Luận văn một số giải pháp nhằm tăng cường việc sử dụng báo cáo lưu chuyển tiền tệ ở các doanh nghiệp việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 30


Luận văn
Một số giải pháp nhằm tăng cường
việc sử dụng báo cáo lưu chuyển tiền
tệ ở các doanh nghiệp việt nam trong
giai đoạn hiện nay 2

Lời nói đầu
Quá trình đổi mới sâu sắc cơ chế quản lý kinh tế đòi hỏi nền tài
chính quốc gia nói chung và hệ thống văn bản taì chính nói riêng phải được
tiếp tục đổi mới một cách toàn diện,nhằm tạo ra sự ổn định của môi trường
kinh tế cũng như lành mạnh hoá các quan hệ và các hoạt động tài chính.
Trong cơ chế quản lý mới,tài chính luôn luôn là tổng hoà của các
mối quan hệ kinh tế,tổng thể của các nội dung và giải pháp tài chính,tiền
tệ.Tài chính không chỉ đơn thuần là khai thác các nguồn lực tài chính nhằm
tăng thu nhập, tăng trưởng kinh tế mà còn phải quản lý và sử dụng một
cách có hiệu quả mọi nguồn lực.Điều đó đòi hỏi các hoạt động tài chính
cần phải được quản lý bằng luật pháp, bằng các công cụ và biện pháp quản
lý có hiệu lực.
Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế,tài chính,kế toán là một lĩnh
vực gắn liền với hoạt động kinh tế,tài chính,đảm nhiệm hệ thống tổ chức
thông tin có ích cho các quyết định kinh tế.Vì vậy,kế toán có vai trò đặc
biệt quan trọng không chỉ với hoạt động tài chính nhà nước mà còn vô
cùng cần thiết và quan trọng với hạot động tài chính của doanh nghiệp.
Trong thời gian qua,cùng với quá trình phát triển kinh tế,cùng với sự

Phần I : Tổng quan về BCLCTT
Phần II : Thực trạng việc lập và sử dụng BCLCTT ở các doanh
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Phần III : Một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường việc sử 4
dụng BCLCTT ở các doanh nghiệp Việt Nam.

Phần i
tổng quan về báo cáo lưu chuyển tiền tệ
I.Khái niệm và yêu cầu của việc lập “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”.
1.khái niệm:
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu,các nhà chuyên môn trong lĩnh vực
kế toán cả trong và ngoài nước đã đưa ra rất nhiều các quan điểm khác
nhau về BCLCTT,song tựu chung lại thì tất cả các quan điểm đó đều thống
nhất rằng:
BCLCTT là một trong những hình thức cơ bản của hệ thống báo cáo
tài chính, nó phản ánh các khoản thu và chi tiền trong kỳ kinh doanh của
doanh nghiệp theo từng hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt
động tài chính.
Như vậy BCLCTT nhằm tổng hợp và trình bày cho người sử dụng
một cách tổng quát và toàn diện về sự biến động của luồng tiền trong
doanh nghiệp.Nó cho biết luồng tiền đã được sinh ra bằng cách nào và
doanh nghiệp đã sử dụng chúng trong kỳ báo cáo ra sao. Hơn nữa,
BCLCTT còn cung cấp các thông tin tài chính quan trọng cho việc phân
tích đánh, giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp mà cụ thể hơn là thực
trạng của quá trình lưu chuyển của luồng tièn trong kỳ đã qua và làm cơ sở
để đưa những dự đoán tài chính cho tương lai cũng như đưa ra các quyết
định trong việc điều hành và quản lý doanh nghiệp.

