TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
LÊ MINH MẪN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC TRỪ
SÂU Fenobucarb ĐỐI VỚI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
(Litopenaeus vannamei) LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGs. Ts. ĐẶNG THỊ HOÀNG OANH
2013
1
XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC TRỪ SÂU Fenobucarb
ĐỐI VỚI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei)
Lê Minh Mẫn và Đặng Thị Hoàng Oanh*
Bộ môn Bệnh học Thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
* Email: [email protected]
ABSTRACT
This study was conducted to determine the impact of substance Fenobucarb through
LC
50
Từ khóa: Tôm thẻ chân trắng, Litopenaeus vannamei, Fenobucarb, mô bệnh học.
I. GIỚI THIỆU
Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei, 1931) có nguồn gốc từ các nước ven bờ
Tây Thái Bình Dương, Nam Trung Mỹ. Trên thế giới tôm thẻ chân trắng được nuôi nhiều ở
các nước Nam Mỹ, Nam Trung Mỹ. Ở Châu Á không có tôm chân trắng phân bố tự nhiên,
song từ những thập niên 80, 90 đối tượng này đã được du nhập nuôi thực nghiệm thành công
2
và đến nay nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan và cả Việt Nam đã
phát triển mạnh loại tôm này. Đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp. Thuốc bảo vệ thực vật do người nuôi dùng
để diệt giáp xác và tồn dư từ những vùng sản xuất nông nghiệp theo nguồn nước vào vuông
tôm có thể bức tử con tôm. Hóa chất sử dụng trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy
sản không đúng cách có thể tồn lưu trong môi trường, đặt biệt là trong nguồn nước làm đe
dọa đến sự bền vững và an toàn ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi tôm nói
riêng. Fenobucarb là hoạt chất thuốc trừ sâu nhóm Carbamate hiện đang được sử dụng rộng
rãi cho ruộng lúa. Hoạt chất Fenobucarb có trong nhiều sản phẩm thương mại khác nhau.
Mức độ gây độc cảu hoạt chất này lên các đối tượng thủy sản, đặt biệt là tôm sú và thẻ chân
trắng vẫn còn nhiều vấn đề nghiên cứu. Vì vậy đề tài “Xác định mức độ ảnh hưởng của thuốc
trừ sâu Fenobucarb đối với tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)” được thực hiện.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Các dụng cụ thí nghiệm: bể composite, đá bọt, sục khí, keo nhựa, ống
đong v.v…Tôm thí nghiệm là tôm thẻ chân trắng giai đoạn tôm post (Post larvae) P12. Hóa
chất Fenobucarb dạng kỹ thuật (Technical grade) pha chế dung dịch chuẩn sau đó pha ra
nồng độ thuốc cần thí nghiệm.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Tôm và điều kiện thí nghiệm
Tôm chuyển về được đưa vào sốc Formalyne ở nồng độ 100ppm trong 30 phút để
loại tôm yếu (khoảng 25 – 30% tôm yếu bị loại), sau đó được thuần trong bể 0,5m
3
0,000016
CT2 Fenobucarb
0,00016
CT3 Fenobucarb
0,0016
CT4 Fenobucarb
0,016
CT5 Fenobucarb
0,16
CT6 Fenobucarb
1,6
CT7 Fenobucarb
16
CT8
Đối chứng (không xử lý hóa
chất) b. Thí nghiệm khẳng định: được tiến hành tiếp theo thí nghiệm sơ bộ để xác định nồng độ
gây chết trên và dưới 50% số cá thể tôm thí nghiệm và các nồng độ lân cận, từ đó có thể xây
CT7 Fenobucarb
64 x N2
CT8 Đối chứng (không xử
lý HC) Chỉ tiêu và phương pháp đánh giá theo dõi ở 2 thí nghiệm sơ bộ và khẳng định
Đo DO, nhiệt độ, độ mặn, PH trong bể trước thí nghiệm (tức trước xử lý hóa chất) và
sau thời gian thí nghiệm 24, 48, 72 và 96 giờ.
Đếm số tôm chết và tính tỷ lệ tôm chết ở các công thức sau xử lý hóa chất 3, 6, 12,
24, 48, 72 và 96 giờ. Nhặt bỏ các tôm bị chết ra khỏi bể sau đó cộng dồn số tôm chết cho các
lần điều tra sau. Ngày cho ăn 3 lần lúc 8h, 12h và 18h(thức ăn P.monodon của Nhật Bản).
