ảnh hưởng của mật độ, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chiên (bagarius rutilus ng & kottelat, 2001) giai đoạn từ cá bột lên cá hương - Pdf 25



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG



TRẦN VĂN GIANG

ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ, THỨC ĂN ĐẾN
SINH TRƢỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ CHIÊN
(Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2001)
GIAI ĐOẠN TỪ CÁ BỘT LÊN CÁ HƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHA TRANG THÁNG 7 – 2011

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. HOÀNG THỊ BÍCH ĐÀO

NHA TRANG THÁNG 7 - 2011
i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
của tôi. Kết quả nghiên cứu này chưa được sử dụng cho bất cứ luận văn cùng cấp
nào khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
Trần Văn Giang Trần Văn Giang
iii
MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Một số đặc điểm sinh học của cá Chiên 3
1.2 Sản xuất giống nhân tạo 9
1.3. Tình hình khai thác và tiềm năng phát triển nghề nuôi cá Chiên ở
Việt Nam 10
CHƢƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Thời gian và đối tượng nghiên cứu 13
2.2. Vật liệu nghiên cứu 13
2.3. Phương pháp nghiên cứu 14
2.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14
2.3.2 Bố trí thí nghiệm 15
2.3.3 Phương pháp theo dõi thí nghiệm 18
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 19
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC 48

v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ANOVA
Phân tích phương sai
CT
Công thức
CTV
Cộng tác viên
AGR
Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày
TB
Trung bình
Sd
Độ lệch chuẩn
TN
Thí nghiệm

cá Chiên giai đoạn bột lên hương 37
Bảng 3.11: Chiều dài trung bình của cá (cm/con) khi nuôi ở các công thức
thức ăn khác nhau 37
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ sinh trưởng về chiều dài của cá
Chiên giai đoạn bột lên hương 39
Bảng 3.13: Tỷ lệ sống của cá khi ương nuôi ở các công thức thức ăn khác nhau 40
Bảng 3.14 Hệ số phân đàn của cá ương nuôi ở các thức ăn khác nhau 41
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Cá Chiên Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2001 3
Hình 1.2: Bản đồ phân bố cá Chiên ở khu vực phía Bắc Việt Nam 5
Hình 2.1: Cá Chiên thí nghiệm 13
Hình 2.2: Thí nghiệm về ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống
cá Chiên bột 16
Hình 2.3: Thí nghiệm về ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ
sống của cá Chiên bột 17
Hình 3.1: Biến động nhiệt độ trong quá trình theo dõi thí nghiêm về mật độ nuôi 21
Hình 3.2: Biến động DO trong quá trình theo dõi thí nghiêm về mật độ nuôi 22
Hình 3.3: Biến động pH trong quá trình theo dõi thí nghiêm về mật độ nuôi 23
Hình 3.4: Khối lượng trung bình của cá ở các mật độ nuôi khác nhau 25
Hình 3.5: Chiều dài trung bình của cá ở các mật độ nuôi khác nhau 27
Hình 3.6: Biến động nhiệt độ trong quá trình theo dõi thí nghiêm về thức ăn 32
Hình 3.7: Biến động DO trong quá trình theo dõi thí nghiệm về thức ăn 33
Hình 3.8. Biến động pH trong quá trình theo dõi thí nghiệm về thức ăn 34
Hình 3.9: Khối lượng trung bình của cá ở các công thức thức ăn khác nhau 36
Hình 3.10: Chiều dài trung bình của cá ở các công thức thức ăn khác nhau 39

