DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 1.1: Tín dụng theo mục đích vay
Bảng 1.2: Thu dịch vụ ròng
Bảng 1.3 : Kết quả kinh doanh chung
Bảng 1.4 : Thu từ các hoạt động kinh doanh
Bảng 1.5 : Cơ cấu nguồn điện Việt Nam năm 2006
Bảng 1.6 : Sản lượng điện giai đoạn 2005-2008
Bảng 1.7: Số lượng dự án thủy điện được thẩm định
Bảng 1.8: Quy mô dự án thuỷ điện được thẩm định
Bảng 1.9: Dư nợ cho vay thuỷ điện
Bảng 1.10 : Nợ quá hạn cho vay thuỷ điện
Bảng 2.1: Dự báo sản lượng điện sản xuất
Bảng 2.2: Dự báo công suất các nhà máy thuỷ điện
Bảng 2.3: Dự báo nhu cầu vốn đầu tư cho thuỷ điện
Bảng 2.4: Dự báo nguồn vốn đầu tư cho phát triển nguồn điện
Sơ đồ 1.1: Quy trình thẩm định dự án thuỷ điện
Sơ đồ 1.2: Quy trình vận hành của công trình thủy điện Hồ Bốn
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển chung của toàn nền kinh tế là sự phát triển của hệ thống ngân
hàng. Với sự lớn mạnh không ngừng của mình, các ngân hàng đã trở thành các trung tâm
tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế. Các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong
việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các thành phần kinh tế khác nhau và tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp, nhà đầu tư thực hiện ý tưởng của mình. Do đó ngân hàng đã trở thành
van điều tiết vốn, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của cả nền kinh tế.
Là Sở giao dịch của một trong các ngân hàng lớn nhất và lâu đời nhất Việt Nam, Sở
giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) kể từ khi được thành lập đã
luôn thực thi có hiệu quả và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kinh doanh với kết quả tốt nhất
trong hệ thống, đại diện cho trình độ kinh doanh tiên tiến của BIDV.
Là một sinh viên khoa Kinh tế đầu tư trường Đại học kinh tế quốc dân, sau một thời
gian được học tập tại trường, cùng với sự chỉ dẫn tận tình của các thầy cô em đã được tiếp
thu những kiến thức cơ bản về đầu tư trên phương diện lý thuyết. Nhằm trau dồi thêm hiểu
các nghiệp vụ ngân hàng thương mại, mở rộng khách hàng, Sở giao dịch đã đạt được
những kết quả quan trọng, xác lập được vị thế, hình ảnh trong hệ thống ngành ngân hàng
trên địa bàn Hà Nội.
- Giai đoạn 3 (2001-2005)
Trong 4 năm liên tiếp 2002-2005, Sở giao dịch đã tách, nâng cấp thêm 4 đơn vị thành
viên chi nhánh cấp I trực thuộc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trên địa bàn. Tiếp
tục phấn đấu lớn mạnh về mọi mặt, Sở giao dịch đã đạt quy mô tổng tài sản 13.976 tỷ
đồng, huy động vốn 10.652 tỷ đồng, dư nợ 5.674 tỷ đồng, thu dịch vụ tăng trưởng bình
quân 20%/năm. Kết quả này đã được ghi nhận bởi Huân chương lao động hạng Nhì do Chủ
tịch nước trao tặng cho giai đoạn 2002-2005.
- Giai đoạn 4 (2006-nay)
Sở giao dịch ngày càng phát huy tốt vai trò đơn vị chủ lực của mình, phát huy tốt vai
trò đầu mối trong tổ chức triển khai thoả thuận hợp tác toàn diện với khách hàng Tập đoàn,
Tổng công ty lớn, các định chế tài chính của toàn ngành. Đặc biệt, Sở luôn đảm bảo thực
hiện tốt phương châm phát triển an toàn - hiệu quả - bền vững và luôn đạt được mức tăng
trưởng bình quân năm 20-25% ở một số chỉ tiêu chính.
1.2. Tình hình hoạt động của Sở giao dịch I
1.2.1. Hoạt động tín dụng
Có thể nói tín dụng là hoạt động tiếp nối của hoạt động huy động vốn. Hoạt động tín
dụng của Sở giao dịch I đã thực sự phát triển lớn mạnh cả chiều rộng và chiều sâu góp phần
thúc đẩy phát triển mọi thành phần kinh tế.
