Ảnh hưởng của ph, độ kiềm lên sự sinh trưởng và tỷ lệ sống trong ương ấu trùng tôm thẻ chân trắng (litopenaeus vannamei) - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ NGÀNH: 52620301

ẢNH HƯỞNG CỦA PH, ĐỘ KIỀM
LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG TRONG
ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

Sinh viên thực hiện
DANH BO RI SOOL
MSSV: 0853040101
Lớp: NTTS Khóa 3

Cần Thơ, 2012
1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ NGÀNH: 52620301

ẢNH HƯỞNG CỦA PH, ĐỘ KIỀM
LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG TRONG
ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG


Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 19 tháng 06 năm 2012

Danh Bo Ri Sool

3


TÓM TẮT
Hai thí nghiệm đã được thực hiện nhằm xác định ngưỡng pH và độ kiềm thích hợp
nhất góp phần làm tăng năng suất và chất lượng cho ấu trùng tôm thẻ trong sản xuất
giống tôm thẻ chân trắng hiện nay.
Thí nghiệm thứ nhất gồm 4 nghiệm thức với độ pH khác nhau từ 6,0 đến 9,5, mỗi
nghiệm thức được lặp lại 03 lần với mật độ ương là 200 Nauplius/lit. Kết quả cho thấy,
ở giai đoạn PL10, pH từ 7-7,5 tôm giống có sự tăng trưởng chiều dài và tỷ lệ sống cao
nhất; kết quả lần lượt là 7,8mm và 57,0%, tuy nhiên khác biệt không có ý nghĩa thống
kê (p > 0,05) so với nghiệm thức có độ pH từ 8-8,5 (7,6mm; 60,3%). Độ pH cao hơn
(9,0-9,5) hay thấp hơn (6,0-6,5) đều ảnh hưởng đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm
giống (7mm; 13,2% và 7,45mm; 51,9%). Tuy nhiên khi gây sốc formol 150 ppm trong
60 phút không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của tôm giống.
Thí nghiệm thứ 2 được tiến hành nhằm tìm ra ngưỡng độ kiềm (kH) thích hợp với các
độ kiềm khác nhau từ 90 đến 145 mg CaCO3/l. Tương tự, thí nghiệm gồm 4 nghiệm
thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 03 lần với mật độ ương là 200 Nauplius/lit nước
ương. Kết quả cho thấy, ở giai đoạn PL10, độ kiềm trong khoảng từ 120-130 mg
CaCO3/l có tỷ lệ sống và tăng trưởng cao nhất lần lượt là 51,8% và 8,2mm, tuy nhiên
không khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) so với nghiệm thức có độ kiềm từ 135145 mg CaCO3/l (40,6%; 8,4mm). Độ kiềm thấp từ 90-100 mg CaCO3/l và từ 105-115
mg CaCO3/l đều ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của ấu trùng tôm (33,7%;
7,6mm và 31,1%; 7,7mm). Mặt khác, khi sốc formol 150 ppm, ở nghiệm thức có độ
kiềm từ 120-130 mg CaCO3/l ở PL10 có tỷ lệ chết thấp nhất là 13,3% và không khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) so với nghiệm thức có độ kiềm từ 135-145 mg

DANH SÁCH BẢNG .............................................................................................. vii
DANH SÁCH HÌNH .............................................................................................. viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT................................................................................... ix
CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ ...................................................................................... 1
1.1. Giới thiệu chung ............................................................................................. 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu........................................................................................ 1
1.3. Nội dung nghiên cứu ....................................................................................... 2
CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU .................................................................. 3
2.1. Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng .................................................. 3
2.1.1. Hệ thống phân loại .................................................................................... 3
2.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo ....................................................................... 4
2.1.3. Đặc điểm phân bố và nguồn gốc ................................................................ 4
2.1.4. Vòng đời của tôm thẻ chân trắng ............................................................... 5
2.1.5. Đặc điểm sinh trưởng và sự lộc xác của tôm thẻ chân trắng ....................... 5
2.1.6. Đặc điểm dinh dưỡng ................................................................................ 6
2.1.7. Đặc điểm sinh sản ..................................................................................... 6
2.2. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến khả năng
sinh trưởng và phát triển của tôm thẻ chân trắng ............................................. 7
2.2.1. Nhiệt độ .................................................................................................... 7
2.2.2. Độ mặn ..................................................................................................... 8
2.2.3. pH ............................................................................................................. 8
2.2.4. Độ kiềm .................................................................................................... 9
2.2.5. Oxy hòa tan (DO) ...................................................................................... 9
2.2.6. Độ trong ................................................................................................... 10
2.2.7. Các khí hòa tan......................................................................................... 10
2.3. Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng ............................................. 11
2.3.1. Nghiên cứu về sản xuất giống trên thế giới ............................................... 11
2.3.2. Nghiên cứu về sản xuất giống ở Việt Nam ............................................... 11
2.4. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ............................................................. 13
2.4.1. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới ........................................ 13

