NGUYỄN QUỐC HUY
MSSV: DPN010719
TỔNG KẾT VÀ THEO DÕI MÔ HÌNH TRỒNG SEN TẠI
XÃ ĐỊNH THÀNH, HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
TRONG MÙA LŨ 2004
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths. Võ Văn Hà
CN: Trang Thị Mỹ Duyên
Tháng 6.2005
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP -TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊNNGUYỄN QUỐC HUY
MSSV: DPN010719
TỔNG KẾT VÀ THEO DÕI MÔ HÌNH TRỒNG SEN
TẠI XÃ ĐỊNH THÀNH HUYỆN THOẠI SƠN
TỈNH AN GIANG TRONG MÙA LŨ 2004
Chuyên ngành: Phát Triển Nông Thôn
Mã số: 409
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths. Võ Văn Hà
CN: Trang Thị Mỹ Duyên
Tháng 6.2005
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
TIỂU SỬ CÁ NHÂN
- Họ và tên: Nguyễn Quốc Huy
- Con ông: Nguyễn Văn Bằng và bà Khổng Thị Vững.
- Sinh năm: 08/02/1981
- Tại: Thốt Nốt - Cần Thơ
- Đã tốt nghiệp phổ thông năm 2000
- Vào trường Đại học An Giang năm 2001 học lớp ĐH
2
PN
2
khoá ĐH2 thuộc
khoa:Nông Nghiệp & Tài Nguyên Thiên Nhiên và đã tốt nghiệp kỹ sư ngành Phát Triển
Nông Thôn năm 2005
LỜI CẢM TẠ
Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này, cùng với sự nỗ lực của
bản thân và sự hướng dẫn tận tình của Thầy Cô và các anh chị cán bộ Khoa
Nông nghiệp và Tài nguyên thiên nhiên đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài của
mình. Tôi xin chân thành biết ơn đến:
Ban giám hiệu, Quý Thầy Cô Trường, Khoa, Trung tâm Nghiên cứu và
Phát Triển Nông Thôn Trường Đại học An Giang.
Thầy Dương Ngọc Thành, Thầy Võ Văn Hà, Viện Nghiên cứu phát triển
đồng bằng sông Cửu Long, Trường Đại học Cần Thơ và Cô Trang Thị Mỹ
Duyên, Trung tâm Nghiên cứu và Phát Triển Nông Thôn, Trường Đại học An
Giang đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp.
Xin chân thành cám ơn chú Trần Văn Đài, các bác Lê Văn Đông, Trần
Thị Hương nông dân xã Định Thành và bác Sáu Khánh cùng UBND xã Định
Thành, huyện Thoại Sơn đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình làm đề
tài tại xã Định Thành.
mùa lũ (nhóm hộ khá/giàu) và nhóm hộ trung bình là kết hợp cây thuỷ sinh cho
hiệu quả kinh tế hơn. Tuy nhiên, những khó khăn chính của nông dân trồng cây
sen hiện nay là giá cả không ổn định, các bệnh thối cây hiện tại chưa có thuốc
đặc trị và đất nhiều bùn gây ngộ độc hữu cơ khi trục lại đất cũng gây trở ngại
cho nông dân trồng sen. Người nông dân trồng cây sen mong muốn có thêm
thông tin về thị trường để khai thác thêm các sản phẩm khác từ cây sen như:
gương sen, ngó sen, hoa sen,…Cây sen cũng là một loại cây thuỷ sinh đem lại
cảnh quan sinh thái rất đẹp cho vùng, vì vậy có thể tạo hiệu quả kinh tế bằng
cách phát triển du lịch sinh thái. Đây cũng có thể là một giải pháp mà người
trồng sen mong muốn khi cần có quy hoạch vùng trồng cho thích hợp. Bên cạnh
đó, người trồng sen cũng rất cần có những biện pháp bảo vệ cây sen đối với sự
phá hại của dịch hại và cần có những công nghệ sau thu hoạch để đảm bảo cho
sản phẩm từ cây sen trở nên đa dạng hơn và tránh thất thoát.
