TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN NAM KHÔI
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU ĐỰNG CỦA COPEPODA
(Schmackeria dubia) Ở CÁC NHIỆT ĐỘ, ĐỘ MẶN
VÀ LƯỢNG THỨC ĂN KHÁC NHAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGs. Ts. VŨ NGỌC ÚT
checked daily and cysts were checed at the end of experiments. The results of first
experiment showed that S. dubia population did not grow well in lower amount of
feed treatments. In none fed treatment, S. dubia died off after 7 days. Growth of S.
dubia population in 25% and 50% fed treatments was lower than that in 100% fed
treatment. In the second experiment, S. dubia population grew best at 20‰ with
1282±45 ind.L
-1
at day 21. The population grew slowly at higher salinity and died off
at 50, 60, and 70‰. The third experiment showed that growth of S. dubia population
decreased when tempersature increased as 34, 36, 38 and 40 ºC. Best growth was
found in 30
o
C treatment. There was no any cyst found in all experiments and
treatments in their unfavorable conditions.
TÓM TẮT
Nghiên cứu gồm 3 thí nghiệm được thực hiện trên loài copepoda, Schmackeria
dubia nhằm đánh giá khả năng chịu đựng và đẻ trứng bào xác của chúng trước sự
thay đổi của các yếu tố môi trường như thức ăn, độ mặn và nhiệt độ. S. dubia được
bố trí trong hệ thống cốc thủy tinh 1 lít với mật độ 50 cá thể/Lít và cho ăn tảo
Chaetoceros calcitrans, mật độ 500.000 tế bào/mL. Ở Thí nghiệm 1, copepoda được
bố trí ở 4 chế độ cho ăn khác nhau gồm (i) Không cho ăn, (ii) cho ăn 25%, (iii) cho
ăn 50%, và (iv) cho ăn 100% (đối chứng), mỗi nghiệm thức được lặp lại 4 lần.
Trong Thí nghiệm 2, copepoda được bố trí ở các độ mặn khác nhau gồm 20, 30, 40,
50, 60 và 70‰. Tương tự, Thí nghiệm 3 được bố trí với các nhiệt độ khác nhau gồm
30
o
C, 32
o
C, 34
o
Vòng đời copepoda phát triển qua các giai đoạn nauplius, copepodite và copepoda
trưởng thành với nhiều kích cỡ phù hợp với các giai đoạn phát triển của ấu trùng cá
biển. Do có hàm lượng dinh dưỡng cao nên chúng có thể dùng cho ăn trực tiếp mà
không cần giàu hóa, tiết kiệm được chi phí và nâng cao được tỉ lệ sống của ấu trùng.
Hiện nay nhiều nghiên cứu đang được thực hiện nhằm xây dựng và hoàn thiện qui
trình nuôi sinh khối một số loài copepoda.
Schmackeria dubia là một trong những loài copepoda có khả năng thích nghi tốt
trong môi trường nước lợ, chúng phân bố rộng khắp các thủy vực ven biển của nước
ta (Nguyễn Văn Khôi, 2001). Qui trình nuôi sinh khối S. dubia đang được nghiên
cứu trong đó việc phân lập, nuôi giữ giống thành công sẽ giúp hoàn thiện qui trình
nuôi sinh khối. Ngoài việc lưu giữ giống sống để có thể chủ động nguồn giống cho
nuôi sinh khối thì việc tìm hiểu khả năng chịu đựng và tạo trứng nghỉ của S. dubia và
việc lưu giữ trứng nghỉ sẽ giúp việc lưu giữ giống dễ dàng và tiện lợi hơn.
Do đó đề tài “Đánh giá khả năng chịu đựng của copepoda Schmackeria dubia ở các
nhiệt độ, độ mặn và lượng thức ăn khác nhau” được thực hiện nhằm đánh giá khả
năng chịu đựng của chúng trước các điều kiện môi trường bất lợi và khảo sát khả
năng tạo ra trứng nghỉ của chúng trong các điều kiện này nếu có nhằm phục vụ cho
việc hoàn thiện qui trình nuôi loài này trong tương lai.
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Thủy sản trường Đại học Cần Thơ. S.
dubia được thu từ vùng ven biển Vĩnh Châu (Sóc Trăng) bằng lưới phiêu sinh kích
thước 60µm sau khi được phân lập, hiện đã được nuôi và giữ giống tại Phòng thí
nghiệm thức ăn tự nhiên, Bộ môn Thủy sinh học ứng dụng phục vụ cho các thí
nghiệm.
Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của thức ăn lên khả năng chịu đựng và tạo trứng nghỉ.
