nuôi kết hợp rong đá (najas sp.) và rong câu (gracilaria sp.) với tôm thẻ chân trắng (litopeneaus vannamei) ở các mật độ khác nhau - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

ĐÀO THỊ THU TRANG

NUÔI KẾT HỢP RONG ĐÁ (Najas sp.) VÀ RONG CÂU (Gracilaria sp.)
VỚI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopeneaus vannamei)
Ở CÁC MẬT ĐỘ KHÁC NHAU

LUẬN VĂN ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH SINH HỌC BIỂN

2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

ĐÀO THỊ THU TRANG

LUẬN VĂN ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH SINH HỌC BIỂN

NUÔI KẾT HỢP RONG ĐÁ (Najas sp.) VÀ RONG CÂU (Gracilaria sp.)
VỚI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopeneaus vannamei)
Ở CÁC MẬT ĐỘ KHÁC NHAU

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. NGUYỄN THỊ NGỌC ANH

Cần Thơ 12/2013

Kết quả thí nghiệm cho thấy tỉ lệ sống của tôm không ảnh hưởng bởi mật độ và
hệ thống nuôi, dao động 97-100%. Tốc độ tăng trưởng của tôm ở nghiệm thức nuôi
kết hợp tôm với rong câu (Gracilaria sp.) hoặc rong đá (Najas sp.) cao hơn có ý nghĩa
(P
2.2.2.

Vòng đời của rong câu .................................................................................. 12

2.2.3.

Phân bố .......................................................................................................... 13

2.2.4.

Hình thái, cấu tạo .......................................................................................... 14

2.2.5.

Môi trường sống ............................................................................................ 14
ii


2.2.6.

Sinh trưởng .................................................................................................... 15

2.2.7.

Thành phần sinh hóa của rong câu ................................................................ 16

2.3.

Một số đặc điểm của tôm thẻ chân trắng....................................................... 16



Thời gian và địa điểm.................................................................................... 22

3.2.

Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 22

3.3.

Vật liệu nghiên cứu ....................................................................................... 22

3.3.1.

Nguồn gốc rong đá, rong câu và tôm thí nghiệm .......................................... 22

3.3.2.

Dụng cụ và hóa chất dùng trong thí nghiệm ................................................. 22

3.3.3.

Nguồn nước thí nghiệm................................................................................. 22

3.4.

Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 23

3.4.1.

Bố trí thí nghiệm ........................................................................................... 23

Nhiệt độ ......................................................................................................... 25

4.1.2.

pH .................................................................................................................. 25

4.1.3.

Độ kiềm ......................................................................................................... 26

4.1.4.

Hàm lượng NO2- ............................................................................................ 26

4.1.5.

Hàm lượng TAN ........................................................................................... 27

4.2.

Tỉ lệ sống ....................................................................................................... 28

4.3.

Tăng trưởng về khối lượng............................................................................ 29

4.4.

Tăng trưởng về chiều dài............................................................................... 30


v


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.2.7 Thành phần sinh hóa của rong câu ............................................................ 16
Bảng 4.1 Nhiệt độ, pH và độ kiềm trung bình trong thời gian thí nghiệm .................. 25
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của tôm thí nghiệm ............................... 30
Bảng 4.4 Tăng trưởng về chiều dài của tôm theo thời gian ......................................... 31
Bảng 4.6 Hệ số tiêu tốn thức ăn ................................................................................... 33

vi


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
PL: Postlarvae
Kg: Kilogam
L: Lít
mg: Miligam
g: Gam
cm: Centimet
m: Met
TA: Thức ăn
FCR: Hệ số chuyển hóa thức ăn
DWG Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng
DLG Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài
SGR Tốc độ tăng trưởng tương đối

vii


nên cũng là một nguồn thu nhập phụ của người nuôi trồng. Mô hình kết hợp nuôi
trồng rong câu trong ao xử lý nước thải từ ao hồ nuôi tôm sú công nghiệp có hiệu
quả khá tốt trong việc giảm tải nguồn vật lơ lửng, muối dinh dưỡng vô cơ và
dinh dưỡng hữu cơ, đồng thời làm sự giảm đáng kể sự phát triển của tảo trong
nước (Quỳnh Quang Năng, 2004). Theo khảo sát của Trần Hưng Hải (2012) ở
Thừa Thiên Huế đã nhận thấy rong câu nuôi ghép với các đối tượng thủy sản