biện pháp mang tính hủy diệt nguồn lợi cá tự nhiên như kích điện, hóa chất và việc
phá hoại điều kiện sinh sản tự nhiên cũng như môi trường sống của loài cá này, đã đẩy
chúng vào tình trạng sắp tuyệt chủng. Sách đỏ Việt Nam đã xếp cá Chiên vào diện dễ
2
bị ảnh hưởng, cần được đặc biệt chú ý [4].
Trước thực trạng về nguồn lợi cá Chiên giảm sút ở các sông suối tự nhiên của
nước ta, yêu cầu cần thiết phải phục hồi, bảo tồn, khai thác nguồn gen và bổ xung loài
mới có giá trị kinh tế cho người nuôi. Năm 2008, Trung tâm quốc gia giống thuỷ sản
nước ngọt miền Bắc đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ
sản xuất nhân tạo giống cá Chiên”, bước đầu đã cho một số kết quả khả quan. Cá bố
mẹ thành thục tốt trong điều kiện nuôi nhân tạo và bước đầu đã cho sinh sản nhân tạo
thành công. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu đạt được trong năm 2008 còn rất
hạn chế, tỷ lệ thành thục 15-20%, tỷ lệ sống của giai đoạn từ cá bột lên cá hương
tương đối thấp, trung bình chỉ đạt 9,69%. Năm 2009 tỷ lệ thành thục 46,2%, tỷ lệ sống
của cá bột lên hương đạt 69%. So với các kết quả nghiên cứu đạt được từ các loài cá
khác, kết quả nghiên cứu kỹ thuật ương từ cá bột lên cá hương đối với cá Chiên còn
thấp.
Để từng bước góp phần nâng cao tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng, cũng như
tiến tới xây dựng quy trình sản xuất giống cá Chiên, chúng tôi thực hiện đề tài “Ảnh
hưởng của mật độ, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Chiên Bagarius
rutilus Ng & Kottelat, 2001 giai đoạn từ cá bột lên cá hương”.
Các nội dung chủ yếu của đề tài là:
- Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá Chiên ương nuôi
từ giai đoạn cá bột lên cá hương.
- Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá Chiên ương nuôi
từ giai đoạn cá bột lên cá hương.
Đề tài đƣợc thực hiện sẽ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

Cá Chiên B. rutilus có thân hình trụ, thon dần về phía đuôi. Đầu rất to và bản
rộng nhưng dẹp. Hàm dưới hơi nhô ra, răng hàm nhỏ và rất sắc, 2 đôi râu cằm dài và
nhỏ, râu ngoài kéo dài đến đường thẳng đứng của viền sau mắt, râu trong tương đối
4
ngắn. Màng nắp mang chuyển dời không liền với eo mang.
Vây lưng có một gai chất xương cứng, mé sau trơn bóng, mút mềm mại, kéo
dài thành sợi, khởi điểm xa mút mõm hơn tới vây mỡ. Vây mỡ ngắn, vây hậu môn
có khởi điểm tương ứng với khởi điểm vây mỡ hoặc hơi lùi về phía sau. Vây ngực
mở rộng theo chiều ngang, mé sau gai cứng có dải răng mềm, mút sau cứng là
những tia mềm dạng tơ kéo dài và có thể kéo dài tới mút sau của vây bụng. Vây đuôi
phân chạc sâu, mút của các thuỳ kéo dài dạng tơ. Phía lưng của phần đầu và bề mặt
của thân có nhiều nốt sần nhỏ hướng dọc, phía bụng và ngực trong bóng. Xương
chẩm trên và phía lưng của gốc vây lưng không có lườn nhô dạng eo, đường bên
hoàn toàn [6].
Toàn thân cá có màu vàng xám. Ở gốc vây lưng, vây mỡ và phía trước vây
đuôi đều có một đốm ngang màu nâu đen. Toàn thân và các vây có các đốm nhỏ
màu đen phân tán. Vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi đều có một vân đốm có ranh
giới không rõ ràng [6]
1.13 Đặc điểm phân bố
Trên thế giới, cá Chiên phân bố ở Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Lào,
Campuchia, Indonesia, Trung Quốc [4]. Nơi sống của các loài trong giống Bagarius
là Nam và Đông Nam Á. Chúng phân bố ở vùng sông nước của Ấn Độ và Pakistan,
ở phía Đông (bao gồm cả bán đảo Ấn Độ) đến sông Hồng của Việt Nam và phía
Nam là toàn bộ Đông Dương bao gồm cả bán đảo Malaysia và Indonesia. B.
bagarius được biết đến từ sông Hằng, Chao Phraya, vùng sông nước Mekong, cũng
như cả ở bán đảo Malaysia và vùng sông nước Salween và Mae Klong, sông
Brahmaputra và sông Ayeyarwady. B. suchus có nguồn gốc từ lưu vực sông