Bảng 1.1: Tín dụng theo mục đích vay
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
2006 2007 2005
Tuyệt đối Tỷ trọng Tuyệt đối Tỷ trọng Tuyệt đối Tỷ trọng
Tín dụng 5,000,753 100 5,099,321 100 5,807,045 100
Cho vay ngắn hạn
1959934
39.19 2,059,282 40.38
kiến phản hồi của khách hàng; thực hiện việc bán chéo sản phẩm để khách hàng có được
hiệu quả cao bằng việc kết hợp giữa gửi tiền, cho vay vốn đầu tư, cho vay vốn lưu động,
bảo lãnh thanh toán, chuyển tiền, chuyển đổi ngoại tệ, tư vấn, bảo hiểm và cho thuê. Việc
tham gia ý kiến với khách hàng từ khâu lựa chọn sản phẩm, lựa chọn công nghệ, phương án
đầu tư và xây dựng phương án tài chính hợp lý.
1.2.2. Hoạt động dịch vụ ngân hàng
Hướng tới ngân hàng thương mại hiện đại, Sở giao dịch luôn chú trọng công tác phát
triển và nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng.
Giai đoạn 2006-2008, thu từ hoạt động dịch vụ của Sở giao dịch luôn duy trì ở mức
cao và ngày càng tăng về mặt con số tuyệt đối. Trong đó năm 2008, thu dịch vụ ròng đạt
cao nhất, lên đến 115 tỷ đồng.
Bảng 1.2: Thu dịch vụ ròng
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Thu dịch vụ ròng 49,512 76,850 115,000
Nguồn: “Số liệu cho sinh viên thực tập tại Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và phát triển
Việt Nam”
Các sản phẩm dịch vụ chính:
- Thanh toán trong nước và quốc tế: L/C hàng nhập, L/C hàng xuất, Nhờ thu...
- Dịch vụ ngân hàng tại gia - Home Banking: khách hàng sử dụng máy tính để truy
vấn thông tin về tài khoản và thực hiện các lệnh chuyển tiền, Sở giao dịch nhận các lệnh
chuyển và thực hiện chuyển cho người thực hưởng, khách hàng phải trả phí cho dịch vụ
này.
- Các loại bảo lãnh ngân hàng: Bảo lãnh là một dịch vụ truyền thống và có thế mạnh
của Sở giao dịch I do khả năng tài chính và uy tín của BIDV nói chung và Sở giao dịch
nói riêng trong việc tài trợ vốn cho các dự án lớn, đồng thời do cơ cấu khách hàng của Sở
giao dịch vốn là các tổng công ty, các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực xây dựng.
- Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng khác
1.2.3. Hoạt động hợp tác kinh doanh
Thông qua các thoả thuận, hợp đồng ký kết hợp tác kinh doanh, hợp tác toàn diện
Xét riêng nguồn thu từ các hoạt động của Sở giao dịch cũng cho thấy hiệu quả của các
hoạt động tăng lên không ngừng theo thời gian với tốc độ khá cao. Ngoại trừ hoạt động
thanh toán trong nước là có sự giảm sút năm 2007 so với 2006 ( giảm 23,41%), tất cả các
hoạt động khác đều có sự tăng trưởng với tốc độ cao. Đặc biệt, thu từ phí bảo lãnh năm
2007 tăng hơn 10 lần so với năm 2006.
Bảng 1.4 : Thu từ các hoạt động kinh doanh
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2006
Năm 2007 Năm 2008
Tuyệt đối
% TT
Tuyệt đối
% TT
1. Phí dịch vụ
1,740 4,619
165.46
9,714
110.31
2. Phí bảo lãnh
80 117
46.25
1,300
1011.11
3. Thanh toán trong nước
266 346
30.08
265
-23.41
4. Thanh toán quốc tế
4/5 diện tích. Ngoài ra, nước ta nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều, nóng và ẩm.
Lượng mưa trung bình năm khoảng 2000mm. Lượng mưa nơi nhiều nhất đạt tới 4000 –
5000mm, nơi mưa thấp nhất cũng đạt đến 1000mm. Mùa mưa trong năm thường kéo dài 3-
5 tháng.
Hệ thống sông ngòi Việt Nam có mật độ cao. Tổng số các con sông có chiều dài lớn
hơn 10km là 2400. Hầu hết sông ngòi Việt Nam đều đổ ra biển Đông. Hàng năm mạng lưới
sông suối Việt Nam vận chuyển ra biển một lượng nước 870 tỷ m3/năm tương ứng với lưu
vực bình quân khoảng 37500 m3/năm.
