea
1


Hình 1: Hệ thống bể ương ấu trùng
Các chỉ tiêu theo dõi
Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế và pH đo bằng máy với nhịp đo 2 lần/ngày
vào lúc 8giờ sáng và 14giờ chiều; hàm lượng đạm ammonia (TAN), NO
2
-
, KH
được thu mẫu 4 ngày một lần bằng test môi trường.
Chiều dài tổng của ấu trùng và tôm bột được đo ở các giai đoạn Z
1
, M
1
,
PL
1
, PL
6
, và PL
12
. Mỗi lần thu 30 mẫu và đo chiều dài bằng giấy kẻ ô ly.
Tỉ lệ sống được xác định ở giai đoạn M
1
, PL
1
, PL
12
bằng phương pháp định
lượng.
Các số liệu thu thập được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, phần


m
thức 2
Nghi

m
thức 3
Nghi

m
thức 4
Nghi

m
thức 5
Nhi

t đ


(
o
C)

Sáng

28,8±0,4

28,7±0,5



8,7±0,1

Chi

u

8,6±0,1

8,6±0,1

8,6±0,1

8,7±0,1

8,7±0,1

TAN(mg/L)

1,48±1,01
a

1,4
2±0,97
a

1,43±0,96
a

1,42±0,96

, 1,42±0,97, 1,43±0,96 , 1,42±0,96 và 1,43±0,92
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Trương Quốc Phú (2006) khi nhiệt
độ và pH trong nước tăng thì hàm lượng NH
3
trong nước sẽ tăng dẫn đến làm tăng
khả năng gây độc cho thủy sinh vật và ngược lại, hàm lượng NH
4
+
thích hợp cho
thủy sản là 0,2-2,0 mg/L. Hàm lượng TAN nên duy trì ở mức dưới 1,5 mg/L
(Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003). Kết quả cho thấy hàm lượng TAN trong
các nghiệm thức của thí nghiệm nằm khoảng an toàn.
Hàm lượng NO
2
-
trung bình của các nghiệm thức 1, 2, 3, 4 và 5 tương ứng
là 0,49±0,45

, 0,54±0,46 , 0,45±0,39, 0,54±0,47 và 0,55±0,45 khác biệt không có ý
nghĩa thống kê (p>0,05). Trương Quốc Phú (2006) thì hàm lượng NO
2
-
tốt nhất
cho ao nuôi thủy sản từ 0-0,5 mg/L, vừa là 0,5-2 ppm và xấu khi lớn hơn 2 ppm.
Hàm lượng NO
2
-
<1mg/l thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng tôm (Phạm Văn
Tình, 2004). Như vậy hàm lượng NO
2

chiều dài PL
12
ở độ kiềm 140mgCaCO
3
/L (10,4±0,7mm) là tốt nhất.
Bảng 3: Chiều dài ấu trùng trong các bể thí nghiệm (mm)
Chỉ tiêu
Nghi

m
thức 1
Nghi

m
thức 2
Nghi

m
thức 3
Nghi

m
thức 4
Nghi

m
thức 5
Giai đo

n Z


3,27±0,
15
ab

3,33±0,
16
ab

3,
3
4
±0,
15
b

3,
33
±0,
16
ab

Giai đo

n PL
1

4,99±0,
23
a

7,30±0,
2
0
c

7,25±0,
20
bc

7,21±0,
20
b

Giai đo

n PL
12

9,9±0,
5
a

10,0±0,
4
ab

10,4±0,
7
c


PL
1
(4,68-4,87 mm), PL
6
(6,0-7,3 mm). Theo Bùi Hữu Lộc, (2013), chiều dài tôm
thẻ chân trắng khi thử nghiệm các loại thức ăn khác nhau nuôi vỗ tôm bố mẹ,
chiều dài Z
1
( 0,85-0,88 mm), Z
3
(2,82-2,87 mm), M
1
(3,34-3,37mm), M
3
(4,14-
4,16 mm), PL
1
(4,61-4,65 mm), PL
6
(6,62-6,65 mm), PL
12
(8,6- 9,0mm). Vậy
chiều dài của các giai đoạn của các nghiệm thức có cao hơn so với các nghiên cứu
trước đây.
3.3. Tỷ lệ sống
Qua kết quả (Hình 2) cho thấy tỷ lệ sống ở giai đoạn M
1
, PL
1
, PL

ấu trùng sau khi gây sốc giảm 50% độ mặn từ 91,17% - 98,33%. Qua kết quả thí
nghiệm cho thấy tỷ lệ sống của hậu ấu trùng sau khi sốc giảm 50% độ mặn ở
nghiệm thức 3 cho kết quả tốt nhất (99,3%).
8 Hình 3: Tỷ lệ sống của tôm khi gây sốc giảm 50% độ mặn
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận
Trong quá trình ương cho kết quả ở độ kiềm 140 mg CaCO
3
/lít thích hợp
cho ấu trùng và hậu ấu trùng tôm thẻ chân trắng phát triển tốt nhất. Chiều dài của
tôm PL
12
ở nghiệm thức 3 (10,4±0,7 cm), tỷ lệ sống ở giai đoạn M
1
(87,3±7 %),
PL
1
(67,4±6,1%) và PL
12
(48,8±4%) cao nhất khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05) so với các nghiệm thức còn lại.
Khi gây sốc giảm 50% độ mặn thì cả 5 nghiệm thức có PL
12
đảm bảo chất
lượng tốt, tốt nhất là nghiệm thức 3 (99,3%).
4.2 Đề xuất
- Cần nghiên cứu thêm ảnh hưởng của độ cứng lên tăng trưởng và tỷ lệ

nghiệp Đại học. Trường Đại học Cần Thơ.
8. Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009. Nguyên lý và kĩ thuật
nuôi tôm sú (penaeus monodon). Nhà xuất bản nông nghiệp Tp. Hồ Chí
Minh. 203 trang.
9. Trương Quốc Phú, Nguyễn Lê Hoàng Yến và Huỳnh Trường Giang, 2006.
Giáo trình Quản lý chất lượng nước nuôi trồng thủy sản. Khoa thủy sản.
Đại Học Cần Thơ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status