8


khác như cá đối, tôm sú, cá dìa đã thu được kết quả khả quan và có tính bền
vững cao.
Rong đá (Najas sp.) được tìm thấy xuất hiện đồng thời hoặc xen kẻ với
rong bún và rong mền khá nhiều ở các thủy vực nước lợ ĐBSCL và phát triển
xuất hiện chủ yếu vào mùa mưa khi độ mặn giảm thấp (1-15‰) trong các ao,
kênh tự nhiên, ao quảng canh… (Nguyễn Hoàng Duy (2011). Nghiên cứu của
Nguyễn Minh Đương (2012) nhận thấy nuôi kết hợp tôm sú với rong đá thu được
tăng trưởng và tỉ lệ sống tốt hơn rong bún và rong mền. Hơn nữa, các ao nuôi
tôm thâm canh mật độ nuôi cao thường gặp trở ngại về chất lượng nước. Ở
ĐBSCL, nuôi trồng và sử dụng các loài rong biển địa phương chưa được nghiên
cứu nhiều và tài liệu nghiên cứu còn rất ít. Vì thế, đề tài “Nuôi kết hợp rong đá
(Najas sp.) và rong câu (Gracilaria sp.) với tôm thẻ chân trắng (Litopeneaus
vannamei) ở các mật độ khác nhau” được thực hiện.
1.2.

Mục tiêu

Đánh giá ảnh hưởng nuôi tôm thẻ chân trắng với mật độ khác nhau kết
hợp một số loài rong đến tăng trưởng và chất lượng nước nhằm cung cấp cơ sở
khoa học góp phần cho nghề nuôi tôm bền vững ở đồng bằng sông Cửu Long.

rộng trong các thủy vực ngọt đến các thủy vực lợ mặn và sinh trưởng tốt trong
môi trường có độ mặn dao động thấp.
Các loài thuộc giống Najas thường xuyên xuất hiện trong các hồ tự nhiên,
ao nước tĩnh, nơi ít bị ảnh hưởng bởi sóng, gió. Theo một nghiên cứu so sánh về
mức độ đa dạng sinh học trong các thủy vực và hồ lớn ở Pakistan, nhóm nghiên
cứu kết luận về tính đa dạng các loài rong biển, và đánh giá được mức độ hiện
diện của Najas graminea Raffeneaa- Dehile ở các hồ tự nhiên cao hơn trong các
đập, vùng ven bờ biển tại khu vực khảo sát. Theo khảo sát khác về sự đa dạng
thành phần loài thực vật thủy sinh ở hồ lớn thuộc huyện Thiruvallur, tỉnh Tamil
Nadu Ấn Độ của Udayakumar và Ajithadoss đã báo cáo về mức độ phong phú

10


của các nhóm Najas indica, Najas minor, Najas graminea trong các hệ thống ao
hồ nhỏ của khu vực nghiên cứu. (Nguyễn Hoàng Duy, 2011)
2.1.3. Môi trường sống
Rong đá phát triển tốt trong điều kiện môi trường nước tĩnh, ít chịu tác
động bởi sóng gió. Cũng giống như các loài rong biển khác, sự phát triển của
rong đá chịu tác động của các yếu tố môi trường: ánh sáng, nhiệt độ và độ mặn.
Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của rong đá là từ 21 – 29°C, pH từ 6 – 7,2
(Nguyễn Hữu Dinh và ctv., 1993).
Kết quả khảo sát của Nguyễn Hoàng Duy (2011), về phân bố và sinh
lượng của các loài rong biển cho thấy rong đá (Najas sp.) trong thủy vực tự
nhiên ở Bến Tre được ghi nhận có năng suất cao hơn so với các loài rong khác
trong cùng khu vực khảo sát với năng suất từ 1,2 – 2,3 kg/m2 và rong đá xuất
hiện chủ yếu vào mùa mưa khi độ mặn giảm thấp trong các ao, kênh tự nhiên,
các ao quảng canh (thời gian không canh tác, thả nuôi) và ao nước thải.
Thêm vào đó, Trần Phát Đạt (2011) điều tra về vai trò và mùa vụ xuất
hiện của các loài rong biển và thực vật thủy sinh ở các tỉnh ĐBSCL. Kết quả ghi