+Các doanh nghiệp tư nhân thời hạn gửi báo cáo chậm nhất là 30
ngày kẻ từ ngày kết thúc năm tài chính.
+Các công ty TNHH,công ty cổ phần,doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài và các loại hình hợp tác xã thì thời hạn gửi báo cáo năm
chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Nơi nhận báo cáo tài chính của các doanh nghiệp là các cơ quan
chức năng có thẩm quyền như: cơ quan tài chính, doanh nghiệp cấp trên,
cơ quan thuế
II. Nội dung và phương pháp lập BCLCTT.
1.Nội dung của BCLCTT.
Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo quyết định số 1141 /TC /QĐ
/CĐKT ra ngày 1/11/1995 đã đưa ra quy định chung về mẫu thống nhất
của BCLCTT được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh
vực hoạt động kinh doanh, mọi thành phần kinh tế trong cả nước bao gồm
3 nội dung cơ bản sau:
 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh
 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư
 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ các hoạt động tài chính khác.
a. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Như đã biết, các luồng tiền chu chuyển vào_ra doanh nghiệp từ hoạt
động sản xuất kinh doanh chủ yếu là bắt nguồn từ các hoạt động sinh lời cơ
bản của doanh nghiệp,ví dụ như: tiền nhận được từ hoạt động bán hàng,
tiền thu từ hoạt động cung cấp các dịch vụ tư vấn, cho thuê nhãn hiệu bản 7
quyền Do vậy, nhìn chung luồng tiền này chủ yếu là kết quả của các
hoạt động giao dịch gắn liền với việc xác định lãi hoặc lỗ ròng của doanh
nghiệp.Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh phản ánh toàn bộ dòng
tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh của

hướng phù hợp về đầu tư trong tương lai.
c. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ các hoạt động tài chính khác.
Nếu việc tách biệt các luồng tiền phát sinh từ các hoạt động đầu tư
thể hiện phạm vi mà các chi phí đã được thực hiện cho các nguồn dự định
sẽ tạo ra lợi nhuận và các luồng tiền trong tương lai, thì việc tách biệt các
luồng tiền từ các hoạt động tài chính sẽ rất hữu dụng trong việc dự đoán
các khoản tiền mà những người cung cấp vốn cho doanh nghiệp đòi hỏi
trong các luồng tiền tương lai. Các luồng tiền phát sinh từ các hoạt động tài
chính bao gồm: tiền ròng thu được từ việc phát hành cổ phiếu hay các công
cụ về vốn khác; tiền trả cho các chủ sở hữu để mua hay thanh toán các cổ
phiếu của doanh nghiệp; tiền thu được từ việc phát hành trái phiếu,
thương phiếu, tín phiếu và các khoản vay ngắn hạn hay dài hạn khác
Để theo dõi chính xác sự di chuyển của các luồng tiền phát sinh từ
hoạt động này đòi hỏi doanh nghiệp phải tiến hành lập báo cáo riêng biệt
các loại chính của tổng số tiền thu được cũng như tổng số tiền phải chi phát
sinh từ các hoạt động đầu tư tài chính. Trong doanh nghiệp, ngoài các hoạt
động chính phát sinh từ hoạt động kinh doanh, đầu tư hay tài chính, đôi khi
các luồng tiền phát sinh liên quan đến các khoản mục bất thường, hay
những trường hợp được xem là đặc biệt như các luồng tiền có nguồn gốc từ 9
ngoại tệ, các vấn để phát sinh từ lãi vay và cổ tức, vấn đề góp vốn vào các
xí nghiệp và các hoạt động mua bán cổ phần giữa các xí nghiệp, các cơ sở
kinh doanh khác.Các luồng tiền liên quan đến các khoản mục này được
thuyết trình riêng biệt với các khoản mục phát sinh từ các hoạt động kinh
doanh, hoạt động đầu tư hay hoạt động tài chính trong BCLCTT nhằm giúp
cho người sử dụng có thể hiểu được bản chất và ảnh hưởng của chúng tới
luồng tiền của các doanh nghiệp hiện tại và trong tương lai.
Ngoài ba nội dung bắt buộc phải có có trong mọi BCLCTT trên thì

