1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ TRỌNG NHÂN THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM CÀNG XANH TRONG MÔ
HÌNH LUÂN CANH 2 VỤ TÔM 1 VỤ LÚA TẠI HUYỆN
THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2014
2
THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM CÀNG XANH TRONG MÔ
HÌNH LUÂN CANH 2 VỤ TÔM 1 VỤ LÚA TẠI HUYỆN
THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
Lê Trọng Nhân
Khoa Thủy sản, Trường Đại Học Cần Thơ
ABSTRACT
Experiment the stocking of giant freshwater prawn (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879)
in the rotational culture with two crops of prawns alternate with one crop of rice at Thoai Son
District, An Giang Province, to increase income for culturist and contribute to building a
complete technical processes the stocking of giant freshwater shrimp in paddy fields. The study
was carried – out at two paddies where each field was 1 hactare. Prawns were stocked in
nursing ponds, beside paddy, with stocking density of 50 inds/m
2
. After 2.5 months reared in
nursing pond, male prawns were selected and stocked in rice paddies. Those prawns were
harvested after 3.5 months.
The results showed that environmental factors (temperature, turbidity, pH, DO, ammonium
COD, PO
4
-
, H
2
S) in dry season was unfavorable than rainy season but these factors was suitable
range for giant freshwater prawns grow and develop. After 6 months culturing period of dry
season, average weight fluctuated from 49,6 – 56 g/ind. Survival rate fluctuated from 32 – 36%.
Production fluctuated from 935 – 1.112 kg/ha. Profits varied from 30,309 – 82,137, millions VN
Dong/ha. Profit rate fluctuated from 19,8 – 53,6%. After 7 months culturing period of rainy
season, average weight changed from 62.1 – 69.6 g/ind. Survival rate ranged from 33 – 33%.
Production fluctuated from 1.421 – 1.543 kg/ha. Profits fluctuated from 96,563 – 106,335
19,8 – 53,6%. Ssau chu kỳ nuôi 6 tháng ở vụ mùa mưa, khối lượng trung bình dao động từ 62,1
– 69,6g/con. Tỉ lệ sống dao động từ 32 – 33%. Năng suất dao động 1.421 – 1.543 kg/ha. Lợi
nhuận dao động 96,563 – 106,335 triệu đồng/ha. Tỉ suất lợi nhuận dao động 72 – 73%.
1. GIỚI THIỆU
Tôm Càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là loài sống chủ yếu ở nước ngọt, có
kích thước lớn nhất trong các loài tôm nước ngọt, có chất lượng thịt thơm ngon là một
trong những đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế, giá cao lời nhiều, mang lại nguồn thu
nhập đáng kể cho người nuôi. Tuy nhiên những năm gần đây diện tích nuôi tôm càng
xanh ở nhiều địa phương vùng ĐBSCL có xu hướng sụt giảm. Riêng ở tỉnh An Giang,
đến cuối năm 2011 thống kê diện tích nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa luân canh chỉ
còn khoảng 390 ha (Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư An Giang, 2011). Nguyên
nhân là do có nhiều yếu tố chi phối được ghi nhận như: (1) thiếu giống cả về số lượng lẫn
chất lượng cung cấp cho mô hình nuôi, đặc biệt lưu ý về chất lượng con giống, tỉ lệ sống
tôm nuôi thương phẩm thấp và biến động lớn, (2) thiếu vốn xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ
tầng vận hành hệ thống nuôi, (3) giá con giống và thức ăn tăng cao, (4) sức sản xuất sinh
học trong mô hình ương nuôi thấp, (5) thiếu kiến thức kỹ thuật về quản lý, cải thiện chất
lượng nước.