Copepoda được bố trí 4 nghiệm thức bao gồm nghiệm thức 1 không cho ăn, nghiệm
thức 2 cho ăn 25%, nghiệm thức 3 cho ăn 50%, nghiệm thức 4 cho ăn 100%. Mỗi
nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lập lại, kết hợp cho ăn và
thay nước mỗi ngày một lần vào lúc 7 – 9 giờ sáng, thức ăn là tảo Chaetoceros
calcitrans với mật độ 500.000 tế bào/mL, tương ứng với 100% lượng thức ăn dựa
lại 4 lần. Nhiệt độ ban đầu bố trí là 30
o
C và được tăng lên mỗi ngày 2
o
C đến khi đạt
nhiệt độ của từng nghiệm thức thì dừng lại. Nhiệt độ được điều chỉnh bằng dụng cụ
tăng nhiệt. Tảo Chaetoceros calcitrans được dùng làm thức ăn với mật độ là 500.000
tế bào/mL. Thí nghiệm được bố trí trong hệ thống cốc thủy tinh 1 lít có sục khí nhẹ
liên tục, mật độ copepoda ở mỗi cốc ban đầu là 50 cá thể/500ml. Thời gian thực hiện
là 30 ngày.
Các thông số theo dõi
Chỉ tiêu môi trường như nhiệt độ, độ mặn, pH, được theo dõi mỗi ngày vào lúc 8 - 9
giờ. TAN, NO
2
-
được thu 7 ngày/lần và được phân tích bằng phương pháp so màu
Diazonium (TAN) và phương pháp so màu Indophenol-blue (NO
2
-
) (APHA et al.,
1999).
Mật độ copepoda được thu 3 ngày/lần, sau đó cô đặc qua lưới phiêu sinh và đếm
trên kính lúp điện bằng buồng đếm Bogorov.
Trứng nghỉ được theo dõi bằng cách hút lớp cặn ở dưới đáy cốc và quan sát trên kính
hiển vi. Theo dõi từ ngày đầu bố trí đến khi kết thúc thí nghiệm.
Số liệu được xử lý bằng chương trình Exel 2007 và so sánh thống kê bằng phương
pháp phân tích ANOVA với phần mềm Statistica.
3 KẾT QUẢ
(Hình 3.2).
Hình 3.1 Sự biến động TAN giữa các nghiệm thức trong Thí nghiệm 1
Hình 3.2 Sự biến động NO
2
-
giữa các nghiệm thức trong Thí nghiệm 1
3.1.2 Mật độ Schmackeria dubia
Trong suốt quá trình thí nghiệm có sự ảnh hưởng rõ rệt của lượng thức ăn lên sự phát
triển của quần thể S. dubia (P<0,05). Ở nghiệm thức hoàn toàn không cho ăn quần
thể copepoda giảm rõ rệt và chết hoàn toàn ở ngày thứ 7 của thí nghiệm. Ở nghiệm
thức cho ăn 25% khẩu phần quần thể S. dubia có sự tăng trưởng chậm đạt mật độ cao
nhất (453±42 cá thể/L) ở ngày thứ 9 và sau đó giảm dần đến cuối thí nghiệm. So với
nghiệm thức cho ăn 25%, nghiệm thức cho ăn 50% và 100% quần thể S. dubia phát
triển tốt lần lượt đạt mật độ cao nhất 1.068±136 cá thể/L và 1.125±51 cá thể/L ở các
ngày 15 và 12 của thí nghiệm và khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa 2 nghiệm
thức này (P>0,05). Sự biến động số lượng S. dubia được trình bày ở Hình 3.3.
5 Hình 3.3 Sự biến động số lượng cá thể Schmackeria dubia giữa các nghiệm thức trong thí nghiệm
1(cá thể/L)
Quần thể S. dubia tăng tưởng mạnh khi được cung cấp thức ăn đầy đủ ngược lại
chúng phát triển yếu khi nguồn thức ăn bị hạn chế. Do cạnh tranh về không gian
sống và nguồn thức ăn nên quần thể copepoda ở mỗi nghiệm thức chỉ phát triển được
đến một mật độ nhất định.
Qua thí nghiệm cho thấy rằng quần thể S. dubia phát triển tốt nhất ở nghiệm thức cho
Nồng độ nitrite tăng liên tục trong suốt quá trình thí nghiệm cụ thể cao nhất vào ngày
30 ở nghiệm thức độ mặn 40‰ nồng độ đo được là 2±0 mg/L, kế đến là 1,75±0,43
mg/L ở nghiệm thức 30‰ và 1,25±0,43 mg/L ở nghiệm thức 20‰. Các nghiệm thức
còn lại quần thể copepoda suy tàn trước khi thí nghiệm kết thúc (Hình 3.5). Hình 3.5 Sự biến động NO
2
-
giữa các nghiệm thức trong Thí nghiệm 2
3.2.2 Mật độ copepoda Schmackeria dubia
Quần thể copepoda đạt cao nhất ở nghiệm thức 20‰ vào ngày 21 với 1.282±45 cá
thể/L, khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với các nghiệm thức còn lại (mật độ
rất thấp). Ở nghiệm thức 30‰ đạt mật độ 605±49 cá thể/lít và 40‰ là 172±33 cá
thể/lít. Riêng các nghiệm thức 50‰, 60‰, 70‰ quần thể suy tàn trước khi thí
nghiệm kết thúc. Như vậy quần thể S. dubia vẫn có thể phát triển ở 40‰ nhưng độ
mặn càng lên cao thì quần thể càng kém phát triển, độ mặn từ 20‰ - 30‰ thích hợp
cho sự phát triển của S. dubia (Li et al. 2008). Mật độ của copepoda trong các
nghiệm thức được trình bày ở Hình 3.6.