4.1.1.4 Chỉ tiêu NO3- ..................................................................................... 25
4.1.2. Tỷ lệ sống của ấu trùng tôm.................................................................. 26
4.1.3. Tăng trưởng của ấu trùng ..................................................................... 28
4.2. Thí nghiệm 2 ................................................................................................. 29
4.2.1. Biến động một số chỉ tiêu môi trường nước trong ương ấu trùng ...... 29
4.2.1.1. TAN (NH4+/NH3) ............................................................................. 31
4.2.1.2. Nitrite (N-NO2-)................................................................................ 32
4.2.1.3. Nitrate(N-NO3-) ................................................................................ 33
4.2.2. Tỷ lệ sống của ấu trùng tôm.................................................................. 34
4.2.3. Tăng trưởng của ấu trùng ..................................................................... 35
4.2.4. Chỉ số Stress Index ................................................................................ 36
CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ............................................................... 38
7


5.1. Kết luận ......................................................................................................... 38
5.2. Đề xuất........................................................................................................... 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 39
PHỤC LỤC .............................................................................................................. A

8


DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Các nghiệm thức của thí nghiệm 1 .............................................................. 19
Bảng 3.2 Các nghiệm thức của thí nghiệm 2 .............................................................. 19
Bảng 3.3 Cho ăn và theo dõi ấu trùng ........................................................................ 20
Bảng 3.4 Đánh giá chất lượng tôm giống ................................................................... 22
Bảng 4.1: Các yếu tố môi trường của thí nghiệm 1 .................................................... 23

Từ viết tắt

Nghĩa của từ viết tắt

BNN – PTNT

Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn

ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long

ĐLC

Độ lệch chuẩn

C

Chiều

M

Mysis

N

Nauplius

NT


11


CHƯƠNG I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Giới thiệu
Hiện nay nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới đã và đang không ngừng phát triển
mạnh mẽ và được xem đây là ngành nghề mũi nhọn của cả nước. Với nhiều đối tượng
nuôi như: tôm sú (Penaeus monodon), tôm nương (P. orientalis), tôm thẻ chân trắng
(Litopenaeus vannamei), tôm rằn (P. semisucatus). Trong đó, tôm thẻ chân trắng
(Litopenaeus vannamei) đang nuôi ở nước ta là đối tượng ngoại nhập, có nguồn gốc từ
Châu Mỹ. Đây là loài có giá trị kinh tế cao đang được người tiêu dùng ở các thị trường
lớn ưa chuộng (Mỹ là thị trường tiêu thụ tôm thẻ chân trắng lớn nhất sau đó là Châu
Âu và Nhật Bản). Nhờ thẻ chân trắng có thời gian sinh trưởng ngắn (3 – 3,5 tháng),
năng suất cao (trên 4 tấn/ha), thâm canh có thể đạt đến 20 tấn/ha và có giá trị dinh
dưỡng rất cao, dễ nuôi, lớn nhanh và sản lượng lớn (Trần Viết Mỹ, 2009). Do đó, con
giống cũng phải tăng cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu của nghề nuôi.
Tôm thẻ chân trắng lần đầu tiên gia nhập ̣ vào Việt Nam năm 2000 và được phát triển
tại nhiều tỉnh như: Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Khánh Hòa và lan rộng khắp cả
nước. Đặc biệt, từ đầu năm 2008, được sự cho phép của Bộ Nông nghiệp và PTNT,
tôm thẻ chân trắng được phép nuôi ở các tỉnh ĐBSCL nhằm đa dạng đối tượng nuôi và
đáp ứng nhu cầu thị trường. Cuối tháng 6/2008, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng của
Việt Nam đã đạt hơn 12.400 ha và đã thu hoạch hơn 12.300 tấn (Bộ Thủy sản, 2004).
Song song với việc nuôi tôm thẻ chân trắng, việc sản xuất tôm giống cũng đang là vấn
đề quan trọng hiện nay, đòi hỏi tôm giống có chất lượng, bảo đảm đúng thời gian,
đúng qui cỡ, sạch bệnh, tỷ lệ sống cao, sinh trưởng và phát triển tốt. Tuy nhiên, các
nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chất lượng nước trong giai đoạn ương ấu trùng tôm
thẻ hiện nay còn rất hạn chế, đặc biệt ngưỡng thích hợp của pH và độ kiềm chưa được
công bố. Do vậy, việc nghiên cứu chất lượng nước ương ấu trùng thích hợp là một
trong những khâu quan trọng quyết định sự thành bại của sản xuất giống nhân tạo tôm