Năm 2012, kết quả thực nghiệm 2 mô hình nuôi tôm càng xanh luân canh trong ruộng
lúa ở xã Phú Thuận huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang, (1) Nuôi tôm càng xanh luân canh
trên ruộng lúa với mật độ 15 con/m
2
vận hành theo phương pháp truyền thống và (2) Cải
tiến phương pháp ương nuôi giống tôm càng xanh trong ao đất, mật độ cao 50 con
post
15
/m
2
, sau thời gian ương 2,5 tháng, tiến hành chọn lọc tôm đực, đồng đều về kích cỡ
để thả nuôi thêm 3 tháng trên ruộng lúa với mật độ trung bình 4 con tôm đực/m
2
Vụ 1 (Mùa khô) Vụ 2 (Mùa mưa)
Hình 1. Lịch thời vụ
Ruộng lúa bắt đầu gieo xạ vào ngày 2/11/2013, khi gieo xạ được 45 ngày thì tiến
hành thả tôm ương trong ao (ngày 16/12/2014). Lúa đông xuân thu họach vào ngày
17/2/2014 thì tiến hành cải tạo ruộng nuôi (30 ngày đến ngày 17/3/2014), lúc này tôm
ương nuôi trong ao được 80 ngày tuổi tiến hành kéo tôm trong ao, tuyển lựa các con tôm
đực tốt và đồng đều về kích cỡ (những con đực lớn trong đàn, 2 càng lớn tôm có màu
cam) chuyển ra ruộng nuôi, tôm cái hoặc tôm càng xào (tôm đực nhưng 2 càng của tôm
chuyển sang màu xanh) thì thu hoạch, những con tôm đực còn nhỏ sẽ để lại trong ao
nuôi tăng cường các chất bổ dưỡng để tôm phát triển nhanh, nuôi thêm 1 tháng (ngày
15/1/4/2014) thì chuyển hết số tôm đực trong ao qua ruộng nuôi để chuẩn bị cải tạo ao
ương vụ tôm thứ hai trong năm (ngày 1/5/2014 thả giống đến ngày 27/7/2014 tuyển lựa
tôm đực). Tôm nuôi trên ruộng thêm 3 tháng (chu kỳ nuôi tôm càng xanh là 6 tháng, thời
gian ương trong ao 3 tháng và nuôi trên ruộng 3 tháng) thì tiến hành thu hoạch (ngày
16/6/2014) để chuẩn bị cải tạo ruộng cho vụ nuôi tôm thứ 2 trong năm (ngày 29/7/2014
chuyển tôm đực ra ruộng nuôi vụ 2 và đến ngày 30/10/2014 thì thu hoạch toàn bộ để
chuẩn bị sạ lúa đông xuân năm tiếp theo).
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực nghiệm nuôi trong 2 ruộng lúa có diện tích nuôi là 1 ha/ruộng.
11
12
01
02
03
04
05
06
07
08
09
4
+
, P-PO
4
3-
, Oxygen thì dùng
bộ test tại chổ, nhiệt độ thì dùng nhiệt kế đo, ( đối với Oxygen đo tầng mặt cộng tầng
đáy lúc 6 giờ). Độ trong được đo bằng đĩa secchi. Mẫu tôm nuôi được thu hàng tháng
với số mẫu là 30 con/ruộng để theo dõi khối lượng trung bình, tốc độ tăng trưởng tuyệt
đối (DWG). Tỷ lệ sống, năng suất và sự phân hóa sinh trưởng về khối lượng của tôm
được xác định lúc thu hoạch.
Hiệu quả kinh tế mang lại từ mô hình nuôi được tính toán và so sánh. Tổng chi phí
xây dựng mô hình bao gồm: (1) chi phí cố định: khấu hao công trình ao nuôi, máy bơm
nước, lưới kéo tôm, (2) chi phí biến đổi bao gồm chi phí cải tạo ruộng nuôi, vôi bột, dây
thuốc cá, phân bón, tôm giống, thức ăn, nhiên liệu, công thu hoạch.
Hiệu quả kinh tế của tôm vụ 2
+ Tổng thu (vụ 2) = Tổng sản lượng tôm thu hoạch (kg) x Giá (đồng/kg).
