BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH VI SINH VẬT HỌC
KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN VÀ
KHẢ NĂNG PHÂN GIẢI BÃ BIA
CỦA VI KHUẨN Lactobacillus plantarum TA6
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
Ts. BÙI THỊ MINH DIỆU PHAN THỊ NGỌC
Ths. TRẦN VŨ PHƯƠNG MSSV: 3103969
LỚP: VI SINH VẬT HỌC K36
Cần Thơ, Tháng 5/2014
Chuyên ngành Vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
PHẦN KÝ DUYỆT
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN Trần Vũ Phương Bùi Thị Minh Diệu Phan Thị Ngọc
DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(ký tên) Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
LỜI CẢM TẠ
Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
i
TÓM LƯỢC
Ở Việt Nam, hiện nay các nhà sản xuất bia vẫn chưa ứng dụng bã bia thải ra
một cách có hiệu quả mà chỉ dừng lại ở việc dùng làm thức ăn thô cho gia súc hoặc
làm phân bón. Trong bã bia có nhiều thành phần dinh dưỡng, đặc biệt là protein. Việc
sử dụng vi sinh vật, đặc biệt là vi khuẩn để xử lý nguồn chất thải bã bia hứa hẹn nhiều
tiềm năng và ưu thế trong nhiều lĩnh vực như: chế biến thức ăn gia súc, sản xuất phân
bón, sản xuất chất dinh dưỡng để bổ sung vào môi trường nuôi cấy vi sinh vật,… Sự
phát triển của vi khuẩn chịu tác động từ nhiều yếu tố môi trường khác nhau; các yếu
tố này có thể gây ức chế hay kích thích sự phát triển của vi khuẩn. Mục tiêu của
nghiên cứu này là khảo sát ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến sự phát triển
và khả năng phân giải bã bia của vi khuẩn Lactobacillus plantarum TA6. Kết quả
khảo sát cho thấy thời gian nuôi cấy thích hợp cho dòng vi khuẩn này là 3 ngày. Vi
khuẩn phát triển thuận lợi trong môi trường có pH 7 tại nhiệt độ 35
o
C; tại mức nhiệt
độ này, vi khuẩn cho mật số và khả năng phân giải cao nhất. Bên cạnh đó, các nguồn
dinh dưỡng khác như carbon, nitơ cũng được bổ sung vào môi trường nuôi cấy. Dựa
vào kết quả thí nghiệm này cho thấy sự phát triển của vi khuẩn cũng như khả năng
phân giải bột bã bia của vi khuẩn bị ức chế khi bổ sung thêm các nguồn cơ chất
carbon, nitơ. Tóm lại, bã bia đã chứa đủ thành phần dinh dưỡng cho nhu cầu của vi
khuẩn nên không cần bổ sung thêm nguồn cơ chất khác.
Từ khóa: Lactobacillus plantarum TA6, môi trường nuôi cấy, phân giải bột bã bia.
Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
3.3.3. Môi trường nuôi cấy vi khuẩn 13
3.3.4. Hóa chất 14
3.3. Phương pháp nghiên cứu 14
3.3.1. Chuẩn bị vi khuẩn giống 14
3.3.2. Chuẩn bị nguồn cơ chất 14
3.3.3. Phương pháp xác định mật số vi sinh vật 15
3.3.4. Phương pháp xác định lượng bã bia bị phân giải 15
3.3.5. Phương pháp xác định thành phần bã bia trước và sau phân giải 16
Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
iii
3.3.6. Khảo sát sự phát triển của vi khuẩn Lactobacillus plantarum TA6 theo
thời gian 16
3.3.7. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và pH đến khả năng phân giải bã bia
của vi khuẩn 17
3.3.8. Ảnh hưởng của nguồn carbon bổ sung đến khả năng phân giải bã bia của
vi khuẩn 18
3.3.9. Ảnh hưởng của nguồn nitơ bổ sung đến khả năng phân giải bã bia của vi
khuẩn 18