MỤC LỤC
Nội dung Trang
CẢM TẠ i
TÓM LƯỢC ii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
Chương 1: GIỚI THIỆU
1
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
3
2.1. Nguồn gốc cây sen
3
2.2. Đặc tính thực vật của cây sen 3
2.3. Phân bố và sinh thái
5
2.4. Giá trị của cây sen 5
4.4.2.8. Thu hoạch 25
4.4.3. Chi phí đầu tư cho cây sen 26
4.4.3.1. Đầu tư công lao động 26
4.4.3.2. Năng suất và thị trường tiêu thụ cây sen 26
4.4.3.3. Hiệu quả kinh tế cây sen 28
4.5. Trồng cây sen trong mùa lũ 31
4.6. Những trở ngại và hướng khắc phục cho cây sen 34
4.7. Nhận định của nông dân về mô hình trồng sen 34
4.71. Những nhận định của nông dân về trồng cây sen trong
mùa lũ
34
4.7.2. Những đề nghị của nông hộ đối với mô hình trồng cây
sen
35
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38
5.1. Kết luận 38
5.2. Kiến nghị 40
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ CHƯƠNG pc-1
- Phiếu điều tra nông hộ pc-1
- Bảng ghi chép các hoạt động của nông hộ pc-8
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
số
Tựa bảng
Trang
1 Kết quả phân tích thành phần hóa học trong ngó và hạt sen 6
2 Số mẫu điều tra tại vùng nghiên cứu (xã Định Thành) 12
3
trong mùa lũ
34
14 Những nhận định của nông dân về mô hình trồng cây sen 37DANH SÁCH HÌNH
Hình số Tựa hình Trang
1 Cánh đồng sen trong giai đoạn sinh sản 2
2 Hoa, gương và lá sen 2
3 Các bộ phận của cây sen 4
4 Diện tích trồng sen tại xã Định Thành qua các năm 16
5 Quan sát cây sen giống 22
6 Ruộng sen trong thời kỳ cuối thu hoạch 41
Chương 1 GIỚI THIỆU
An Giang là tỉnh đầu nguồn lưu vực Sông Cửu Long nên chịu ảnh hưởng
của lũ lụt hàng năm. Ngoài việc phải đối phó với những ảnh hưởng tiêu cực của
lũ lụt hàng năm thì gần đây người dân trong tỉnh đã biết tận dụng, khai thác tốt
tiềm năng của lũ để phát triển các mô hình sản xuất (trồng cây thuỷ sinh, nuôi
thuỷ sản kết hợp, trồng rau màu và nuôi vỗ béo bò,…) để tăng thêm thu nhập cho
gia đình, góp phần làm tăng tỷ trọng GDP của tỉnh. Dựa vào những lợi thế đó
tỉnh An Giang đã và đang tích cực thực hiện nhiều giải pháp để phát triển sản
xuất giúp nông dân khai thác tốt tiềm năng kinh tế trong mùa lũ.
Trong các loại cây trồng thuỷ sinh trong mùa lũ thì cây sen là loại cây
trồng không những có giá trị về mặt kinh tế mà còn có nhiều hữu dụng đối với
đời sống con người, đặc biệt người Á Đông. Tất cả các phần của cây sen đều
được sử dụng để đem lại hiệu quả kinh tế cho người trồng sen như: ngó, hạt, củ,
hoa, lá, v,v… Bên cạnh đó, cây sen là loài cây thuỷ sinh nên thích nghi tốt với
vùng đất trũng, vùng ngập lũ hàng năm như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL). Đặc biệt trong vùng Tứ giác Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang một số
nơi cây sen đã và đang trở thành cây trồng quan trọng có thể giúp người nông
Nhật Bản cũng tìm thấy các hạt sen 1.200 năm tuổi bị thiêu đốt trong hồ cổ sâu 6
m ở Chiban (Iwao, 1986). Họ tin rằng có một số giống sen xuất phát từ Nhật
Bản, nhưng sen lấy củ thì từ Trung Quốc (Takashashi, 1994). Một số giống sen
từ Trung Quốc khi du nhập sang Nhật Bản một thời gian mang tên Nhật Bản như
Taihakubasu, Benitenjo, Kunshikobasu, Sakurabasu và Tenjikubasu.
2.2. Đặc tính thực vật của cây sen
Cây sen có thân rễ (ngó sen) hình trụ, mọc bò lan dài trong bùn, hệ thống
thân rễ rất phát triển, phân nhánh theo chiều ngang và nằm sâu dưới lớp bùn đến
0,5 m. Từ các đốt của thân rễ, mọc lên nhiều lá. (Đỗ Huy Bích và ctv., 2003). Lá
sen hình tròn, có đường kính khoảng 30 – 70 cm và mọc vượt lên khỏi mặt nước.