+ Lợi nhuận (vụ 2) = Tổng thu – Tổng chi ((1) chi phí cố định + (2) chi phí biến đổi)
+ Tỷ suất lợi nhuận (vụ 2) (%) = (Lợi nhuận/ Vốn đầu tư) x 100
Hiệu quả kinh tế của mô hình
7
Tổng thu = Tôm vụ 1 + Tôm vụ 2 + Vụ lúa + hoa màu
Tổng chi = Chi phí tôm vụ 1 + Chi phí tôm vụ 2 + Chi phí vụ lúa + Chi phí hoa màu
Lợi nhuận = Tổng thu - Tổng chi
Tất cả số liệu được thu thập, phân tích và xử lý bằng chương trình Excel để so sánh
và đánh giá kết quả của hệ thống nuôi.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các yếu tố thủy lí
Bảng 1. Các yếu tố thủy lí
các tháng tiếp theo các ruộng nuôi có hàm lượng vật chất hữu cơ và số lượng các phiêu
sinh động thực vật khá phong phú, độ trong của mùa khô thấp hơn mùa mưa là do mùa
khô hoat động thay nước khó hơn mùa mưa. Theo Trương Quốc Phú (2003) độ trong
thích hợp cho ao nuôi tôm khoảng 30 – 40 cm. Qua đó cho thấy độ trong của các ruộng
nuôi tôm càng xanh ở An Giang là thích hợp cho sự phát triển của tôm càng xanh. Kết
quả thực nghiệm nuôi cho thấy giá trị pH ở các ruộng nuôi tôm dao động từ 7,5 – 7,8,
nhận định của Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003) cho rằng pH từ 7,5 – 8,5 là khoảng
thích hợp cho các loài phiêu sinh vật phát triển tạo môi trường đệm cho sự phát triển của
tôm nuôi, từ đó có thể thấy rằng, với giá trị pH nước từ các ruộng nuôi ở mùa mưa thu
được hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của tôm.
3.2. Các yếu tố thủy hóa
Bảng 2 Các yếu tố thủy hóa
Mùa
vụ
Ruộng
nuôi
Oxy (ppm)
NH
4
(ppm)
PO
4
(ppm)
H
2
S (ppm)
COD
(ppm)
Mùa
mưa
thấp ở các tháng đầu vụ và cao ở các tháng cuối vụ do việc sử dụng thức ăn
thừa, quản lí môi trường chưa tốt. Theo Nguyễn Văn Thường (2007), hàm lượng NH
4
+
thích hợp là 0,2 – 2 ppm. Nhìn chung suốt vụ nuôi hàm lượng ammonia này không gây
ảnh hưởng bất lợi cho tôm càng xanh phát triển tốt trong ruộng.
Qua khảo sát cho thấy, hàm lượng PO
4
3-
dao động trung bình 0,09 ± 0,01 ppm kết
quả này thấp hơn so với Trần Quang Trí (2009) là trung bình từ 0,18 ± 0,05 ppm đến
0,20 ±0,07 ppm và cao hơn so với kết quả của Huỳnh Tấn Đạt (2009) từ 0,05 ± 0,03
ppm tới 0,1 ± 0,06 ppm, nhưng nhìn chung thì hàm lượng lân trong nước vẫn thích hợp
cho sự phát triển của tôm nuôi.
.
Hàm lượng COD trong các ruộng nuôi ở vụ mùa khô dao động từ 17,0 – 17,2 ppm
cao hơn vụ mùa mưa dao động từ 15,2 – 16 ppm do mùa mưa chủ động được nguồn
nước thay, so với Huỳnh Tấn Đạt (2009) thì thấp hơn 17,7 ± 7,39 ppm –20,7 ± 10,1 ppm
chỉ tiêu này chỉ thị môi trường ở mức độ dinh dưỡng khá theo tiêu chuẩn đánh giá chất
lượng nước trong các loại hình thủy vực giàu hay nghèo dinh dưỡng của Đặng Ngọc
Thanh (1979).
Hàm lượng H
2
S trong các ruộng nuôi ở vụ mùa khô dao động từ 0,05 - 0,07 ppm
thấp hơn so với vụ mùa mưa dao động từ 0,07 – 0,08 ppm do vụ mùa mưa sử dụng thức
ăn tươi sống nhiều nên hàm lượng H
2
S cao hơn. Theo Boyd (1990), hàm lượng H
DWG (đầu)
0,01
0,01
30 ngày
W(g)
1,0 ± 0,5
1,2 ± 0,5
DWG (g/ngày)
0,03
0,04
60 ngày
W(g)
7,0 ± 2,0
6,4 ± 3,7
DWG (g/ngày)
0,2
0,17
90 ngày
W(g)
15,6 ± 9,0
16,2 ± 8,4
DWG (g/ngày)
0,29
0,33
120 ngày
W(g)
31,2 ± 16,3
động trung bình từ 62,1 – 69,6 g/con. Nhìn chung thì tốc độ tăng trưởng trên ngày từ tháng
đầu tăng dần về sao do có sự tuyển lựa sang thưa, tôm nuôi vào mùa mưa có sự trao đổi
nước thường xuyên, điều kiện môi trường nước tốt nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào nên
tôm có điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt, kích cỡ tôm thu được lớn hơn so với các
nghiên cứu trước đây của Lê Quốc Việt (2005), thực hiện tại các ruộng lúa ở tỉnh Vĩnh
Long đạt khối lượng dao động từ 32 – 38 g/con, nhưng kết quả này khá phù hợp với
nghiên cứu của Trần Tấn Huy và ctv (2004), tôm nuôi trong ruộng lúa ở mùa lũ đạt khối
lượng trung bình 47,9 – 67,1 g/con, và cao hơn đề tài thực nghiệm nuôi tôm càng xanh
trên nền đất lúa vào mùa khô tại huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp của Huỳnh Tấn Đạt
(2009) khối lượng tôm trung bình là 44,5 – 49,83 g/con.