2.1.2. Tiềm năng thuỷ điện Việt Nam
Với đặc điểm về hình thái khí tượng, thuỷ văn như trên, tiềm năng lý thuyết về thuỷ
điện Việt Nam xác định khoảng 300 tỷ kwh (tính cho những con sông dài hơn 10km). Tiềm
năng kinh tế - kỹ thuật xác định khoảng 75 - 80 tỷ kwh tương đương với công suất lắp máy
khoảng 18000 - 20000MW.
Theo số liệu tính đến tháng 4/2008, EVN huy động điện từ các nhà máy thủy điện
khoảng 20 tỷ Kwh, chỉ chưa chiếm đến 1/3 sản lượng điện cả nước (khoảng 66 tỷ Kwh).
Như vậy nguồn thuỷ điện ở Việt Nam mới được khai thác khoảng 26% tiềm năng kinh tế -
kỹ thuật.
2.2. Vai trò của nguồn thuỷ điện trong hệ thống nguồn điện Việt Nam
Tiềm năng của thuỷ điện ở Việt Nam đã gián tiếp nói lên vai trò to lớn của thủy điện.
Những số liệu trên thực tế một lần nữa minh chứng trực tiếp cho vai trò này. Tính đến cuối
năm 2006 thì ở nước ta thuỷ điện là một trong những nguồn cung cấp điện chính chiếm hơn
1/3 tổng nguồn, đứng thứ hai trong các nguồn, chỉ sau nguồn nhiệt điện khí.
Bảng 1.5 : Cơ cấu nguồn điện Việt Nam năm 2006
Nguồn Tỷ trọng (%)
Tổng công suất lắp máy 100
Nhiệt điện khí 40
Thuỷ điện 38
Nhiệt điện than 18
Diezel và các nguồn khác 4
Nguồn: “Vài nét về ngành điện Việt Nam, tiềm năng và kế hoạch khai thác thuỷ điện”
đầu tư cũng như cán bộ thẩm định dự án thuỷ điện thường quan tâm vì chi phí này sẽ ảnh
hưởng đến tổng vốn đầu tư của dự án.
Có thể lấy một ví dụ về dự án thuỷ điện Bản Vẽ ở Nghệ An, hồ chứa nước của nhà
máy thuỷ điện có diện tích khoảng 4.842 ha nên khi xây dựng đã buộc 30 bản làng (gần 30
hộ dân) phải di chuyển đến nơi ở mới.
- Tổng vốn đầu tư của các dự án thuỷ điện lớn và thời gian thu hồi vốn đầu tư dài.
So với các dự án đầu tư phát triển nói chung, tổng vốn đầu tư của các dự án thuỷ điện
thường lớn hơn nhiều. Đơn vị để đo lường vốn đầu tư của các dự án này có thể lên tới
nghìn tỷ. Một số yếu tố khiến cho dự án thuỷ điện có tổng vốn đầu tư lớn như: quy mô dự
án lớn, chi phí vận chuyển các nguyên vật liệu xây dựng đến vùng dự án ( thường là vùng
núi, cách xa trung tâm) cao... Đi cùng với vốn đầu tư lớn, thời gian để thu hồi vốn cũng
tương đối dài hơn các dự án thông thường thậm chí lên đến gần 20 năm.
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định: Cán bộ thẩm định khi xem xét tổng vốn đầu tư
của dự án thuỷ điện thường không thể so sánh với những dự án đầu tư ngành khác vì nếu
xem xét như vậy thì sự chênh lệch lớn sẽ dễ dẫn đến từ chối cho vay dự án.
- Chi phí vận hành của các dự án thuỷ điện không tốn kém nhiều.
Mặc dù tổng vốn đầu tư để xây dựng một dự án thuỷ điện lớn nhưng chi phí vận hành
của dự án thuỷ điện. Bởi các dự án này không phải dùng nhiên liệu nhiều và do đó hạn chế
được tác động của sự thay đổi giá thành nhiên liệu. Các nhà máy thuỷ điện không phải chịu
cảnh tăng giá của nhiên liệu hoá thạch như dầu mỏ, khí gas tự nhiên hay than đá, và không
cần phải nhập nhiên liệu. Chi phí nhân công trong quá trình hoạt động của dự án thuỷ điện
cũng thấp bởi vì các nhà máy này được tự động hoá cao và có ít người làm việc tại chỗ khi
vận hành thông thường. Đây là một trong những lợi thế của nhà máy thuỷ điện so với nhà
máy nhiệt điện.