Lá có cuống dài, có gai, đỉnh ở giữa phiến lá, mép lá uốn lượn, màu lục xám,
giữa lá thường trũng xuống, mặt sau đôi khi điểm những đốm màu tía, gân hình
khiên và hằn rõ (Hình 1). Độ dài của cuống lá tuỳ thuộc vào mực nước nông hay
sâu, để phiến lá vượt khỏi mặt nước, thực hiện chức năng hô hấp và quang hợp.
Hình 3: Các bộ phận của cây sen (Trần Việt Hưng, Phan Đức Bình., 2004)
Theo Đỗ Huy Bích và ctv., (2003) cây sen có hoa to, mọc riêng lẻ trên
cuống dài và thẳng phủ đầy gai nhọn, đường kính 8-12 cm, màu hồng, hồng đỏ
hay trắng (tuỳ theo giống). Hoa có 3-5 lá đài màu lục nhạt và rụng sớm. Cánh
hoa phía trước to, khum lòng máng, những cánh hoa ở giữa và phía trong nhỏ
hẹp dần. Nhị hoa có những dạng chuyển tiếp; nhị rất nhiều màu, chỉ nhị mảnh,
có phần phụ (gạo sen) màu trắng và thơm; bộ nhụy gồm nhiều lá noãn rời nằm
trên một đế hoa hình nón ngược (gương sen). Cây ra hoa và nở vào buổi sáng,
thụ phấn vào buổi trưa hoặc đầu buổi chiều. Gió và côn trùng là tác nhân truyền
phấn quan trọng của cây. Mùa hoa thường bắt đầu sau 2-3 tháng sau khi trồng
(bằng cây con) và sẽ cho thu hoạch sau ½ -1 tháng. Theo Đỗ Huy Bích và ctv
(2003) thì mùa hoa của cây sen thường bắt đầu vào tháng 5-6 và mùa quả vào
tháng 7-9.
Quả bế có núm nhọn, thường gọi là hạt sen, phần trước mỏng và cứng và
có màu lục tía, phần giữa mềm chứa tinh bột màu trắng ngà và phần trong là lá
mầm dày màu lục sẫm. Khả năng tái sinh tự nhiên của sen chủ yếu từ hạt. Tuy
Kết quả phân tích thành phần có trong ngó sen và hạt sen của Nguyễn
Đình San và ctv., (2005), cho thấy nhị sen có 61 thành phần hoá học bao gồm
các chất thơm, dễ bay hơi, các chất alcaloid, alcaloid và asparagin (Bảng 1).
Theo các tác giả Đỗ Tất Lợi, Võ Văn Chi, Phạm Xuân Sinh, Nguyễn Văn Đàn.,
(2005) thì trong lá sen có chứa tới 15 loại alcaloid (khoảng 0,77 – 0,84%); chất
tanin 0,2 – 0,3%; cuống lá có chất roemerin và nhiều hương liệu khác.
Bảng 1: Kết quả phân tích thành phần hóa học trong ngó và hạt sen
Thành phần Ngó sen Hạt sen
- Chất khô (%) 6,90 52,00
- Tinh bột (%) 22,31 58,00
- Đường khử (%) 2,72 4,64
- Vitamin C (%) 10,56 60,72
- Hàm lượng nước (%) 93,10 58,00
(Nguồn: Nguyễn Đình San và ctv, 2005)
2.4.2. Công dụng của các bộ phận của cây sen trong y học
Trong nền y học dân tộc thì cây sen được xem là một trong những cây
thuốc quý đem lại cho con người sức khoẻ và hạnh phúc. Cây sen, với tất cả các
bộ phận của nó đều được sử dụng với giá trị rất cao đối với từng bộ phận. Theo
Xuân Hoàng (1986) thì dược lý, đông y xem hạt sen (liên tử) trần là một vị thuốc
bổ tì, dưỡng tâm, trị suy nhược thần kinh, chữa các bệnh đường ruột, di tinh,
mộng tinh, băng huyết. Và hạt sen chỉ là một trong những sản phẩm quý của cây
sen. Các tác giả Trần Việt Hưng, Phan Đức Bình ( 2004) cho rằng hạt sen có vị
ngọt/chát, tính ôn, tác dụng vào các kinh mạch thuộc thận, tâm và tỳ giúp bổ tỳ,
dưỡng tâm, sáp trường, cố tinh,… để trị các bệnh như: tiêu chảy, ăn mất ngon,