3.4 Tỷ lệ phân hóa sinh trưởng về khối lượng
10 Ghi chú: Tôm loại 1 ≥ 50g, Loại 2 20g – 49g, Tôm xô < 20g
Hình 2: Tỷ lệ phân hóa sinh trưởng về khối lượng
Trong quy trình nuôi tôm càng xanh theo 2 giai đoạn tôm đực tốt được tuyển chọn
nuôi trong ruộng với mật độ trung bình 3,7 con/m
2
ở ruộng 1 và 3.6 con/m
2
ở ruộng 2
mật độ thưa kết hợp với cho tôm ăn thêm thức ăn tươi sống nên tôm nuôi phát triển
tương đối tốt. Tôm thu hoạch đạt loại 1 và 2 trong vụ mùa khô ở ruộng 1 lần lượt là 57%
và 31%, ở ruộng 2 làn lượt là 46% và 58%. Tôm loại 1 và loại 2 trong vụ mùa mưa ở
ruộng 1 lần lượt là 78% và 18%, ở ruộng 2 lần lượt là 81% và 15%. Tôm loại 1 và loại 2
trong vụ mùa mưa cao hơn mùa khô do mùa mưa nguồn thức ăn tươi sống dồi dào,
nguồn nước tốt nên tôm phát triển ngược lại thì vào mùa khô khó khăn trong việc trao
đổi nước người nuôi hạn chế sử dụng thức ăn tươi sống chỉ sử dụng thức ăn công
nghiệp, điều này làm cho tôm giảm tăng trưởng và tăng giá thành sản phẩm. So với kết
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
Tôm loại 1 Tôm loại 2 tôm xô
Vụ mùa khô
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
Tôm loại 1 Tôm loai 2 Tôm xô
Vụ mùa mưa
Ruộng 1
Ruộng 2
11
mùa khô là 34% và mùa mưa là 32,5% tỉ lệ sống ở mùa mưa thấp hơn mùa khô là do
mùa mưa ương tôm với mật độ cao hơn nên khả năng tôm ăn lẫn nhau cao làm cho tỉ lệ
sống giảm. Theo Nguyễn Văn Hảo và ctv. (2002) thì mô hình nuôi tôm càng xanh trong
ao đất mật độ 19 và 27 con/m
2
145,295
140,106 ± 7,340
154,800 ± 2,090
Tổng thu (ha)
231,148
251,631
241,390 ± 14,500
211,023 ± 38,734
Lợi nhuận (ha)
96,563
106,335
101,449 ± 6,900
56,223 ± 36,648
Tỷ suất lợi nhuận (%)
72
73
73 ± 0,71
36,2 ± 23,8
Lợi nhuận (lúa + hoa màu)/ha/năm 35,570
Lợi nhuận trung bình/ha/năm 193,242
Từ kết quả ở bảng 6 ta thấy chi phí vào mùa mưa thấp hơn mùa khô, do mùa khô
chất lượng nguồn nước giảm đòi hỏi người dân phải hạn chế thức ăn tươi sống và tăng
thức ăn công nghiệp, đồng thời chi phí thay nước và hóa chất xử lí nước cao nên chi phí
Vụ nuôi
Ruộng
Năng suất (Kg/ha)
Mùa khô
Trung bình
1.032 ± 79,5
Mùa mưa
212,8 triệu đồng/ha/năm cao hơn so với Trần Văn Hận (2012) là tổng lợi nhuận mang lại
từ mô hình trên ha/năm bao gồm 1 vụ tôm + 1 vụ lúa đạt dao động từ 102,2 – 135,7 triệu
đồng/ha/năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy nuôi tôm càng xanh trong mô hình luân canh
2 vụ tôm 1 vụ lúa tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang mang lại lợi nhuận cao hơn so với
các nghiên cứu trên trong cùng hệ thống nuôi tôm càng xanh luân canh trên ruộng lúa,
góp phần tăng thêm lợi nhuận cho người nuôi tôm càng xanh tại huyện Thoại Sơn, tỉnh
An Giang.