thượng lưu, nơi có nhiều ghềnh thác, hiểm trở như sông Đà, sông Nậm Mu, Than
Uyên – Lai Châu, sông Thao ở Lào Cai, Sông chảy ở Yên Bái và nhiều nhất ở Sông
Gâm thuộc khu vực Na Hang, Chiêm Hoá và thị xã Tuyên Quang. Trên sông Hồng
vẫn còn bắt gặp nhưng số lượng đã rất ít và kích cỡ cá rất nhỏ hiếm gặp cá to. Hiện
nay ở Than Uyên, Lai Châu vẫn còn đánh bắt được cá cỡ 40 kg. Khu vực các tỉnh
Miền trung như Nghệ An, Thanh Hoá vẫn bắt gặp nhưng số lượng ít trên hệ thống
sông Lam, sông Mã [15].
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Chiên có bộ máy tiêu hoá đặc trưng của loài ăn động vật điển hình: Miệng
cá rộng, răng cá sắc nhọn. Tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân (Li/Lo) thấp. Tỷ lệ
Li/Lo = 124,8%, chiều dài của dạ dày/Lo = 18,9%. Tỷ lệ chiều rộng miệng/chiều dài
đầu gần bằng 47,7%. Điều đáng chú ý là tỷ lệ Li/Lo không phụ thuộc vào chiều dài
của cá một cách rõ ràng, điều này chứng tỏ là trong giai đoạn trưởng thành thức ăn
của cá không thay đổi, và chủ yếu phụ thuộc vào nơi sống [1]
Phạm Báu và ctv (2000) cho biết thức ăn của cá biến động theo mùa một cách rõ
rệt. Trong tháng 5, do thức ăn nghèo nàn nên thức ăn chính của cá Chiên là côn trùng
dưới nước (Ephenrmeroptera, Pleucoptera, Trichoptera, Tendipedidae). Trong hệ tiêu
hoá còn có các tổ côn giung Trichoptera xây bằng các loại sơ gỗ. Vào tháng 7 - 9, khi
mức nước ngập nhiều vùng, ở thời gian này thức ăn chính của cá Chiên là tôm, cua, cá
với tỉ lệ tương ứng là tôm (70%), cua (20%), cá (10%). Trong thời gian tháng 11 năm
trước đến tháng 2 năm sau khi mực nước cạn, cá chuyển sang ăn các chủng quần bám đá
(Aphelochrinus, nestevalis) hoặc Cimicoides trong họ Hemiptera và họ Heteroptera.
Cá Chiên lúc còn nhỏ ăn các loại côn giung sống dưới nước, khi lớn lên chúng
ăn chủ yếu là cá. Theo Mai Đình Yên (1983), cá Chiên từ 7cm đã bắt đầu ăn cá con.
Trong nuôi dưỡng thử nghiệm trong lồng, cá Chiên ăn mạnh các loại thức ăn như:
Giun đất, tôm, cá, bì lợn luộc [15]
7


8
trong quá trình nghiên cứu đã gặp nhiều khó khăn trong việc thu mẫu. Ông đã thu được
16 mẫu cá Chiên, có tuổi từ 4 - 13 tuổi trên tổng số 148 mẫu vật và chưa gặp trứng cá
Chiên thành thục ở tuổi 4 - 5. Cá Chiên thành thục ở lứa tuổi thấp nhất đã gặp là 6,
chiếm tỉ lệ 25%, ở lứa tuổi 7 chiếm 66% trên tổng số cá trong lứa tuổi đã gặp [1].
Nguyễn Anh Hiếu và ctv (2008), cho rằng trong quá trình nuôi vỗ nhân tạo
thực tế cá 3
+
tuổi đã thành thục phát dục và cho sinh sản [7].
Hệ số thành thục
Theo Phạm Báu và ctv (2000), cá Chiên có hệ số thành thục thấp, với 7 mẫu cá
thu được và nghiên cứu cá có chiều dài Lo từ 64 - 120cm, khối lượng từ 4,1 – 32,0 kg,
trứng thành thục ở giai đoạn 4. Hệ số thành thục của cá biến đổi từ 1,5 đến 4,7%.
Kiểm tra bằng lát cắt tế bào của cá có hệ số thành thục 4,7% thấy trứng đã đạt giai
đoạn IVb [2].
Nguyễn Anh Hiếu và ctv (2008), cũng cho rằng hệ số thành thục của cá Chiên tương
đối thấp từ 0,34 - 6,57%, trung bình đạt 4,01% ± 2,08. Sức sinh sản tuyệt đối dao động từ
9444 - 16511 trứng/cá cái, trung bình đạt 13314 ± 2584 trứng [7]. Giai đoạn phát triển
tuyến sinh dục cá Chiên được xác định theo kiểu IV – II. Khi quan sát trên tiêu bản
tổ chức học, ngoài các noãn bào giai đoạn IV còn thấy xuất hiện noãn bào giai đoạn
II và III, vì vậy có thể cá Chiên là đối tượng sinh sản nhiều lần trong năm. Cá đẻ rải
rác từ tháng 5 - 8.
Sức sinh sản
Phạm Báu và ctv (2000), tiến hành nghiên cứu trên 4 mẫu trứng thu được ở giai
đoạn IV và thấy cá Chiên có sức sinh sản thấp, sức sinh sản tuyệt đối từ 31.000 đến
48.000 trứng đối với cá cái, cỡ cá 32 kg. Sức sinh sản tương đối dao động từ 9,94 -
11,70 trứng/g cá cái, trung bình đạt 10,19 ± 1,11 trứng [2].
Theo Mai Đình Yên (1983) [16], cá Chiên cỡ 4kg có sức sinh sản tuyệt đối là
100.000 trứng trong mùa đẻ.