bất lực, thiếu tinh trùng, gắt gỏng, khó tính, mất ngủ,…
Lá sen (hà diệp) có vị đắng, tính bình, không độc, tác dụng vào các kinh
mạch thuộc can, tỳ và vị giúp thanh thử, lợi thấp, tán ứ, chỉ huyết. Lá sen (liên
diệp) có tác dụng đối với can, ti, vị, thang thanh tán uế, chữa các bệnh thấp, phù
thũng, nôn, ra máu, chảy máu can,…
Với tim sen thì đông y xem như một vị thuốc thanh tâm khử nhiệt trị các
chưa được quan tâm nhiều. Ngó sen và hạt sen là hai bộ phận được con người sử
dụng nhiều nhất. Ngó sen ngoài giá trị làm thuốc còn được dùng như một loại
rau cao cấp trong bữa tiệc. Hạt sen được tiêu thụ nhiều trong các bài thuốc của y
học cổ truyền. Hơn nữa lá sen dùng để gói thực phẩm, hấp cơm, mùi thơm của
gạo cùng với mùi thơm của lá quyện vào nhau làm cho cơm có mùi thơm đặc
biệt. Lá sen thường được dùng để gói bánh hấp (giống bánh trưng), là món ăn
truyền thống của nhiều nước Đông Nam Á (Xuân Hoàng, 1986). Ngoài ra, tim
sen thường sao làm chè uống vừa có tác dụng giải nhiệt , vừa an thần, dễ ngủ,…
Và ngó sen, được xem là món ăn sang trọng trong thực phẩm. Ngó sen tươi dùng
để nấu canh, xào, làm dưa, làm mứt, nấu chè, hoặc chế biến thành ngó sen lát
khô, bột ngó sen làm các loại bánh (bánh phồng tôm,…), làm bột dinh dưỡng.
Ngày nay, những khu vực gần các khu du lịch như ở tỉnh Nghệ An,
người trồng cây sen còn tận dụng cảnh đẹp tự nhiên của hoa sen đã phát triển
thành các khu du lịch sinh thái “làng sen”. Nơi đây các sản phẩm được tiêu thụ
nhiều nhất là gương sen tươi và hoa sen (được dùng trong tôn giáo).
2.5. Hiệu quả kinh tế của cây sen
Việt Nam là một nước có sản lượng sen lớn, hàng năm cung cấp từ vài
trăm đến 1.000 tấn hạt sen cho thị trường trong nước và xuất khẩu (Đỗ Huy Bích
và ctv., 2003). Tuy nhiên, sen chưa được người dân chú ý và đánh giá cao trong
vị thế nền kinh tế mà chỉ được các nhà đông y quan tâm đến như là một cây
thuốc với nhiều công dụng của nó. Cho đến những năm gần đây, cây sen đang
dần dần tìm lại chỗ đứng của mình không chỉ bởi tạo cảnh quang sinh đẹp mà nó
dần đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân, đặc biệt những người dân nghèo dần
dần dựa vào nó để vươn lên thoát nghèo và có thể làm giàu cho gia đình.
Trong bài phóng sự điều tra “Sen Đài Loan trên đất Tháp Mười” của báo
Nông Thôn Ngày Nay (2005) cho biết: Chị Võ Thị Nhiên canh tác 12 công sen ở
xã Mỹ Quý, huyện Tháp Mười thu hoạch lời khoảng 20 triệu. Anh Ngô Văn Cò,
nông dân trồng sen chuyên nghiệp (xã Mỹ Quý, huyện Tháp Mười) cho rằng:
trồng sen, vừa nhẹ công chăm sóc, vừa chi phí ít, lợi nhuận cao gấp mấy lần so
với lúa. Tuy nhiên, anh cũng cho biết thêm trồng sen rất dễ, nhưng để làm giàu
cầu tăng trong khi sản xuất sen chỉ tập trung tại một số nước nhiệt đới và vài
nước Châu Phi. Lưu lượng hạt sen trên thế giới 20 – 30 ngàn tấn hàng năm chỉ
đáp ứng được một phần nhỏ tiêu thụ đang tăng của nhiều nước có nguồn thu
nhập cao. Tại Hồng Kông, giá bán một tấn hạt sen thường lên tới 1.500-1.800
đôla Hồng Kông (Xuân Hoàng, 1986).