Bộ: Decapoda
Bộ phụ: Dendrobranchiata Bate, 1888
Tổng họ: Penaeoidea
Họ: Penaeidae (họ tôm He)
Giống: Litopenaeus
Loài: Litopenaeus vannamei

Hình 2.1: Hình dạng ngoài của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)
(Nguồn Boone, 1931)

Tên gọi
Tên tiếng Anh: White Leg shrimp
Tên khoa học: Litopenaeus vannamei (Boone, 1931)
Tên thường gọi: Tôm bạc Thái Bình Dương, tôm bạc bờ Tây Châu Mỹ
Tên của FAO: Camaron patiblanco
Tên Việt Nam: Tôm Thẻ Chân Trắng
2.1.2. Đặc điểm hình thái và cấu tạo
14


Thẻ chân trắng có chủy hơi cong xuống, có 7 – 10 răng trên chủy và 2 – 4 răng dưới
chủy. Cơ thể có màu trắng, chân ngực 4 và 5 có màu trắng đục. Con đực có chiều dài
lớn nhất là 187mm và con cái là 230mm (Nguyễn Văn Thường, 2009).
Cơ thể chia làm hai phần: Đầu ngực (Cephalothorax) và phần bụng (Abdomen). Phần
đầu ngực có các đôi phần phụ, một đôi mắt kép có cuống mắt, 2 đôi râu (Anten 1 và
Anten 2). Hai đôi râu này giữ chức năng khứu giác và giữ thăng bằng, 3 đôi hàm (đôi
hàm lớn, đôi hàm nhỏ 1 và đôi hàm nhỏ 2), 3 đôi chân hàm (Maxilliped) có chức năng
giữ mồi, ăn mồi và hỗ trợ hoạt động bơi lội của tôm. Có 5 đôi chân bò hay chân ngực
(walking legs), giúp cho tôm bò trên mặt đáy. Ở tôm cái, giữa gốc chân ngực 4 và 5 có
thelycum (cơ quan sinh dục ngoài, nơi nhận và giữ túi tinh từ con đực chuyển sang).