Xác định giá trị LC
50
đối với tôm thẻ chân trắng. Việc xác định trị số chỉ tiến hành
khi xảy ra sự sai khác có ý nghĩa về tỷ lệ tôm chết ở các công thức thí nghiệm (xử lý hóa
chất) so với công thức đối chứng ở độ tin cậy 95%.Tính tỉ lệ tôm chết theo công thức Abbott và tính giá trị LC
50
theo chương trình
POLO (LeOra Software, Berkeley, USA) như sau:
a - b
Hiệu quả % =
100-b
Trong đó a: Tỷ lệ tôm chết ở công thức thí nghiệm; b: Tỷ lệ tôm chết ở công thức đối chứng
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả thí nghiệm sơ bộ
Từ kết quả thí nghiệm sơ bộ trên tôm thẻ chân trắng (Bảng 3) cho thấy hiện tượng
tôm chết xuất hiện từ CT2 với nồng độ hoạt chất Fenobucarb là 0,00016 và có tỷ lệ chết như
nhau ở các công thức CT2, CT3, CT4. Tuy nhiên, ngay ở CT5 tôm chết tới 94,54% và chết
hoàn toàn ở CT6. Với kết quả thí nghiệm sơ bộ đó, chúng tôi tiến hành lựa chọn khoảng
nồng độ cho thí nghiệm khẳng định dao động trong khoảng 0,016 – 0,16 tương ứng với 7
công thức thí nghiệm để tìm gía trị LC
50
.
Bảng 3. Tỷ lệ tôm thẻ chân trắng P12 chết trong thời gian thí nghiệm
Tỷ lệ chết (%)
Công thức
Nồng độ
(mg/l)
3h 6h 12h 24h 48h 72h 96h
CT1 0,000016
0 0 0 0 0 0 0
CT2 0,00016
0 0 0 0 0 2,22 3,33
CT3 0,0016
0 1,11 1,11 1,11 2,22 3,33 3,33
CT4 0,016
0 0 0 1,11 2,22 3,33 3,33
CT5 0,16
0 0 0 0 81,11 88,89 94,45
CT5
0,128 17,78 29 64 89 89 89 89
CT6
0,256 42,22 74 87 96 100 100 100
CT7
0,512
100 100 100 100 100 100 100
ĐC Đ/chứng 0 0 0 0 0 0 0
Với bảng tỉ lệ tôm chết ở thí nghiệm khẳng định ta tiếp tục chạy phần mềm dựng
đường Probit dựa trên tương quan giữa nồng độ thuốc và tỉ lệ tôm chết ở thí nghiệm khẳng
định cho kết quả: với nồng độ hoạt chất Fenobucarb là 0,0524mg/l sẽ gây chết 50% số tôm
thí nghiệm. Vậy trị số LC50 của Fenobucarb đối với Tôm Thẻ chân trắng P12 là 0,0524mg/l.
3.3 Kết quả thí nghiệm mãn tính
Kết quả phân tích mô học gan tụy tôm thí nghiệm được trình bày ở Bảng 5. Ở
nghiệm thức đối chứng, các tiếu bản mô bệnh học đều cho thấy các mẫu tôm thu được đều là
mẫu tôm khỏe, trên vùng gan tụy không có dấu hiệu hoại tử cũng như biểu hiện nào bất
thường qua các lần thu mẫu. Kết quả được thể hiện trên Hình 3.2.
Bảng 5. Kết quả mô bệnh học thí nghiệm với hoạt chất Fenobucarb
Công thức
(CT)
Thu mẫu
Lần 1 Lần 2 Lần 3 Lần 4 Lần 5 Lần 6
CT 1
(0,00052)
gan tụy không có hiện tượng bong tróc.
Hình 3.2 Kết quả phân tích mô gan tụy ở nghiệm thức 1 qua lần thu mẫu 1 và 4
Ở nghiệm thức 2 với 20% nồng độ hoạt chất Fenobucarb, lần thu mẫu thứ 3 với 3 mẫu là
bình thường còn lại ghi nhận không có sự hiện diện của tế bào B, R (Hình 3.3B). Các lần thu
mẫu còn lại không ghi nhận kết quả bất thường nào trên gan tụy.
8
Hình 3.3. Kết quả phân tích mô học ở nghiệm thức 2 (H&E,10X). (A) Mô gan tụy bình
thường; (B) Không có sự hiện diện của tế bào B, R
Ở nghiệm thức 3 với 40% nồng độ hoạt chất Fenobucarb nhận thấy có 2 mẫu ở lần thu thứ 4
có sự tập trung của các tế bào máu ở giữa ống gan tụy, còn lại các mẫu ở lần thu khác không
ghi nhận hiện tượng bất thường nào, không có dấu hiệu hoại tử, các tế bào trung tâm của tổ
chức gan tụy không có sự biến đổi cấu trúc.