khoản tiền thu và tổng các khoản tiền chi mà doanh nghiệp đã thực hiện
trong kỳ. Dòng tiền mặt của hoạt động kinh doanh thể hiện sự khác nhau
giữa các khoản thu, các khoản chi tiền mặt như là các khoản thu từ bán
hàng, lợi tức nhận được và các khoản chi thanh toán lương, chi phí hàng
hoá dịch vụ mua vào, lãi tiền vay, thuế Phương pháp trực tiếp cung cấp
các thông tin chính xác hơn trong việc dự đoán các luồng tiền trong tương
lai và các thông tin này không thể có được từ phương pháp gián tiếp.
Đối với lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh (I):
A.Tổng thu = (1)+(2)+(3)
Trong đó:
1 Là tiền thu từ hoạt động bán hàng
2 Là tiền thu từ các khoản nợ phải thu
3 Là tiền thu từ các khoản khác
B. Tổng chi =(1)+(2)+(3)+(4)+(5) 11
Trong đó:
1 Là tiền đã trả cho người bán
2 Là tiền đã trả cho công nhân viên
3 Là tiền đã nộp thuế và các khoản khác cho nhà nước
4 Là tiền đã trả cho các khoản nợ khác
5 Là tiền đã trả cho các khoản khác
Đối với lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư (II):
A. Tổng số tiền thu vào từ các hoạt động đầu tư =(1)+(2)+(3)
B. Là tiền thu từ lãi các khoản đầu từ vào đơn vị khác (lợi tức, cổ
tức v.v )
C. Là tiền thu hồi các khoản đầu tư vào đơn vị khác
D. Là tiền thu do bán TSCĐ
B.Tổng số tiền chi ra từ các hoạt động đầu tư =(1)+(2)+(3)

thực hiện do chuyển đổi ngoại tệ, lợi nhuận chưa phân phối, các khoản lợi
tức cổ phần tiếp đó là những ảnh hưởng từ việc điều chỉnh khoản bằng
tiền mặt đối với lợi nhuận ròng được tính toán đến. 13
Đối với luồng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh (I):
A. Lợi nhuận trước thuế
Điều chỉnh cho:
B. Cộng các khoản:
1. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ lớn hơn số dư đầu kỳ của các tài
khoản phản ánh dự phòng
2. Khấu hao TSCĐ
3. Lỗ do bán TSCĐ
4. Lỗ do đầu tư vào đơn vị khác
5. Lỗ do đánh giá lại tài sản và chuyển đổi tiền tệ
C. Trừ các khoản:
1. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ nhỏ hơn số dư đầu kỳ của các tài
khoản phản ánh dự phòng
2. Thu lãi tiền gửi
3. Lãi do bán TSCĐ
4. Lãi do đầu tư vào đơn vị khác
5. Lãi do đánh giá lại TSCĐ
D. Lợi nhuận kinh doanh trước những thay đổi của vốn lưu động
(=A+B-C)
E. Cộng các khoản sau: 14
1. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ nhỏ hơn đầu kỳ của các khoản

2. Tiền thu do các chủ sở hữu đóng góp
3. Tiền thu từ lãi tiền gửi, thu từ việc phát hành cổ phiếu, thu từ các
khoản vay dài hạn
B. Tổng số tiền chi từ hoạt động tài chính =(1)+(2)+(3)
1. Tiền đã trả nợ vay
2. Tiền lãi đã trả cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
3. Trả nợ thuê tài chính

Tổng lưu chuyển tiền thuần trong kỳ =(I) + (II) + (III).
Như vậy, nội dung của một BCLCTT đã phản ánh một cách tổng
quát toàn bộ những vấn đề liên quan về tài chính trong một doanh nghiệp,
đáp ứng được khá nhiều thông tin mà ngay chính bản thân doanh nghiệp
cũng như những người cần quan tâm tới tình hình tài chính của doanh
nghiệp có thể tìm thấy. 16
3. Vai trò của BCLCTT trong nền kinh tế thị trường.
a. Công cụ phân tích vốn bằng tiền.
Vốn là yếu tố cơ bản và tiên quyết để duy trì và phát triển sản xuất,
đồng thời là cơ sở để phân phối lợi nhuận và đánh giá hiệu quả các hoạt
động kinh tế. Vốn tồn tại ở nhiều dạng khác nhau chẳng hạn như: nhà
xưởng,đất đai, bằng phát minh sáng chế nhưng trong đó vốn bằng tiền
đóng vai trò quan trọng hơn cả. Do vậy việc theo dõi và điều tiết quá trình
hình thành và sử dụng lượng vốn bằng tiền trong doanh nghiệp là rất quan
trọng.BCLCTT được lập ra trước hết được sử dụng như một công cụ để
phân tích vốn bằng tiền.
Vốn bằng tiền là một bộ phận tài sản rất quan trọng của doanh
nghiệp. Nó tham gia vào hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp. Trong
quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền được sử dụng để đáp ứng nhu