Giai đoạn Nauplius: Trong thời kỳ này ấu trùng cứ bơi một đoạn rất ngắn rồi lại nghỉ
và lại tiếp tục bơi và rất dễ bị lôi cuốn bởi ánh sáng. Nauplius thay vỏ 4 lần (N1 đến
N5) mỗi lần kéo dài 7 giờ (theo các nhà sinh học Đài Loan thì có đến 6 giai đoạn).
Không cần cho Nauplius ăn, chúng tự nuôi sống bằng noãn hoàng có sẵn.
Giai đoạn Zoae: Sau N5 ấu trùng chuyển sang giai đoạn Zoae, giai đoạn này ấu trùng
bơi liên tục, bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài, chủ yếu là thực vật phù du. Zoae thay
vỏ hai lần từ Z1 tới Z3 trong 5 ngày, mỗi lần kéo dài 36 giờ.
Giai đoạn Mysis: Thời kỳ này ấu trùng qua 3 giai đoạn (M1, M2, M3). Mỗi giai đoạn
kéo dài 24 giờ. Mysis ăn cả thực vật phù du lẫn động vật phu du. Trong khi Nauplius
có khuynh hướng bơi gần mặt nước thì Mysis bơi hướng xuống sâu và bơi ngược, đuôi
đi trước, đầu đi sau.
Giai đoạn Postlarvae: Sau thời kỳ này thì tôm con đã có đủ các bộ phận, chúng dần
dần hướng ra biển, rời xa các cửa sông và trở thành Juvenile. Từ đây tôm trưởng thành
tôm nhỏ thay vỏ cần vài giờ, tôm lớn cần 1 – 2 ngày. Tốc độ lớn thời gian đầu 3g/tuần
(mật độ nuôi 100 con/m2), tới cỡ 30g tôm lớn chậm dần (1g/tuần). Tôm cái thường lớn
nhanh hơn tôm đực (Nguyễn Đình Vương, 2011).
2.1.5. Đặc điểm sinh trưởng và sự lột xác của tôm thẻ chân trắng
Theo Nguyễn Trọng Nho và ctv (2006), sự tăng trưởng về kích thước của tôm thẻ có
dạng bậc thang, thể hiện sự sinh trưởng không liên tục. Kích thước giữa hai lần lột xác
hầu như không tăng hoặc tăng không đáng kể và sẽ tăng vọt sau mỗi lần lột xác. Tôm
thẻ có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, tốc độ tăng trưởng tùy thuộc vào từng loài,
từng giai đoạn phát triển, giới tính và điều kiện môi trường, dinh dưỡng…
Tôm có tốc độ tăng trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi, với môi trường sinh thái phù
hợp, tôm có khả năng đạt 8 – 10g trong 60 – 80 ngày, hay đạt 35 – 40g trong khoảng
180 ngày. Tôm tăng trưởng nhanh hơn trong 60 ngày nuôi đầu, sau đó, mức tăng trọng
giảm dần theo thời gian nuôi. Tôm thẻ chân trắng lột xác vào ban đêm, thời gian giữa
2 lần lột xác khoảng 1 – 3 tuần, tôm nhỏ (< 3g) trung bình 1 tuần lột xác 1 lần, thời
gian giữa 2 lần lột xác tăng dần theo tuổi tôm, đến giai đoạn tôm lớn (15 – 20g), trung
bình 2,5 tuần tôm lột xác 1 lần (Trần Viết Mỹ, 2009).
Tuổi thọ của tôm thẻ chân trắng

Ngô Trọng Lư, 2011).
2.1.7. Đặc điểm sinh sản
Tôm thẻ chân trắng thành thục sớm, con cái có khối lượng từ 30 – 45 g/con sẽ thành
thục và có thể tham gia sinh sản. Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi ao tôm cái rất khó
thành thục, nhưng ở trong khu vực biển tự nhiên thấy có một số cá thể loài có kích
thước đầu ngực dài 40mm đã ôm trứng. Thông thường từ 12 tháng tuổi trở lên thì tôm
cái mới đạt tuổi thành thục. Ở con cái buồng trứng đầu tiên có màu trắng đục sau đó
chuyển thành màu vàng nâu hoặc xanh nâu trong những ngày đẻ trứng. Tôm đực có
nhiệm vụ đưa các túi tinh vào túi chứa tinh của con cái, con cái sẽ đẻ sau vài giờ. Sự
quấn quít nhau giữa con đực và cái bắt đầu vào buổi chiều và có liên quan chặt chẽ với
cường độ ánh sáng. Quá trình đẻ được bắt đầu bằng sự nhảy lên đột ngột và bơi nhanh
của con cái, quá trình này chỉ diễn ra trong khoảng 1 phút. Tôm thẻ chân trắng là loài
có túi chứa tinh mở (open thelycum). Trình tự của loại hình sinh sản mở là: (tôm mẹ)
17