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định: Đối với hạng mục chi phí vận hành của dự án
thuỷ điện, nếu chi phí này lớn khác thường thì hồ sơ dự án cần phải được cán bộ thẩm định
xem xét lại.
- Dự án thuỷ điện có thời gian xây dựng và thời gian vận hành dài.
Do quy mô của một dự án thuỷ điện thường lớn, kỹ thuật xây dựng cũng tương đối
phức tạp nên muốn hoàn thành một dự án thuỷ điện thường mất nhiều thời gian thậm chí
cần có thì nguy cơ vỡ đập có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Một khi những rủi ro này xảy ra sẽ
gây ngập lụt hạ lưu, gây thiệt hại lớn về con người và tài sản.
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định: Phân tích rủi ro của dự án thuỷ điện cần thực hiện
kỹ càng nhằm tránh những thiệt hại lớn có thể có.
- Vấn đề sử dụng nguồn nước một cách hợp lý có vai trò quan trọng đối với các dự
án thuỷ điện.
Các dự án thuỷ điện trong cùng một hệ thống sông cần phải liên kết chặt chẽ với nhau
trong việc khai thác nguồn năng lượng từ nước bởi việc đầu tư xây dựng thêm dự án thuỷ
điện này có ảnh hưởng lớn đến sự hoạt động của dự án thuỷ điện khác. Ngoài ra, xây dựng
các dự án thuỷ điện mà vẫn đảm bảo phát triển thuỷ lợi cũng là một vấn đề quan trọng. Hệ
thống thuỷ lợi cần duy trì sao cho vừa có đủ nước cho sản xuất nông nghiệp vừa có nước
cho sinh hoạt của dân cư.
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định: Cán bộ thẩm định khi thẩm định dự án cần đánh
giá kỹ yếu tố nguồn nước cho dự án. Đồng thời, các dự án thuỷ điện khác trong cùng một
hệ thống sông, các bậc thang thuỷ điện và hệ thống thuỷ lợi cũng là những nhân tố quan
trọng phải xem xét.
- Dự án thuỷ điện tác động mạnh đến môi trường và kinh tế xã hội.
Những nhà môi trường đã bày tỏ lo ngại rằng các dự án nhà máy thuỷ điện lớn có thể
phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái xung quanh. Sự phát điện của nhà máy điện cũng có
thể ảnh hưởng đến môi trường của dòng sông bên dưới. Thứ nhất, nước sau khi ra khỏi
turbine thường chứa rất ít cặn lơ lửng, có thể gây ra tình trạng xối sạch lòng sông và làm sạt
lở bờ sông. Thứ hai, vì các turbine thường mở không liên tục, có thể quan sát thấy sự thay
đổi nhanh chóng và bất thường của dòng chảy. Một số biến đổi có thể xảy ra là: Lượng oxy
hoà tan trong nước có thể thay đổi so với trước đó, nước chảy ra từ turbine lạnh hơn nước
trước khi chảy vào đập,... Điều này có thể làm thay đổi số lượng cân bằng của hệ động vật,
gồm cả việc gây hại tới một số loài. Thêm vào đó, các hồ chứa của các nhà máy thuỷ điện ở
các vùng nhiệt đới như nước ta có thể sản sinh ra một lượng lớn khí methane và carbon
dioxide. Điều này bởi vì các xác thực vật mới bị lũ quét và các vùng tái bị lũ bị tràn ngập
nước, mục nát trong một môi trường kỵ khí và tạo thành methane, một khí gây hiệu ứng
nhà kính mạnh. Methane bay vào khí quyển khí nước được xả từ đập để làm quay turbine.
2 Công suất lắp máy MW 11,286 11,717 13,813 17,028
Tốc độ tăng % 3.82 17.89 23.28
Nguồn: Website của Tổng công ty điện lực www.evn.com.vn
Theo Phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 - 2015 có xét
đến năm 2025 (gọi tắt là Quy hoạch điện VI) để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
của cả nước với mức tăng GDP khoảng 7,5% - 8.5%/năm giai đoạn 2006 - 2010 và cao hơn,
dự báo nhu cầu điện nước ta tăng ở mức 17% năm (phương án cơ sở), 20% năm (phương án
cao) trong giai đoạn 2006 - 2015, trong đó xác định phương án cao là phương án điều hành,
chuẩn bị phương án 22% năm cho trường hợp tăng trưởng đột biến. Để đáp ứng nhu cầu này,
nước ta cần phải đầu tư các nhà máy điện với tổng công suất là 48.744 MW từ năm 2006 đến
năm 2015 và 121.524 MW từ năm 2016 đến năm 2025 (phương án cơ sở). Nếu theo phương
án cao thì chúng ta phải đầu tư tới 59.144 MW từ năm 2006 đến năm 2015 và 148.674 MW từ
năm 2016 đến năm 2025. Với mức tăng công suất lắp đặt của các nhà máy như trên không thể
đáp ứng được nhu cầu điện cho nền kinh tế. Nước ta hiện nay vẫn phải mua điện từ một số
nước lân cận. Năm 2007 - 2008, Việt Nam phải nhập khẩu điện từ Lào với quy mô 1000 -
2000 MW và đàm phán với Trung Quốc tiếp tục mua điện của điện lực Vân Nam, Quảng Tây
đến năm 2010 là khoảng 10.000 MW.