3.3.10. Xác định thành phần có trong bã bia trước và sau khi phân giải 19
3.3.11. Phương pháp xử lý số liệu 19
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
4.1. Sự phát triển của vi khuẩn Lactobacillus plantarum TA6 theo thời gian 20
4.2. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và pH đến khả năng phân giải bã bia của vi
khuẩn 21
4.3. Ảnh hưởng của nguồn carbon bổ sung đến khả năng phân giải bã bia của vi
khuẩn 24
4.4. Ảnh hưởng của nguồn nitơ bổ sung đến khả năng phân giải bã bia của vi
khuẩn 26
Bảng 13. Hiệu suất phân giải bột bã bia thí nghiệm pH và nhiệt độ
Bảng 14. Mật số vi khuẩn khi bổ sung thêm cơ chất carbon
Bảng 15. Hiệu suất phân giải khi bổ sung thêm nguồn carbon
Bảng 16. Mật số vi khuẩn khi bổ sung thêm cơ chất nitơ
Bảng 16. Hiệu suất phân giải khi bổ sung thêm nguồn nitơ
Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
v
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1. Bã bia 2
Hình 2. Sự thay đổi mật số vi khuẩn theo thời gian 20
Hình 3. Ảnh hưởng của các nguồn dinh dưỡng chứa carbon đến sự phát triển của vi
khuẩn 24
Hình 4. Ảnh hưởng của các nguồn dinh dưỡng carbon đến khả năng phân giải bột bã
bia của vi khuẩn 25
Hình 5. Ảnh hưởng của các nguồn dinh dưỡng chứa nitơ đến sự phát triển của vi
khuẩn 27
Hình 6. Ảnh hưởng của các nguồn dinh dưỡng nitơ đến khả năng phân giải bột bã bia
của vi khuẩn 28
Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
vi
CÁC TỪ VIẾT TẮT
CFU Colony Forming Unit
COD Chemical Oxygen Demand
L. Lactobacillus
NXB Nhà xuất bản
chất khác, dị hóa arginine, tạo chất kháng khuẩn,… vì vậy cần được nghiên cứu để tận
dụng được những lợi ích mà dòng vi khuẩn này mang lại. Do đó, khảo sát ảnh hưởng
của các điều kiện nuôi cấy là một nghiên cứu cần thiết.
1.2. Mục tiêu đề tài
Đề tài “Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và khả năng phân
giải bã bia của vi khuẩn Lactobacillus plantarum TA6” được thực hiện nhằm xác
định các yếu tố và điều kiện môi trường nuôi cấy thích hợp để ứng dụng dòng vi khuẩn
Lactobacillus plantarum TA6 vào việc phân giải bã bia để sản xuất thức ăn gia súc.
Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
2
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. Tổng quan về bã bia
Bã bia là sản phẩm tách ra sau khi lên men bia, thu được từ dư lượng ngũ cốc
và các sản phẩm tinh bột khác. Trong bã bia còn chứa các chất dinh dưỡng, các chất
men và xác vi sinh vật. Nó bao gồm các loại vỏ quả, vỏ đậu, các mảnh vở của malt,
mầm malt, nấm men bia và cặn protein. Thành phần chủ yếu của bã bia bao gồm
khoảng một nửa carbohydrate, phần còn lại chứa protein và lignin. Carbohydrate bao
gồm tinh bột, cellulose, β-glucan và arabinoxylan. Đây là nguồn lý tưởng cho việc
phân giải sinh học tạo ra protein và vitamin có trong thức ăn chăn nuôi, được động vật
tiêu thụ rất dễ dàng. Đây còn là nguyên liệu trong sản xuất phân bón, men bánh mì
cũng như trong sản xuất khí sinh học, đặc biệt bã bia còn là một môi trường lý tưởng
cho việc trồng nấm.
Trong bã bia, có thể chứa các loại vi sinh vật như: vi khuẩn, nấm men và nấm
mốc. Các vi sinh vật này nếu được sử dụng đúng mục đích sẽ đem lại hiệu quả kinh tế.