Một số đặc điểm của rong câu

2.2.1. Phân loại
Ngành: Rhodophyta
Lớp: Floridae
Bộ: Gigartinales
Họ: Gracilariaceae
Giống: Gracilaria
Hình 2.2.1 Hình dạng rong câu chỉ vàng (Gracilaria sp.)
2.2.2. Vòng đời của rong câu
Cây bào tử và cây giao tử của Gracilaria xảy ra luân phiên trong vòng đời.
Cây bào tử bốn thành thục (2n) sinh sản (giảm phân) cho các bào tử bốn, chúng
phát triển thành cây giao tử đực và cái. Cây giao tử đực thành thục hình thành túi
tinh tử, cây giao tử cái hình thành túi trứng. Sau khi thụ tinh và cystocarp được
hình thành trên cây giao tử cái, bào tử quả (2n) được phóng ra và phát triển thành
cây bào tử bốn. Dạng cây dinh dưỡng của cây bào tử bốn, cây giao tử đực, cây
giao tử cái không có khác biệt rõ ràng.

12


Hình 2.2.2 Vòng đời của rong câu (Virge Kask, 2012)
2.2.3. Phân bố
Rong câu chỉ vàng phân bố rộng, nhưng tập trung ở vùng nước lợ mặn
ven biển. Hiện nay có khoảng 100 loài phân bố như sau: 20 loài ở biển nước ấm
châu Mỹ - Thái Bình Dương.17 loài ở biển Malaysia.9 loài ở biển Nhật Bản. 24
loài ở biển Ấn Độ Dương, 18 loài ở biển nước ấm châu Mỹ - Đại tây Dương, 10
loài ở biển bờ Đông Bắc Đại Tây Dương. Ở Việt Nam, có 16 loài, trong đó có 2
loài G. asiatita (G. verrucosa) và G. blodgettii phân bố rộng trong các ao, đầm
nước lợ và vùng triều (Lê Như Hậu, 2005).

2.2.5. Môi trường sống
Theo tài liệu của Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia (2003), điều kiện môi
trường sống thích hợp của rong câu:
- Nguồn nước: sạch và không tù đọng, độ trong cao.
- Nhiệt độ: rong câu sống được ở nhiệt độ 5-38°C (thích hợp ở nhiệt độ 20-30°C).
- Độ muối: rong câu tồn tại trong giới hạn độ muối từ 3 – 35 ‰ (thích hợp ở độ mặn
12 – 20 ‰).
- Ánh sáng: rong câu sống được trong giới hạn 50 – 30.000 lux (thích hợp từ 5.000 –
10.000 lux).
- pH: rong câu sống được ở pH từ 7 – 9 (thích hợp từ pH = 7,4 – 8,5).
- Chất đáy: thích hợp nhất cho cho việc trồng rong câu là nền đáy bùn hoặc bùn cát.
14


- Rong câu sinh trưởng tốt trong môi trường không có hoặc có lẫn rất ít một số rong
xanh (rong tóc, rong bún), rong đỏ (rong nhiều ống) hoặc một số cỏ dại khác.
2.2.6. Sinh trưởng
Theo Lê Như Hậu và Nguyễn Hữu Đại (2010), các chi rong câu sinh trưởng tương
đối chậm. Sinh trưởng ở đỉnh làm thân và nhánh dài ra, vật chất dần được tích lũy
làm thân và nhánh rộng dần lên.
- Rong câu chỉ vàng vừa sinh trưởng 1 năm (ở vùng bãi triều), vừa nhiều năm
(đầm).
-

Quá trình sinh trưởng chia làm 3 giai đoạn:
+ Thời kỳ hình thành cây mầm.
+ Thời kỳ sinh trưởng từ cây mầm đến cây thành thục.
+ Thời kỳ sinh sản và tàn lụi.
-


Thành phần sinh hóa tính theo trọng lượng khô (%) của rong câu thay đổi
khi được nuôi ở những độ mặn khác nhau (Ngô Thị Thu Thảo, 2011)
Bảng 2.2.7 Thành phần sinh hóa của rong câu
Độ mặn

2.3.