Tại Việt Nam, ở các tỉnh Đồng Tháp và Bình Thuận mỗi năm bán sang
Nhật hơn 3 tấn củ sen muối, với giá cao nhất trên thị trường khi tính theo giá
đồng yên là 343 yen/kg. Thời gian gần đây do thị trường sen sôi động nên thu
nhập của người dân trồng sen không dưới 15 triệu đồng/ha. Vào thời gian thu
hoạch rộ, giá bán gương sen tại các điểm thu mua còn khoảng 800 đồng/gương,
lúc hút hàng thì giá gương sen lên đến 1800 đồng/gương (Huỳnh Phát, 2005).
Theo bài phóng sự của Dương Thế Hùng (Tuổi trẻ online, 2005) cho biết tại các
xã của huyện Tháp Mười - Đồng Tháp năm nay cho mùa thu hoạch sen bội thu,
do có thị trường tiêu thụ (cả nội địa và thị trường xuất khẩu sang Đài Loan được
mở rộng), nhiều công ty thu mua nên sen được giá và có lợi cho nông dân. Giá
gương sen giao động từ 300 – 2.400 đồng/gương vào mùa thu hoạch (bắt đầu
tháng 2/2005) và có lúc giá sen cao nhất là 3.100 đồng/gương vào thời điểm hút
hàng (đầu tháng 3/2005). Và theo nông dân thì hiện nay dù giá sen chỉ còn 300
đồng/gương, người nông dân vẫn có lời.
Hiện nay, có rất nhiều mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với
phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp nên mô hình trồng sen cũng là lợi thế để
phát triển “du lịch làng sen”, và đồng hành với nó là các sản phẩm từ cây sen
cũng được tiêu thụ tại chỗ như hoa, gương và ngó sen,…
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này gồm 2 phần có thể tóm tắt theo sơ đồ sau:
3.1.Theo dõi cách làm của nông hộ
Theo dõi, ghi chép cách làm của một số hộ nông dân tiêu biểu đang
trồng sen trong mùa lũ năm 2004. Chọn 3 hộ nông dân ở xã Định Thành (có kinh
nghiệm, kỹ thuật canh tác và am hiểu điều kiện tự nhiên trong vùng cũng như tập
quán canh tác của những nông dân khác). Sau đó tiến hành lập sổ ghi chép cho
Việc phân nhóm hộ nông dân theo hộ khá/giàu, trung bình và nghèo
được dựa theo báo cáo phân loại các hộ nông dân trong xã của UBND xã Định
Thành, đồng thời kết hợp với nhận định của người phỏng vấn trong quá trình
trực tiếp phỏng vấn tại từng nhà nông hộ và có đánh giá theo một cách cảm
quang. Tổng số mẫu điều tra là 30 hộ (Bảng 2).
Bảng 2: Số mẫu điều tra tại vùng nghiên cứu (xã Định Thành).
STT Ấp/Xã Số mẫu
1 Ấp Hoà Tân, xã Định Thành 28
2 Ấp Hoà Thành, xã Định Thành 2
Tổng
30
3.2.2. Số liệu thu thập bao gồm
3.2.2.1. Thông tin định tính
Lý do để nông dân trồng cây sen trong mùa lũ, đặc tính đất canh tác cây
sen, những trở ngại và hướng khắc phục trồng cây sen, thị trường tiêu thụ sản
phẩm, khả năng kết hợp với các mô hình canh tác khác, v,v,…
3.2.2.2. Thông tin định lượng
Các chi phí đầu vào (giống, phân, thuốc, công lao động,…) và đầu ra sản
phẩm (năng suất, thời điểm bán, giá bán,….).
3.2.2.3. Kỹ thuật canh tác cây trồng thuỷ sinh
Cách trồng trồng cây sen: quy cách và mật độ, chăm sóc (bón phân,
phòng trừ sâu bệnh), thu hoạch (cách thu hoạch, sơ chế, bảo quản, vận chuyển)
và tiêu thụ sản phẩm (nơi tiêu thụ, thị trường và giá cả).
3.2.2.4. Phân tích số liệu
Các số liệu sau khi thu thập được (cả định định tính, định lượng và kỹ
thuật canh tác) sẽ được phân tích và tổng hợp số liệu bằng cách dùng chương
trình máy tính Excel.
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm của vùng nghiên cứu
Định Thành là một xã có ưu thế về sản xuất nông nghiệp thuộc huyện