Thử nghiệm của Nguyễn Anh Hiếu và ctv (2008) khi sử dụng kích dục tố kích
thích sinh sản nhân tạo bằng LRH-a + Dom, não thuỳ thể cá chép, HCG. Kết quả
cho thấy sử dụng công thức 30µg LRH-a + 7mg Dom/kg cá cái, cho kết quả rụng
trứng tốt nhất (100%) trong điều kiện nhiệt độ 23,5 – 25
0
C [7].
10
1.2.3 Thụ tinh nhân tạo và ấp trứng
Theo Phạm Báu và ctv (2000), trứng cá Chiên có noãn hoàng nhỏ, khi thụ tinh
xong trứng trương nước và có xoang bao trứng lớn, đường kính trứng từ 3 - 4mm,
trứng không dính, trứng thuộc dạng bán trôi nổi [2].
Nguyễn Anh Hiếu và ctv (2008) cho biết phương pháp thụ tinh khô cho tỉ lệ
nở cao nhất đạt 62% ở nhiệt độ nước dao động từ 23,5 - 26,8
0
C. Khi nhiệt độ nước >
29
0
C tỉ lệ nở chỉ đạt từ 0 - 2%. Khi ấp trứng cá trong bể có nước chảy nhẹ và có sục
khí tỉ lệ nở đạt cao nhất > 42,0%, tuy nhiên tỉ lệ cá bị dị hình từ 12,4 – 13,8%. Khi ấp
trứng trong khay cá rô phi tỷ lệ bị dị hình 19,1 – 23,0% [7].
1.3. Tình hình khai thác và tiềm năng phát triển nghề nuôi cá Chiên ở Việt
Nam
Trước nhu cầu về sản phẩm cá Chiên thương phẩm hiện nay, sản lượng nuôi
không đáp ứng đủ nhu cầu cho thị trường, nên hoàn toàn dựa vào khai thác trong tự
nhiên. Vì vậy, nguồn lợi cá Chiên đã cạn kiệt đi rất nhiều. Nguyên nhân do việc khai
thác quá mức cho phép, khai thác mang tính huỷ diệt, khai thác vào mùa sinh sản,
kích cỡ cá chưa đủ tuổi khai thác đánh bắt và môi trường bị ô nhiễm ,việc tác động