Bã bia có rất nhiều ứng dụng: sản xuất thức ăn chăn nuôi, nước chấm lên men,
chế biến men chiết xuất dùng làm thành phần bổ sung vào môi trường nuôi cấy vi sinh
vật, thu nhận chế phẩm invertase từ sự nghiên cứu quá trình tự phân bã nấm men bia,
sản xuất phân bón,…
Nước 10,07
Protein 34,18
Lipid 2,23
Chất hòa tan không có nitơ 35,18
Cenlulose 11,42
Tro 7,05
(Densikow, 1963)
Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
4
Bảng 3. Giá trị thức ăn gia súc của mầm malt (trong 100 kg mầm malt)
Thành phần Hàm lượng (kg)
Protein chuyển hóa được 13,2
Photpho 0,675
Canxi 0,25
Carotin 0,025
(Densikow, 1963)
Bảng 4. Thành phần hóa học trung bình của cặn protein
Thành phần Hàm lượng (%)
Nước 79,6
Protein 7
Chất hòa tan không có nitơ 7,7
Cellulose 1,2
Tro 1,2
Nhựa hoa hublon 3,3
(Densikow, 1963)
2.3. Tổng quan về vi khuẩn acid lactic
Vi khuẩn lactic thuộc họ Lactobacillaceae. Các chủng vi khuẩn thuộc nhóm này
có đặc điểm sinh thái khác nhau nhưng đặc tính sinh lý tương đối giống nhau. Đây là
khuẩn lactic sinh trưởng tốt nhất ở nhiệt độ 25 – 35
o
C, các loài ưa nhiệt có thể phát
triển ở 50 – 55
o
C, loài ưa lạnh có thể tồn tại ở nhiệt độ tương đối thấp (ở 5
o
C vẫn có
thể phát triển). Khi gia nhiệt ở 60 – 80
o
C, hầu hết sẽ chết sau 10 – 30 phút.
Vi khuẩn này được ứng dụng rộng rãi, được dùng để sản xuất acid lactic, sữa
chua, muối chua rau quả, ủ chua thức ăn gia súc. Một số loài có khả năng tạo màng
nhầy. Một số khác có khả năng đối kháng với thể hoại sinh và các vi sinh vật gây bệnh
và làm thối thực phẩm. Vi khuẩn này có khả năng sinh chất kháng khuẩn gọi là
bacteriocin, được ứng dụng trong y học và bảo quản thực phẩm.
Phân bố rộng rãi trong tự nhiên, trong đất, trong nước, không khí, chủ yếu có
mặt trên thực vật, trong thực phẩm, một số có trong hệ thống đường ruột của người và
động vật.
Vi khuẩn Lactobacillus plantarum TA6 được Trần Ngọc Được phân lập từ mẫu
cơm mẻ ở Cần Thơ. Đây là dòng vi khuẩn có nhiều đặc điểm tối ưu so với các dòng
còn lại, vì vậy việc nghiên cứu các tiềm năng của dòng vi khuẩn này là cần thiết.
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và khả năng phân
giải cơ chất của vi khuẩn
2.4.1. Các yếu tố vật lý
Nhiệt độ và pH của môi trường là hai yếu tố thường ảnh hưởng lớn đến quá
trình sinh trưởng và phát triển của vi khuẩn. Mỗi loài sinh vật tồn tại và phát triển
thuận lợi trong một khoảng nhiệt độ nhất định. Khi nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao sẽ
Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
Tùy nhóm vi sinh vật mà nguồn carbon được cung cấp có thể là chất vô cơ
(CO
2
, NaHCO
3
, CaCO
3
, ) hoặc chất hữu cơ. Fructose, glucose, sucrose, lactose,
galactose, starch, glycerol, maltose và dextrose là những nguồn carbon tốt nhất đối với
quá trình sản sinh ra enzyme protease của vi sinh vật. Giá trị dinh dưỡng và khả năng
hấp thụ các nguồn carbon khác nhau phụ thuộc vào 2 yếu tố: một là thành phần hóa
học và tính chất sinh lý của nguồn thức ăn này, hai là đặc điểm sinh lý của từng loại vi
sinh vật. Trên thế giới hầu như không có hợp chất carbon hữu cơ nào mà không bị
Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
7
hoặc nhóm vi sinh vật này hoặc nhóm vi sinh vật khác phân giải. Không ít vi sinh vật
có thể đồng hóa được cả các hợp chất carbon rất bền vững như cao su, chất dẻo, dầu
mỏ, parafin, khí thiên nhiên.
Nhiều chất hữu cơ vì không tan được trong nước hoặc vì có khối lượng phân tử
quá lớn cho nên trước khi được hấp thụ, vi sinh vật phải tiết ra các enzyme thủy phân
để chuyển hóa chúng thành các hợp chất dễ hấp thụ. Người ta thường sử dụng đường
để làm nguồn carbon khi nuôi cấy phần lớn các vi sinh vật dị dưỡng. Để nuôi cấy các
loại vi sinh vật khác nhau người ta dùng các nồng độ đường khác nhau. Với vi khuẩn
người ta thường dùng 0,5 – 2% đường, còn đối với nấm men, nấm sợi lại thường dùng
3 – 10% đường.