cần phải nắm được luồng tiền vào_ ra của doanh nghiệp đã hợp lý hay
chưa để có sự điều chỉnh kịp thời, phù hợp.
Tóm lại, BCLCTT thực sự là một công cụ phân tích tài chính hữu
ích. Nó cung cấp những thông tin quan trọng cho những người quan tâm
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện nay, người
quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp rất đa dạng. Đó không
chỉ là người quản lý doanh nghiệp, các cơ quan quản lý chức năng mà còn
là những nhà đầu tư, các nhà cung cấp tính dụng, công nhân viên, các kiểm
toán viên độc lập BCLCTT có thể giúp họ có được những quyết định
đúng đắn, hợp lý nhất.
b. BCLCTT là cơ sở để ra các quyết định về tài chính. 18
Báo cáo tài chính nói chung và BCLCTT nói riêng là nguồn thông
tin quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn phục vụ chủ yếu cho
các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như:các cơ quan quản lý nhà nước,
các nhà đầu tư, các nhà cung cấp tín dụng, kiểm toán viên độc lập Do
vậy, việc so sánh báo cáo giữa các doanh nghiệp là rất quan trọng trong
việc đưa ra quyết định đối với các đối tượng sử dụng báo cáo của doanh
nghiệp.
Đối với người quản lý doanh nghiệp, BCLCTT cung cấp những
thông tin quan trọng về việc hình thành và sử dụng lượng tiền trong kỳ báo
cáo, những nguy cơ cũng như triển vọng về mặt tài chính của doanh
nghiệp. Trên cơ sở đó, người quản lý doanh nghiệp phân tích, đánh giá
những tồn tại và phát hiện khả năng tiềm tàng để ra các quyết định quản trị
tài chính doanh nghiệp đúng đắn và có hiệu qủa nhất. Ngoài ra, các nhà
quản lý cũng có thể sử dụng BCLCTT để thông báo cho các nhà đầu tư,
các chủ nợ, các cơ quan nhà nước, công nhân viên biết được tình hình
tài chính của doanh nghiệp mình, qua đó thuyết phục các đối tượng có liên

với từng doanh nghiệp. 20

PHầN ii
THựC TRạNG VIệC LậP Và Sử DụNG BCLCTT ở CáC
DOANH NGHIệP VIệT NAM HIệN NAY

I. Sự cần thiết phải lập BCLCTT ở các doanh nghiệp Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay.
1. Lập BCLCTT sẽ cung cấp được các thông tin về các luồng tiền vào
và ra, tỷ trọng của các luồng tiền này trong các hoạt động sản xuất kinh
doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.
BCLCTT là một trong những báo cáo tài chính không thể thiếu được
đối với các doanh nghiệp ở những nước có nền kịnh tế thị trường đã và
đang phát triển. Thật vậy, khi mà BCĐKT cho biết những nguồn lực tài sản
và nguồn gốc của những tài sản đó và BCKQKD cho biết thu nhập và chi