lột vỏ – thành thục – giao vĩ – đẻ trứng. Tôm trưởng thành di cư ra vùng biển rồi sinh
sản tiếp (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2011).
Mùa sinh sản của tôm thẻ chân trắng có sự khác nhau ở các vùng biển. Ở ven biển phía
Bắc Ecuador, mùa vụ đẻ rộ từ tháng 4 đến tháng 5. Ở Peru mùa tôm đẻ chủ yếu từ
tháng 12 đến tháng 4. Số lượng trứng đẻ ra tùy theo kích cỡ của tôm mẹ. Nếu tôm mẹ
cỡ 30 – 35g thì đẻ khoảng 100.000 – 250.000 trứng, đường kính trứng khoảng
0,22mm. Sau mỗi lần đẻ hết trứng, buồng trứng tôm lại phát triển tiếp. Thời gian giữa
2 lần đẻ cách nhau 2 – 3 ngày. Con đẻ nhiều nhất lên tới 10 lần/năm. Tôm sẽ lột vỏ sau
3 – 4 lần đẻ liên tục (Bộ Thủy Sản, 2004).
2.2. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến khả năng sinh
trưởng và phát triển trong nuôi tôm thẻ chân trắng
2.2.1. Nhiệt độ
Tôm cũng như hầu hết các loài động vật sống dưới nước thuộc loại máu lạnh, nhiệt độ
cơ thể thay đổi theo nhiệt độ môi trường, vì vậy nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh

sẽ không phát triển và chậm lớn. Hơn nữa nước mặn là môi trường thuận lợi cho sự
phát triển của các bệnh do vi khuẩn vibrio gây ra, đặc biệt là bệnh phát sáng. Độ mặn
tốt nhất cho sự phát triển của tôm thẻ chân trắng từ 10 – 25‰, nếu độ mặn thấp (

trong ao, thời gian và số lần tôm phải chịu đựng tình trạng đó. Ở nồng độ oxy nhỏ hơn
4 mg/l tôm vẫn bắt mồi bình thường nhưng chúng tiêu hóa thức ăn không hiệu quả.
Hàm lượng oxy thấp như thế có thể ảnh hưởng đến tôm và dẫn đến tăng tính cảm
nhiễm bệnh. Tỷ lệ chuyển hoá thức ăn giảm và khả năng cảm nhiễm bệnh tăng sẽ làm
giảm lợi nhuận. Nếu hàm lượng oxy giảm thấp hơn nữa (2 – 3 mg/l) thì tôm sẽ ngừng
bắt mồi và yếu đi nhiều. Hàm lượng oxy thích hợp cho tôm sinh trưởng và phát triển là
lớn hơn 5 mg/l (Nguyễn Đình Trung, 2004).
Trong điều kiện oxy hòa tan luôn thấp, tôm rất lười ăn và lớn chậm dễ bị nhiễm bệnh,
còn nếu quá thấp chúng có thể chết (Lê Văn Cát và ctv, 2006).

20


2.2.6. Độ trong
Độ trong của nước ở các ao nuôi chủ yếu phụ thuộc vào số lượng và đặc tính khối chất
cái bao gồm các sinh vật sống trong tầng nước và thể vẩn lơ lửng. Độ trong do nồng
độ các chất mùn hữu cơ cao không gây nguy hiểm trực tiếp cho tôm, nhưng gây mất
cân bằng dinh dưỡng, và có thể pH giảm, dinh dưỡng thấp, hạn chế ánh sáng chiếu qua
dẫn đến quang hợp kém. Độ trong của ao nuôi tôm tốt nhất là 30 – 40cm. Độ trong quá
lớn sẽ lập tức ảnh hưởng tới tôm, khi đó tôm rất dễ bị sốc, tôm chậm lớn, phân đàn, ít
ăn và dễ nhiễm bệnh, đồng thời đáy ao dễ sinh lab lab. Nếu độ trong quá thấp (nước có
màu đậm) thì rất dễ ảnh hưởng đến hoạt động hô hấp của tôm nhất là vào ban đêm,
nguyên nhân chính là do tảo về ban ngày sẽ quang hợp nhưng về ban đêm chúng sẽ hô
hấp và làm giảm oxy trong nước. Độ trong thấp thì mang tôm rất dễ bị tổn thương (đen
mang, vàng mang) hay nhớt thân (Trần Văn Huỳnh, 2000)
2.2.7. Các khí hoà tan
Khí CO2 có trong nước là do quá trình hô hấp của động vật thủy sản và sự phân hủy
của các hợp chất hữu cơ. Khí CO2 đóng vai trò quan trọng trong đời sống của vùng
nước. CO2 là bộ phận cơ bản tham gia vào sự tạo thành chất hữu cơ trong quá trình
quang hợp. Nếu CO2 tồn tại dưới dạng khí tự do ở nồng độ cao sẽ không có lợi cho