Đạm

Chất béo

Bột đường

Tro

Xơ thô

10 ‰

15,6±0,26

1,6±0,10

46,9±2,23

30,6±2,44

5,3±0,47

20 ‰

Loài: Litopenaeus vannamei
Hình 2.3.1 Hình dạng bên ngoài của tôm thẻ chân trắng

16


2.3.2. Phân bố
Tôm thẻ chân trắng có nguồn gốc từ biển xích đạo Đông Thái Bình
Dương ( biển phía Tây Mỹ La Tinh), phân bố chủ yếu ở ven biển Tây Thái Bình
Dương, châu Mỹ, từ ven biển Mexico đến miền trung Pêru, nhiều nhất ở biển
gần Ecuador. Hiện nay tôm chân trắng đã có mặt ở hầu hết các khu vực ôn và
nhiệt đới bao gồm Đài Loan, Trung Quốc và các nước ven biển thuộc Đông Nam
Á (Nguyễn Trọng Nho và ctv., 2006).
2.3.3. Môi trường sống
Tôm Thẻ chân trắng được xem là loài có sức chịu đựng cao, có sự thích
nghi mạnh đối với sự thay đổi của môi trường sống. Chúng sống được ở những
vùng nước mặn và ngọt hoàn toàn. Tôm có khả năng thích nghi rộng với độ mặn
0,5 – 45‰, thích hợp 7 – 34‰ và tăng trưởng tốt ở độ mặn thấp 10 – 15‰. (Sở
nông nghiệp và phát triển nông thôn Tp. Hồ Chí Minh, 2009). Mặc dù tôm có
khả năng thích nghi giới hạn nhiệt rộng (15-33°C), nhưng nhiệt độ thích hợp
nhất cho sự phát triển của tôm là 20 – 30°C. Nhiệt độ tối ưu cho tôm lúc nhỏ (1g)
là 300C và cho tôm lớn (12 – 18 g) là 27°C. Tuy nhiên, trong điều kiện nhiệt độ
thấp tôm mẫn cảm hơn với các bệnh do virus như bệnh đốm trắng và hội chứng
Taura (Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Bạc Liêu).
Trong vùng biển tự nhiên, tôm chân trắng ở nơi có đáy cát bùn, độ sâu