4. KẾT LUẬN
Trong quá trình thực nghiệm, các yếu tố thủy lý hoá trong các ruộng nuôi tôm
không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng , phát triển của tôm.
Sau chu kỳ nuôi 6 tháng ở vụ mùa khô, khối lượng trung bình dao động từ 49,6 -
56g/con. Tỉ lệ sống dao động từ 32 - 36%. Năng suất dao động 935 – 1.112 kg/ha. Lợi
nhuận dao động 30,3 – 82,1 triệu đồng/ha. Tỉ suất lợi nhuận dao động 19,8 - 53,6%.
13
Sau chu kỳ nuôi 6 tháng ở vụ mùa mưa, khối lượng trung bình dao động từ 62,1 –
69,6g/con. Tỉ lệ sống dao động từ 32 – 33%. Năng suất dao động 1.421 – 1.543 kg/ha.
Lợi nhuận dao động 96,7 – 106,3 triệu đồng/ha. Tỉ suất lợi nhuận dao động 72 – 73%.
Qua kết quả thực nghiệm cho thấy, nếu người dân áp dụng đúng các giải pháp kỹ
thuật, thực hiện đúng lịch thời vụ hoàn toàn có khả năng tăng thêm một vụ tôm trên
ruộng lúa trong năm (2 vụ tôm + 1vụ lúa), sẽ tăng năng suất, sản lượng và tăng thu nhập
cho người dân trên cùng diện tích canh tác trên năm.
5. ĐỀ XUẤT
Hệ thống nuôi phải gần sông lớn để có thể dễ dàng chủ động nước khi thấy ruộng
nuôi có hiện tượng nhiễm bẩn đặc biệt là vào mùa khô khi quá trình thay nước diễn ra
khó khăn, trong hệ thống nuôi cần có ao lắng để xử lý nước trước khi cấp vào ao trong
mùa khô.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Boyd, 1990. Water quality in pond for aquaculture. Agriculture Experiment
Station.Auburn University.
xanh (Macrobrachium rosenbergii) thâm canh trong ao đất ở hai huyện Phước Long và
Hòa Bình – Bạc Liêu.
13. Trần Tấn Huy, Tạ Văn Phương và Dương Thị Hoàng Oanh, 2004. Thực nghiệm nuôi
tôm càng xanh theo mô hình tôm lúa ở Thoại Sơn, An Gian, Tạp chí khoa học Đại học
Cần Thơ chuyên ngành thủy sản, nhà xuất bản Nông Nghiệp, 230 – 239 pp.
14. Trần Thanh Hải, 2004. Xây dựng mô hình nuôi tôm luân canh trong ruộng lúa tại huyện
Ô - Môn, Tp Cần Thơ. Báo cáo đề tài Sở Khoa học Cần Thơ. 54 pp.
15. Trần Văn Hận, 2010. Khảo sát tăng trưởng, tỉ lệ sống và năng suất tôm càng xanh nuôi
mật độ khác nhau trong mô hình tôm – lúa luân canh tại huyển Tam Nông – tỉnh Đồng
Tháp. Luận văn cao học ngành Nuôi Trồng Thủy Sản, Khoa Thủy Sản – Trường Đại
Học Cần Thơ.
16. Trần Văn Hận, 2012. Xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm tôm càng xanh trong
ruộng lúa nâng cao năng suất và lợi nhuận ở huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang. Báo cáo
Dự án 111 trang.
17. Trương Quốc Phú, 2003, Bài giãng kỉ thuật quản lí chất lượng nước ao nuôi thủy sản,
Khoa thủy sản – Trường Đại Học Cần Thơ
18. Vũ Thế Trụ. 1994. Cải tiến kỹ thuật nuôi tôm tại Việt Nam. NXB Nông Nghiệp.