ngoài thì các doanh nghiệp phải tuân theo sự thoả thuận của hai bên trong
đó hầu hết các chủ đầu tư nước ngoài đều đòi hỏi doanh nghiệp phải lập 22
BCLCTT nhằm phù hợp với quy định của nước họ đồng thời có thể cung
cấp đầy đủ thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho tất cả
những cổ đông đã góp vốn đầu ra vào doanh nghiệp.
3. BCLCTT là cơ sở để đánh giá thực trạng khả năng tài chính của
doanh nghiệp.
BCLCTT là một công cụ phân tích vốn bằng tiền rất hữu hiệu hiện
nay. Thông qua các tỷ số tài chính ta có thể thấy tình hình tài chính phụ
thuộc quá nhiều vào thời điểm tính của công việc chuẩn bị báo cáo tài
chính và như vậy có thể có những đánh giá không trung thực về thực trạng
tài chính của doanh nghiệp trong một giai đoạn, một thời kỳ phân tích.
Trong khi đó các tỷ số tiền mặt lại ổn định hơn nhiều vì phần lớn các
khoản mục trên BCLCTT là kết quả của một quá trình được tích luỹ trong
suốt một kỳ báo cáo. Vì vậy, các tỷ số tiền mặt phản ánh tương đối đầy đủ
những gì đã xảy ra ảnh hưởng đến tài khoản “tiền mặt” trong một kỳ phân
tích. Ngoài ra, phân tích tình hình sử dụng vốn bằng tiền còn là một bộ
phận của phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Như vậy có thể nhận thấy rằng những thông tin từ BCLCTT và các
báo cáo tài chính khác giúp người sử dụng phân tích, đánh giá khả năng tạo
ra các luồng tiền trong tương lai, sự biến động tài sản thuần của doanh
nghiệp, khả năng chi trả cổ tức, khả năng thanh toán các khoản nợ cũng
như tình hình lưu chuyển tiền của kỳ tiếp theo. Trên cơ sở đó, dự đoán
được nhu cầu và khả năng tài chính của doanh nghiệp.
4. BCLCTT rút ngắn khoảng cách giữa hệ thống kế toán Việt Nam với
hệ thống kế toán quốc tế.
So với hệ thống kế toán của các nước trên thế giới thì hệ thống kế


24
Hiện nay, một số công ty lớn của Việt Nam đã nhận thức được tầm
quan trọng của BCLCTT nhưng do những nguyên nhân khách quan và chủ
quan khác nhau nên việc đưa BCLCTT vào sử dụng vẫn chưa được phổ
biến một cách rộng rãi. Phần lớn các công ty lập BCLCTT đều là công ty
100% vốn nước ngoài hoặc công ty liên doanh có sự tham gia góp vốn của
nước ngoài. Còn các doanh nghiệp trong nước chủ yếu chú trọng vào các
báo cáo bắt buộc như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh.
Họ cũng có sự lưu tâm đến vốn bằng tiền nhưng chỉ lấy thông tin từ các
khoản mục về tiền trong bảng cân đối kế toán chứ không tiến hành lập
riêng một báo cáo kế toán chuyên dùng theo dõi sự di chuyển ra_vào của
luồng tiền. Ta có thể thấy rõ sự quan tâm này là chưa đúng mức vì bảng
cân đối kế toán chỉ cung cấp những thông tin từ các khoản mục về lượng
tiền và một số tỷ suất về khả năng thanh toán mà không cho biết các luồng
tiền vào ra từ hoạt động nào, do đâu mà có. Nhìn vào BCLCTT, các nhà
quản trị có thể thấy được những chi tiết bất hợp lý cũng như những hoạt
động mang lại hiệu quả lớn cho doanh nghiệp.
Có thể thấy, BCLCTT không có nhiều ý nghĩa trong việc cung cấp
thông tin về sản xuất kinh doanh nhưng lại mang lại những chỉ dẫn rất cần
thiết cho các hoạt động liên quan đến vốn tiền tệ trong tương lai. Nói cách
khác, BCLCTT là sự nhìn nhận lại những hoạt động cũ để hướng tới hoạt
động tương lai một cách hiệu quả. Việt Nam mới bước vào nền kinh tế thị
trường, sự sinh sau đẻ muộn này bên cạnh việc đem lại cho chúng ta một
số thuận lợi, tránh được các thất bại và rút được nhiều kinh nghiệm từ các
nước đi trước nhưng cũng không tránh khỏi sự non kém trong công tác
quản lý và phân tích kinh doanh mà BCLCTT là một ví dụ.
Trong nền kinh tế thị trường phát triển ở trình độ cao, các mối quan
hệ và các hoạt động kinh tế trở nên phức tạp, việc lập BCLCTT để phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status