Ngoài ra, những biến động bất thường của tình hình thời tiết cũng là một trong những
nguyên nhân khiến cho tình trạng thiếu điện hàng năm vẫn xảy ra. Những tháng đầu năm
2008, do thời tiết trong nước không thuận lợi, lưu lượng nước về các hồ thuỷ điện thấp hơn
nhiều so với cùng kỳ nên sản xuất, kinh doanh và phân phối điện gặp nhiều khó khăn. Đến
quý III, mặc dù lượng nước về các hồ tăng dần, hệ thống điện được bổ sung các nhà máy
điện Cà Mau 1 (750MW), Nhơn Trạch 1 (300MW), Cà Mau 2 (750MW), Tuyên Quang
(340MW), A Vương (150MW), Nhiệt điện Uông Bí 1 mở rộng nhưng hoạt động chưa ổn
định, nhất là các nguồn điện khí, hay bị sự cố như Uông Bí mở rộng, nên hệ thống điện vẫn
thường bị thiếu hụt công suất, nhất là vào thời gian cao điểm. Chính vì vậy tình hình thiếu
điện đã xảy ra ngay cả khi mùa khô đã kết thúc. Sự chênh lệch công suất sử dụng giữa giờ
cao điểm và giờ thấp điểm từ 1,5 - 2 lần làm cho hệ thống điện luôn bị thiếu hụt một lượng
khá lớn. Một số Điện lực tỉnh ngừng cấp điện cho sinh hoạt vẫn không đủ để ưu tiên cấp
điện cho sản xuất theo chỉ đạo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Có những thời điểm thiếu
thẩm định lập Báo cáo đề xuất tín dụng và trình lên lãnh đạo Phòng Tài trợ dự án kèm với
Hồ sơ dự án thuỷ điện để lãnh đạo thực hiện kiểm tra các nội dung, ghi ý kiến và ký kiểm
soát. Tiếp đó, Báo cáo đề xuất tín dụng này sẽ được trình lên Phó giám đốc Quan hệ khách
hàng để xin phê duyệt và chuyển tiếp cho bộ phận Quản lý rủi ro để tiến hành thẩm định rủi
ro.
4.1.3. Thẩm định rủi ro dự án thuỷ điện
Cán bộ Phòng Quản lý rủi ro tiếp nhận Hồ sơ cùng Báo cáo đề xuất tín dụng và tiến
hành thẩm định rủi ro các đề xuất tín dụng và lập Báo cáo thẩm định rủi ro trình lãnh đạo
phòng mình. Lãnh đạo Phòng Quản lý rủi ro thực hiện kiểm tra, rà soát các nội dung của
Báo cáo thẩm định rủi ro, ghi ý kiến và ký kiểm soát để trình lên cấp có thẩm quyền phê
duyệt cấp tín dụng.
4.1.4. Phê duyệt cấp tín dụng
Giám đốc/Phó Giám đốc phụ trách Quản lý rủi ro sau khi xem xét hồ sơ được trình lên
và quyết định có cấp tín dụng cho dự án thuỷ điện hay không. Báo cáo đề xuất tín dụng
được phê duyệt phải đảm bảo hồ sơ có đầy đủ chữ ký của Phó giám đốc phụ trách Quan hệ
khách hàng và Giám đốc/Phó Giám đốc phụ trách Quản lý rủi ro tín dụng.
Sơ đồ 1.1: Quy trình thẩm định dự án thuỷ điện
Phòng Tài trợ dự án Phòng Quản lý rủi ro
Khách
hàng
Tiếp thị và tiếp nhận các
nhu cầu về tín dụng từ
khách hàng
Phù hợp với các
chính sách và quy
định của BIDV
Thu thập, phân tích, thẩm
định khách hàng/ dự án thuỷ
điện. Lập Báo cáo đề xuất tín
dụng
dự án (giá trước thuế VAT tối thiểu 620 đồng/kwh, tương đương 3,85 UScent/kwh).