Tương tự như ở thí nghiệm 1, trứng nghỉ cũng không phát hiện được trong các
nghiệm thức có độ mặn rất cao mặc dù quần thể phát triển kém hoặc suy tàn.
7 Hình 3.6 Mật độ Schmackeria dubia ở các nghiệm thức trong thí nghiệm 2 (cá thể/L)
3.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên khả năng chịu đựng và tạo trứng nghỉ.
3.3.1 Các yếu tố môi trường
Nhiệt độ được bố trí phù hợp theo yêu cầu của từng nghiệm thức. pH dao động từ 8,1
ngày thứ 6 của thí nghiệm. Qua thí nghiệm ta thấy ở mức nhiệt độ 36ºC quần thể
copepoda vẫn có thể tồn tại nhưng nhiệt độ càng tăng cao thì số lượng copepoda
càng giảm, lúc này nhiệt độ như một yếu tố bất lợi đối với chúng. Ở nhiệt độ 40ºC
quần thể hầu như không phát triển được và nhanh chóng suy tàn. Trong thí nghiệm
nhiệt độ mật độ S. dubia cao hơn hẳn hai thí thức ăn và độ mặn là do nhiệt độ ổn
định trong suốt thời gian thí nghiệm. Mật độ copepoda của từng nghiệm thức được
trình bày ở Hình 3.9. Trứng nghỉ cũng không được tìm thấy trong các điều kiện bất
lợi của nhiệt độ cao.
Hình 3.9 Sự biến động số lượng cá thể Schmackeria dubia giữa các nghiệm thức
trong thí nghiệm 2(cá thể/L)
9
4 THẢO LUẬN
Quần thể S. dubia phát triển nhanh khi được cung cấp thức ăn đầy đủ, khi thức ăn
trong môi trường giảm đi thì mật độ S. dubia cũng suy giảm theo. Theo Nguyễn
Khắc Nguyên (2013) quần thể S. dubia sẽ tăng lên nhanh chóng khi được cung cấp
tảo với mật độ cao. Mật độ copepoda không chỉ phụ thuộc vào mật độ thức ăn mà
còn phụ thuộc vào thành phần có trong thức ăn mà copepoda sử dụng. Khi được cung
cấp 25% khẩu phần thức ăn thì quần thể S. dubia vẫn phát triển được với số lượng
nhất định.
Schmackeria dubia là loài có khả năng thích nghi với độ mặn thấp nên quần thể phát
triển mạnh ở 20‰, độ mặn càng cao thì quần thể càng khó phát triển. Theo Liên
Trường Đăng Khoa (2013) ở độ mặn 20‰ quần thể S. dubia phát triển nhanh và mật
độ cao nhất (3.367±528 cá thể/L). Li et al., (2008) chỉ ra rằng quần thể S. dubia phát
triển tốt ở độ mặn 20‰ - 30‰, độ mặn càng lên cao hoặc xuống thấp đều ảnh hưởng
khi ở ngưỡng dưới 30ºC.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Liên Trường Đăng Khoa, 2013. Xác định mật độ và độ mặn thích hợp nuôi loài copepoda
Schmackeria dubia.
10
Nguyễn Khắc Nguyên, 2013. Xác định loại thức ăn và mật độ thức ăn thích hợp nuôi sinh khối loài
copepoda Schmackeria dubia.
Nguyễn Thị Kim Liên, 2005. Tìm hiểu sự phân bố và khả năng nuôi sinh khối copepoda Microsetella
norvegica, Luận văn tốt nghiệp cao học. Trường Đại học Cần Thơ.
Nguyễn Văn Khôi, 2001. Động vật chí Việt Nam, Phân lớp chân mái chèo – Copepoda, Biển. Nhà
xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 385 trang.
Vũ Ngọc Út, Dương Thị Hoàng Oanh, 2012. Giáo trình thực vật và động vật thủy sinh.
Changling Li, Xiaoxia Luo, Xianghu Huang , and Binhe Gu, 2008. Effects of Temperature, Salinity,
pH, and Light on Filtering and Grazing Rates of a Calanoid Copepod (Schmackeria dubia).
David Devreker, Sami Souissi , Laurent Seuront , 2003. Development and mortality of the first
naupliar stages of Eurytemora affinis (Copepoda, Calanoida) under different conditions of salinity and
temperature.
Farhadian O. (2006) Culture of planktonic cyclopoid Apocyclops dengizicus (Lepeshkin, 1900) and
its suitability as live feed for giant black tiger shrimp, Penaeus monodon Fabricius (1798), postlarvae.
Doctoral Thesis, Faculty Science, Uni – versit Putra Malaysia, 301pp.
Patrick Lavens & Patrick Sorgeloos, 1996. Cẩm nang sản xuất & sử dụng thức ăn sống để nuôi thủy
sản.
Grice, G.D., Marcus, N.H., 1981. Dormant eggs of marine copepods. Oceanogr. Mar. Biol. Annu.
Rev. 19,125–140.