thức to lớn, đó là làm thế nào để phát triển bền vững nghề nuôi tôm trước những đợt
dịch bệnh nghiêm trọng. Một giải pháp được nhiều quốc gia sử dụng hiện nay là đa
dạng hóa loài nuôi, đi kèm với việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các
khâu trong quy trình sản xuất nhằm tạo ra đàn giống sạch bệnh và nâng cao chất lượng
di truyền. Tôm thẻ chân trắng được xem là giải pháp lựa chọn đa dạng hóa đối tượng
trong nuôi trồng thuỷ sản ở các quốc gia Châu Á. Nhưng trước các thông tin về các đợt
dịch bệnh, gây giảm sút sản lượng nghiêm trọng ở một số quốc gia Châu Mỹ đã gây
tâm lý e ngại cho các nhà quản lý ở các quốc gia có ý định nhập, thử nghiệm và phát
triển đối tượng tôm thẻ chân trắng. Tuy nhiên những thành công của các công trình
nghiên cứu tôm sạch bệnh và cải thiện chất lượng di truyền của các nước Châu Mỹ đã
mở ra hy vọng cho việc duy trì và phát triển cho nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở các
vùng sinh thái trên thế giới ( cập nhật ngày 23/10/2011).
Vào giữa năm 1990 đã thành công trong việc sản xuất giống tôm thẻ chân trắng trên
thế giới (nguồn tôm bố mẹ có nguồn gốc từ Mỹ). Phương pháp đầu tiên được thực hiện
bởi viện Hải Dương Học, Hawaii, đã bắt đầu xây dựng giống không nhiễm bệnh từ
phương pháp chọn lọc theo kiểu chọn dòng. Vào 2002 công ty CP Group tại Thái Lan
đã xây dựng thành công trung tâm cải tiến giống tôm thẻ chân trắng đạt năng suất và tỷ
lệ sống cao ( cập nhật ngày 23/10/2011).
2.3.2. Nghiên cứu về sản xuất giống ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tôm thẻ chân trắng đã được di nhập vào từ nhiều quốc gia khác (Mỹ,
Trung Quốc) cho sản xuất giống và nuôi thương phẩm. Vì thế, để phát triển nuôi tôm
thẻ chân trắng tại Việt Nam cần phải có nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật sản
xuất giống và nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng tại Việt Nam, góp phần sử dụng
có hiệu quả hệ sinh thái các thuỷ vực nuôi là vấn đề cấp thiết và cấp bách.
Do rất thận trọng với đối tượng ngoại nhập mới, tháng 9/2001 đơn vị đầu tiên được Bộ
Thủy sản cho phép đưa tôm thẻ chân trắng vào sinh sản nhân tạo để bán ra thị trường
22


là công ty Duyên Hải ở tỉnh Bạc Liêu. Sau đó ở Phú Yên (công ty Asia Hawaii

ít chỉ chiếm khoảng 10 – 15% so với lượng giống sản xuất trên thị trường. Để phục vụ
sản xuất giống và phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng, trong những năm qua các đơn vị
khoa học của Bộ NN – PTNT đã triển khai nghiên cứu một số công trình khoa học
như: Quy trình nuôi vỗ tôm bố mẹ và cho sinh sản nhân tạo; nghiên cứu sản xuất tôm
23