Rỉ đường là một phụ phẩm của ngành sản xuất đường, là sản phẩm cuối cùng
của quá trình sản xuất đường mà từ đó đường không còn có thể kết tinh một cách kinh
tế nữa bởi các công nghệ thông thường. Khoảng 75% tổng rỉ đường của thế giới được
NO
3
,
NH
4
Cl, NO
2
-
, NO
3
-
, thích hợp cho các vi khuẩn sinh trưởng và phát triển, sản sinh
nhanh enzyme protease. Các dạng nitơ hữu cơ không những là nguồn dinh dưỡng nitơ
mà còn là nguồn dinh dưỡng carbon cho vi sinh vật.
Bã đậu nành là phế phẩm thu được trong quá trình sản xuất sữa đậu nành hoặc
đậu phụ (bánh đậu hủ). Bã đậu được loại bỏ trong quá trình sản xuất.
Thành phần Trung bình (%) Biến động (%)
Nước 20 17 - 25
Saccharose 35 30 - 40
Glucose 7 4 - 9
Fructose 9 5 - 12
Các chất khử khác 3 1 - 5
Glucid khác 4 2 - 5
Khoáng 12 7 - 15
Các chất chứa N 4,5 2 - 6
Các chất không chứa N 5 2 - 8
Sáp, Sterol, photpholipid 0,4 0,1 - 1
Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
9
phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm. Kết quả đã phân lập được chủng nấm men
Saccharomyces, tách chitin, mannoprotein khỏi thành tế bào, thu nhận β – glucan và
tiến hành nghiên cứu tác dụng phục hồi đáp ứng miễn dịch của chế phẩm β – glucan.
Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
10
Lê Văn Việt Mẫn, Trần Thẩm Minh Hoàng, Nguyễn Ngọc Tuyết Sương (2006)
đã tiến hành nghiên cứu quá trình tự phân bã nấm men bia để thu nhận chế phẩm
invertase. Kết quả cho thấy ở nhiệt độ 45
o
C và pH 5,5, tổng hoạt tính và hoạt tính
riêng của enzyme invetase thu được trong dịch tự phân là 120,9 đơn vị hoạt tính/g chất
khô nấm men và 0,7 đơn vị hoạt tính/mg protein.
Nguyễn Đại Nghĩa (2006) bước đầu nghiên cứu tận dụng men bia để sản xuất
nước chấm lên men. Kết quả thu được là sản phẩm nghiên cứu có thể sử dụng được.
Nguyễn Phương Hà (2011) đã tiến hành nghiên cứu sản xuất nước chấm từ bã
malt bia và bánh đậu phộng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mốc Aspergillus oryzae
3% cho chất lượng thủy phân tốt nhất và ít có mùi mốc; tỷ lệ phối trộn giữa bã malt bia
và bánh dầu đậu phộng là 3:7 cho hiệu suất phân giải cao nhất; khi bổ sung HCl vào sẽ
giảm thời gian thủy phân và nâng cao hàm lượng đạm, với nồng độ 6% sẽ tạo được sản
phẩm có hương vị tương đương các sản phẩm trên thị trường; phương pháp bán hóa
giải tỏ ra phù hợp hơn trong công nghệ sản xuất nước chấm so với các phương pháp
lên men truyền thống.
Phạm Quỳnh Trang (2012) đã tiến hành nghiên cứu tận dụng phế thải bia sau
quá trình lên men làm thức ăn chăn nuôi. Kết quả đánh giá về dinh dưỡng trên gà nuôi
cho thấy, sau 2 tháng nuôi thử nghiệm gà được cho ăn bằng thức ăn chế biến từ sản
phẩm bã nấm men bia sấy khô có thể thay thế được bột đậu trong thành phần thức ăn
cho gà.
Phùng Thăng Long, Lê Đức Thạo, Lê Đình Phùng (2012) đã nghiên cứu ảnh
hưởng của các mức bã bia tươi trong khẩu phần đến khả năng sinh trưởng và sức sản
trong khẩu phần ăn của bê. Đây là lợi thế cho các nhà sản xuất bia, sử dụng bã bia bổ
sung vào thức ăn hỗn hợp hay bổ sung với thức ăn thô xanh cho sự phát triển của
ngành chăn nuôi gia súc.