Tôm có tốc độ tăng trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi, với môi trường
sinh thái phù hợp, tôm có khả năng đạt 6 – 10g trong 60 – 80 ngày, hay đạt 35 –
40g trong khoảng 180 ngày. Tôm tăng trưởng nhanh hơn trong 60 ngày nuôi đầu,
sau đó mức tăng trưởng giảm dần theo thời gian nuôi.
Nhờ đặc tính ăn tạp, bắt mồi khỏe, linh hoạt, nên tôm chân trắng trong
quần đàn có khả năng bắt mồi như nhau, vì thế tôm nuôi tăng trưởng khá đồng
đều, ít bị phân đàn.
2.3.6. Mật độ nuôi
Appelbaum et al. (2002), thí nghiệm nuôi tôm thẻ chân trắng có khối lượng
ban đầu 0,019 ± 0,009 g, được nuôi với mật độ 2.000/m3 và 5.000/m3 ở độ mặn
2,5-3,0 ppt trong hệ thống tuần hoàn. Sau 72 ngày nuôi, tôm tăng trưởng nhanh
hơn đáng kể (p
tăng trưởng, tỷ lệ sống và thành phần sinh hóa của tôm sú. Kết quả sau 78 ngày
thí nghiệm cho thấy sự tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của tôm sú giữa
các nghiệm thức nuôi kết hợp so với nuôi đơn khác nhau không có ý nghĩa
(p>0,05). Tuy nhiên, tỷ lệ sống ở nghiệm thức đối chứng là 76,7% cao hơn các
nghiệm thức nuôi tôm kết hợp với rong biển (60,0 – 66,7%). Thành phần sinh
hóa của thịt tôm sú tương tự nhau giữa các nghiệm thức nuôi đơn và nuôi kết
hợp. Riêng thịt tôm ở các nghiệm thức nuôi kết hợp với rong mền có hàm lượng
canxi (1,01 – 1,41%) cao hơn ở nghiệm thức nuôi đơn (0,65%).
Trần Hữu Hiếu (2008), nghiên cứu mô hình nuôi kết hợp rong sụn, tôm sú
và cá rô phi. Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức, nghiệm thức đối chứng không nuôi
rong sụn, nghiệm thức I nuôi 200 g/m3 và nghiệm thức II nuôi 400 g/m3. Kết quả
thí nghiệm cho thấy các yếu tố thủy hóa như NO2-, NH4+, PO43-, NO3-, TAN ở 2
nghiệm thức nuôi ghép rong đều thấp hơn nghiệm thức đối chứng. Sau 2 tháng
nuôi, tốc độ tăng trưởng của tôm sú ở nghiệm thức nuôi kết hợp cao hơn nghiệm
thức đối chứng. Kết quả cho thấy rằng rong sụn đã có ảnh hưởng tốt tới việc cải
thiện chất lượng nước, nâng cao năng suất và chất lượng tôm sú nuôi.
Nghiên cứu của Izzati (2011), sử dụng hai loại rong biển gồm rong mơ
Sargassum plagyophyllum và rong câu Gracilaria verrucosa nuôi kết hợp với
tôm Penaeus monodon Fabr trong thời gian 30 ngày. Lượng rong biển là 2
kg/m3, mật độ tôm sú là 50 con/m3. Kết quả cho thấy năng suất tôm tăng cao, do
tỷ lệ sống, kích thước và tốc độ tăng trưởng của tôm cao. Tuy nhiên năng suất
tôm tăng cao hơn khi sử dụng rong câu Gracilaria so với rong mơ
Sargassum. Ngoài ra, nếu rong biển phát triển càng tốt thì vai trò cải thiện chất
lượng nước của rong biển càng cao.
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Đương (2012), đánh giá ảnh hưởng của
việc nuôi tôm sú kết hợp với các loại rong biển khác nhau (rong bún, rong đá và
rong mền) đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú. Kết quả về tỉ lệ sống và tăng
trưởng trong thí nghiệm này, tác giả khẳng định rằng rong đá và rong bún có thể
được xem là 2 loại rong thích hợp nhất trong mô hình nuôi kết hợp tôm-rong
hoặc với các loài thủy sản khác.

-

Rong đá (Najas sp.)

-

Rong câu (Gracilaria sp.)

-

Tôm thẻ chân trắng (Litopeneaus vannamei)

3.3.

Vật liệu nghiên cứu

3.3.1. Nguồn gốc rong đá, rong câu và tôm thí nghiệm
Rong đá (Najas sp.) và rong câu (Gracilaria sp.) được thu từ các ao nuôi
tôm quảng canh ở tỉnh Cà Mau.
Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) ở giai đoạn PL12 sẽ được
mua từ trại sản xuất tôm giống chọn tôm khỏe mạnh, sạch bệnh.
3.3.2. Dụng cụ và hóa chất dùng trong thí nghiệm
- Bể xử lý nước : sử dụng bể composit có thể tích 2m3/ bể (2 bể).
- Bể nuôi tôm: bể nhựa thể tích 150 lít ( 18 bể).
- Hệ thống sục khí: ống dẫn khí, van điều chỉnh, đá bọt, máy thổi khí.
- Dụng cụ kiểm tra môi trường: bộ test (NH4+/NH3, NO2-, KH,…).
- Máy đo độ mặn, nhiệt độ, pH, máy đo ánh sáng, cân điện tử…
3.3.3. Nguồn nước thí nghiệm
Nước ngọt được lấy từ nguồn nước máy và nước mặn được cung cấp từ
ruộng muối Vĩnh Châu, có độ mặn 80 – 100‰. Nước dùng thí nghiệm được pha


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status