g/con/năm. Sau đó năm 2007, tại Hà Giang đã triển khai dự án giúp nông dân nuôi cá
Chiên thử nghiệm trên sông Lô. Những kết quả bước đầu cho thấy việc nuôi cá Chiên
trong lồng, cho ăn bằng thức ăn cám trộn với giun đất, giun quế đã giúp Chiên có tốc
độ tăng trưởng khá nhanh và cho hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên khó khăn nhất trong việc
nuôi cá Chiên hiện nay là: Không có nguồn cá giống cung ứng kịp thời, con giống
hiện nay hoàn toàn dựa vào thu gom tự nhiên, bằng các hình thức khai thác lưới mắt
nhỏ, kích điện, câu. Nên chất lượng cá không đảm bảo, kích cỡ không đồng đều,
không chủ động mùa vụ nuôi và số lượng ngày càng ít, do cá bố mẹ bị khai thác tự
nhiên cạn kiệt. Vì vậy nhiều lồng nuôi hiện nay không có cá giống để nuôi [1].
Việc nuôi cá Chiên trong ao đất đã được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I
nghiên cứu thử nghiệm. Kết quả cho thấy cá có thể sống trong ao nước tĩnh tuy nhiên
kết quả tăng trưởng gần như không đáng kể. Điều này chứng tỏ rằng cá Chiên có thể
nuôi được trong ao đất, cần tạo môi trường sinh thái, như ao có nước chảy, nhất là tận
dụng các ao nước chảy trên các vùng miền núi.
Như vậy có thể khẳng định được rằng nuôi cá Chiên trên lồng là hoàn toàn có
thể. Tuy nhiên cần có các nghiên cứu và thử nghiệm về kỹ thuật nuôi, phương thức
12
nuôi từ đó dần xây dựng được quy trình và chuyển giao công nghệ nuôi cho nhân
dân. Song Phạm Báu & ctv (2001) cũng cho biết cá Chiên có tốc độ tăng trưởng
không cao khi nuôi trong lồng và rất chậm khi nuôi trong ao. Tốc độ tăng trưởng nuôi
trong lồng chỉ đạt 100 - 200 g/con/năm. Cá Chiên có sức chịu rét không cao và hay bị
chết vì bệnh [1].
Việc nuôi cá Chiên sẽ góp phần giảm áp lực khai thác tự nhiên, đồng thời góp
phần bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học và phát triển đối tượng cá quý hiếm này,
đặc biệt là loại bỏ được đối tượng ra khỏi danh sách có nguy cơ bị tuyệt chủng.
nghiệm trong thời gian 30 ngày.
14
2.2.2 Vật liệu thí nghiệm
- Thức ăn:
+ Động vật phù du được vớt ở các bể và ao của trung tâm vào lúc sáng sớm và chiều
mát. Động vật phù du được lọc rửa qua nước sạch, loại bỏ tạp chất rồi cho cá ăn.
+ Giun chỉ: Giun chỉ được thu mua ở Đông Anh – Hà Nội. Giun được nuôi giữ ở
trong các thùng xốp có nguồn nước chảy tuần hoàn, hằng ngày tiến hành thay nước
và vệ sinh loại bỏ giun chết.
+ Bột đậu tương: Sau khi được rang lên rồi cho vào máy xay, được bảo quản nơi khô
ráo, thoáng mát.
+ Trứng gà (vịt) được luộc chín, bóc lấy phần lòng đỏ. Khi cho ăn dùng vợt vớt phù
du bóp nhuyễn rồi hòa tan với nước, tạt đều khắp bể.
- Bể: Gồm 9 bể thí nghiệm composite loại 1m
3
/bể.
- Các dụng cụ khác: Cân điện tử 4 số, thước chia vạch (mm), máy đo pH, DO,
Nhiệt kế thủy ngân (100
0
C)
Nước thí nghiệm: Nước được bơm từ bể chứa qua hệ thống lọc cơ học, sau đó được
sử dụng cho các bể thí nghiệm.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Tỷ lệ sống
Mức độ phân đàn
Tập tính sống và hoạt động bắt mồi. Phân tích, đánh giá và kiến nghị
16
15% (nhằm tiêu diệt các mầm bệnh) trước khi làm thức ăn cho cá.
- Cách cho ăn: Cá được cho ăn đồng thời ĐVPD và giun chỉ, ngày cho ăn 7 lần vào
lúc (7h, 10h, 14h, 17h, 21h, 23h và 1h). Khi cho cá ăn tắt sục khí.
- Trong thời gian ương nuôi thường xuyên vệ sinh bể nuôi, xi phông thức ăn dư
thừa, theo dõi các yếu tố môi trường và duy trì chế độ chăm sóc và quản lý như nhau
ở tất cả các nghiệm thức.

Hình 2.2: Thí nghiệm về ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống cá

B7
B8
B9

Trích đoạn MĐI (1200con/m 3 ) Ảnh hƣởng của thức ăn đến sinh trƣởng của cá Chiên khi ƣơng từ bột lên hƣơng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status