Hình 3.5 Kết quả mô học ở nghiệm thức 4 qua lần thu thứ 3 cho thấy tế bào máu tập trung
trên gan tụy, gan tụy mất cấu trúc, không có sự hiện diện của tế bào B, R)
Kết luận
Kết quả phân tích mô học cho thấy không có sự khác biệt giữa các mẫu tôm thu từ các lô thí
nghiệm với các nồng độ thuốc khác nhau khi so sánh với nghiệm thức đối chứng tuy có hiện
tượng tế bào máu tập trung ở giữa ống gan tụy hay thiếu sự hiện diện của các tế bào như B,R
nhưng các lần thu mẫu tiếp theo từ những nghiệm thức có sự biến đổi lại trở lại bình thường
và giảm dần. Từ đó cho thấy hoạt chất Fenobucarb gây ảnh hưởng không nhiều tới vùng gan
tụy của tôm trong suốt thời gian thí nghiệm.
Thảo luận
Fenobucarb là hoạt chất thuộc nhóm Carbamate là chất gây độc thần kinh, gây ức chế hoạt
động của men acetyl cholineterase (AchE). Cholineterase là men xúc tác quá trình thủy phân
acetycholine (1 chất dẫn truyền thần kinh). Ức chế phản ứng đề các tế bào neron phụ hồi trở
lại trong thái nghĩ ngơi. Fenobucarb là thuốc diệt côn trùng và trên thị trường thì chứa
khoảng 50% khối lượng hoạt chất Fenobucarb trong các sản phẩm thương mại. Và với LC
50
của hoạt chất Fenobucarb là 0,0524mg/l. Theo phân loại độc của WHO (1990) thì hóa chất
có LC
50
Retrieved May 28, 2008
Phạm Đình Đôn, 2004. Chất thải nuôi tôm - vấn đề và giải pháp. Chi cục BVMT khu vực tây
nam bộ
Mai Văn Tài, 2004. Điều tra đánh giá hiện trạng các loại thuốc và hoá chất dùng trong nuôi
trồng thuỷ sản nhằm đề xuất các giải pháp quản lí
Nguyễn Đình Mạnh (2000), Hóa chất dùng trong nông nghiệp và ô nhiễm môi trường, Nhà
xuất bản nông nghiệp Hà Nội, tr. 34-37
Nguyễn Đình Mạnh (2000), Hóa chất dùng trong nông nghiệp và ô nhiễm môi trường, Nhà
xuất bản nông nghiệp Hà Nội.
Nguyễn Del (2009) Ảnh hưỡng thuốc trừ sâu Decis lên tăng trưởng của tôm sú (Penaeus
monodon)
Nguyễn Hương Giang (2011), Xác định dư lượng Carbamate trong mẫu rau và gừng trong
phương pháp sắc ký lỏng cao áp, Tiểu luận Đại học bách khoa Hà Nội, tr. 1-5
Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên, Bùi Trọng Thuỷ (2007), Giáo trình thuốc bảo vệ thực
vật, Nhà xuất bản nông nghiệp Hà nội, tr. 5-9; 180-199
Nguyễn Văn Công(2013), Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật Fenobucarb đến
Cholineterase ở Cá Lóc (Channa Striata) trong ruộng lúa, Trường đại học Cần Thơ,
Tạp chí Khoa học 25 (2013) 142-148
Nguyễn Hồng Sơn và Nguyễn Thị Tân (1999), Phương pháp điều tra, đánh giá sâu bệnh, cỏ
dại hại lúa, Phương pháp nghiên cứu Bảo Vệ thực vật tập 2, Nhà Xuất bản Nông
nghiệp, Hà Nội
Nguyễn văn Công, Nguyễn Thanh Hương, 2011. Tổng kết một số nghiên cứu ảnh hưởng
thuốc bảo vệ thực vật hoạt chất diazinon lên cá lóc đồng. Tạp chí khoa học, Địa học
Cần Thơ, 2011
Nguyễn Thị Phương Nga, 2004. Phân tích tình hình phân phối và sử dụng thuốc trong nôi
thủy sản tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà mau. Luận văn thạc sĩ, Đại học Cần Thơ
Trần Văn Hai (2005) Giáo trình “Hóa bảo vệ thực vật” ĐHCT khoa Nông Nghiệp