thẻ chân trắng bố mẹ chất lượng và sạch bệnh có nguồn gốc nhập từ Hawaii phục vụ
sản xuất giống nhân tạo. Ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất giống tôm sạch bệnh.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực di truyền và chọn tạo đàn tôm thẻ chân trắng bố mẹ có chất
lượng cao và khả năng kháng bệnh trong điều kiện nuôi ở Việt Nam đến nay chưa có
một công trình nghiên cứu nào được thực hiện. Tôm bố mẹ không được chủ động, khó
kiểm soát do nhập từ nhiều nguồn khác nhau trở thành thách thức chính cho công nghệ
nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam (Bộ Thủy Sản, 2010).
Hiện tại tôm thẻ chân trắng đã được đưa vào nuôi rộng khắp ở các vùng nuôi tôm trên
cả nước và hiệu quả đã được khẳng định rõ. Tuy nhiên với việc nuôi tràn lan như hiện
nay thì nguy cơ ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh gây thiệt hại cho người nuôi là
điều khó tránh khỏi. Do đó cần phải tổ chức quy hoạch lại các vùng nuôi và đầu tư
nghiên cứu sản xuất giống tôm sạch bệnh là yêu cầu cấp thiết.
2.4. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới và Việt Nam
2.4.1. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới
Trên thế giới, sản lượng tôm chân trắng đứng hàng thứ hai sau tôm sú nhưng ở Châu
Mỹ sản lượng tôm chân trắng đứng hàng đầu, đạt 86.000 tấn (1990), 132.000 tấn
(1992), 191.000 tấn (1998) và đạt gần 200.000 tấn năm 1999 (Thái Bá Hồ và Ngô
Trọng Lư, 2004).
Tôm thẻ chân trắng là loài tôm được nuôi phổ biển nhất ở Tây bán cầu. Sản lượng của
loài tôm này chiếm hơn 70% (1992) và có thời kỳ chiếm tới 90% (1998) các loài tôm
he Nam Mỹ. Các nước có sản lượng cao trên thế giới như là Ecuador, Mexico,
Panama, Belize… Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở các nước này ngày càng phát triển,
sản lượng cũng tăng lên nhanh chóng, chỉ tính riêng Ecuador, là nước đứng đầu về sản

định, thì tôm thẻ chân trắng nhảy vọt lên 1,5 – 1,6 triệu tấn (năm 2006) và ước đạt 1,8
triệu tấn (2009). Đặc biệt, việc gia tăng nhanh sản lượng tôm thẻ chân trắng là do các
nước đã sản xuất được tôm bố mẹ sạch bệnh và áp dụng các biện pháp khoa học công
nghệ nâng cao năng suất, chất lượng tôm (Bộ Thủy sản, 2004).
Đặc biệt ở Thái Lan trong năm 2004 sản lượng tôm chân trắng đã đạt tới 300.000 tấn,
chiếm tỷ lệ cao trong sản xuất tôm biển với sản lượng chiếm xấp xỉ 80%. Khảo sát tại
Thái Lan cho thấy, nước này đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng đời thứ 7, sạch
bệnh. Người nuôi tôm ở Thái Lan đã nuôi thành công tôm thẻ chân trắng cỡ lớn (vượt
tôm sú), có ưu thế vượt trội về năng suất, đạt 25 – 30 tấn/ha/vụ; lợi nhuận thu được
cao gấp 2 – 3 lần so với tôm sú. Dự báo sản lượng tôm nuôi của Thái Lan năm 2008 sẽ
đạt 533.000 tấn, gồm 160.000 tấn tôm sú và 373.000 tấn tôm thẻ chân trắng. Còn tại
Philippines, Bộ Nông nghiệp nước này cũng đã dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu và nuôi tôm
thẻ chân trắng ở nước này sau những nghiên cứu kỹ lưỡng cho thấy việc nuôi tôm thẻ
chân trắng hiệu quả cao, lại không đe dọa môi trường, góp phần đa dạng sinh học.
Tôm thẻ chân trắng được thế giới công nhận là một trong ba loài tôm he nuôi có nhiều
ưu điểm và sản lượng cao nhất với nhiệt độ và độ mặn rất rộng, có thể nuôi theo nhiều
hình thức bán thâm canh, thâm canh và nuôi công nghiệp trong các ao đầm nước lợ
mặn
( />cập nhật ngày 05/06/2012).
2.4.2. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam
Tôm thẻ chân trắng là một đối tượng nuôi rất mới ở Việt Nam. Tôm thẻ chân trắng
được di nhập lần đầu tiên vào nước ta năm 2000. Tuy nhiên, do đây là đối tượng nuôi
mới và trước những diễn biến dịch bệnh tôm thẻ chân trắng trên thế giới nên việc nuôi
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status