Catalina E. Kotlar et al. đã tiêu chuẩn hóa bã bia và quy trình ngược cho sự sản
xuất các enzyme thủy phân. Kết quả cho thấy tác dụng hiệp đồng đã được quan sát,
phương pháp này có thể áp dụng được trên qui mô lớn và cho các loại chất thải công
nghiệp khác. Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành vi sinh vật học Viện NC&PT Công nghệ sinh học
12
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Thời gian và địa điểm
- Thời gian: từ tháng 12 – 2013 đến tháng 5 – 2014.
- Địa điểm: phòng thí nghiệm sinh học phân tử thực vật, Viện nghiên cứu và
phát triển công nghệ sinh học, trường Đại học Cần Thơ.
3.2. Phương tiện nghiên cứu
3.2.1. Vật liệu
- Nguyên liệu:
+ Bã bia được thu tại Hậu Giang.
+ Rỉ đường mía mua tại cơ sở mía đường Phụng Hiệp.
+ Bột đậu nành, bột bắp mua tại điểm bán thức ăn gia súc đường 30/4, Cần
Thơ.
+ Bã đậu nành mua tại nơi chế biến sữa đậu nành, tàu hủ đường 3/2, Cần Thơ.
- Giống vi sinh vật: vi khuẩn Lactobacillus plantarm TA6 được Trần Ngọc
Được (2011) phân lập từ mẫu cơm mẻ thu được ở Cần Thơ. Giống vi khuẩn ròng được
giữ lạnh tại phòng thí nghiệm Sinh học phân tử thuộc Viện Nghiên cứu và Phát triển
Công nghệ sinh học, trường Đại học Cần Thơ.
3.2.2. Thiết bị - dụng cụ
MgSO
4
.7H
2
O 0,1
KH
2
PO
4
0,4
K
2
HPO
4
0,3
NaCl 0,5
Agar 20
Bột bã bia 10
(Bo Xu et al., 2009)
Cách pha môi trường: hòa tan các thành phần trên trong 1000ml nước cất, đun
nhẹ, khuấy đều liên tục để hòa tan thạch. Hấp thanh trùng ở 121
o
C trong 15 phút.
Môi trường lỏng: Khảo sát khả năng hoạt động và khả năng phân giải bã bia
Thành phần giống như môi trường rắn nhưng không có agar.
Cách pha: hòa tan các thành phần trên trong 1000ml nước cất, khuấy đều. Hấp
thanh trùng ở 121
o
C trong 15 phút.
Luận văn tốt nghiệp Đại học khoá 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
4
.7H
2
O,
KH
2
PO
4
, NaCl, yeast extract, NH
4
Cl, sucrose, glucose.
- Hóa chất dùng để điều chỉnh pH: NaOH 0,1N, HCl 0,1N.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Chuẩn bị vi khuẩn giống
Giống vi khuẩn ròng trữ lạnh trong ống nghiệm được cấy chuyển sang đĩa petri
chứa môi trường MRS, sau đó cấy chuyển vào môi trường bột bã bia rắn, ủ ở 37
o
C
trong 2 ngày. Sau đó cấy vào bình chứa 100ml môi trường lỏng đã được khử trùng,
nuôi tăng sinh khối trên máy lắc trong 48 giờ. Hút 1ml dịch nuôi tăng sinh khối tiến
hành pha loãng đếm mật số. Khi mật số đạt 10
8
Log CFU/ml, trữ lạnh bình nuôi tăng
sinh khối trong tủ lạnh ở 4
o
C
3.3.2. Chuẩn bị nguồn cơ chất
- Bã bia, bột đậu nành, bột bắp, bã đậu nành được sấy khô ở 80
o
C và nghiền
-7
- Sau khi pha loãng, tiến hành cấy trãi đếm mật số ở các nồng độ pha loãng
10
-3
, 10
-4
, 10
-5
, 10
-6
, 10
-7
.
Phương pháp kiểm tra và tính kết quả
- Ở mỗi nồng độ pha loãng, hút 100µl nhỏ lên đĩa petri có chứa sẵn môi
trường agar thích hợp (mỗi nồng độ pha loãng thực hiện lặp lại 3 lần).
- Dùng que cấy trãi để phân phối giọt dịch đều khắp mặt đĩa.
- Tiến hành ủ trong tủ ủ 37
o
C. Sau 24 giờ, tiến hành đếm số khuẩn lạc xuất
hiện trên bề mặt đĩa.
- Số tế bào vi khuẩn trong 100µl dịch nuôi cấy ( CFU/ml) tính từ số liệu của
độ pha loãng D
i
theo công thức:
Log CFU/ml = A
i
x D
i