Ví dụ: Khi thẩm định dự án thuỷ điện La Ngâu xây dựng tại xã La Ngâu, tỉnh Bình
Thuận, một trong những nội dung được cán bộ thẩm định tại Sở giao dịch xem xét đầu tiên
đó là thoả thuận mua điện của EVN. Chủ đầu tư dự án đã có được văn bản chấp nhận mua
điện của Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN) vào tháng 2/2008. Hơn nữa chủ đầu tư
cũng đã đạt được thỏa thuận với EVN về việc đấu nối nhà máy vào hệ thống điện khu vực.
Như vậy đến thời điểm thẩm định công ty đã thực hiện được 2 bước và đang thực hiện
bước thứ 3 trong 5 bước trong trình thự, thủ tục mua bán điện với EVN. Xét về khía cạnh
này, đối với Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đây là một dự án
đáng cho vay.
Tuy nhiên, các số liệu dùng để phân tích thị trường điện mà cán bộ thẩm định sử dụng
mặc dù lấy từ Quy hoạch điện VI là quy hoạch mới nhất hiện nay nhưng những số liệu
trong quy hoạch cũng được lập từ năm 2006 và được dự báo căn cứ vào tình hình lúc đó.
Như vậy cán bộ thẩm định sử dụng số liệu này mà không tìm hiểu thông tin từ những
nguồn mới hơn sẽ làm cho đánh giá về khía cạnh thị trường kém chính xác.
4.2.2. Phân tích một số nội dung về khía cạnh kỹ thuật
Các vấn đề kỹ thuật chủ yếu cần được đánh giá đối với các dự án thủy điện được nêu
dưới đây:
4.2.2.1. Địa điểm đầu tư
Địa điểm đầu tư dự án có ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện thi công, khả năng cung cấp
nguyên vật liệu, tiến độ thực hiện, chi phí đầu tư và hiệu quả của dự án. Do đó, khi thẩm định về
địa điểm đầu tư dự án cán bộ thẩm định xem xét một số yếu tố liên quan dưới đây:
- Vị trí địa lý, số lượng/mật độ phân bố hệ thống sông, suối; các đặc trưng về hình
thái lưu vực, hệ thống giao thông.
- Mức độ sẵn có của các yếu tố đầu vào
- Dân cư: Trình độ dân trí; Phân bố, phong tục, tập quán của dân cư…
Trên cơ sở này, cán bộ thẩm định đưa ra đánh giá về những thuận lợi, khó khăn trong
việc lựa chọn vị trí/địa điểm xây dựng dự án.
Ví dụ: Dự án thuỷ điện Sekaman 3 (Lào) năm 2007 đã xin vay vốn của Sở giao dịch.
Mặc dù, đây là một dự án có địa điểm xây dựng khá xa nhưng khâu khảo sát là không thể
thuỷ văn liên quan đến dự án là tốt.
4.2.2.4. Thiết bị của công trình
Thông thường một công trình thủy điện sẽ có các hệ thống thiết bị sau: Hệ thống thiết
bị cơ khí thuỷ công, hệ thống thiết bị cơ khí thủy lực, hệ thống thiết bị điện và hệ thống
thiết bị vệ sinh môi trường. Chi tiết từng hạng mục của các hệ thống thiết bị như sau:
- Thiết bị cơ khí thuỷ công: Cửa lấy nước; Hầm dẫn dòng thi công; Đập tràn; Đường
ống thép hở hoặc đường ống thép lót trong đường hầm...
- Thiết bị cơ khí thuỷ lực: Turbin thuỷ lực; Bộ điều tốc; Thiết bị phụ trợ khác
- Thiết bị điện: Trạm biến áp/máy biến áp; Thiết bị trạm phân phối điện; Hệ thống
chiếu sáng.
- Thiết bị vệ sinh môi trường: Hệ thống thông gió và điều hòa không khí trong nhà
máy thủy điện; Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt và sản xuất…
Ví dụ: Dự án thuỷ điện Ngòi Phát tại Lào Cai năm 2007 được cán bộ thẩm định của
Sở giao dịch thẩm định để xem xét có cấp tín dụng hay không. Do cán bộ thẩm định tại Sở
không có hiểu biết chuyên sâu về những thiết bị cần có cho việc vận hành nhà máy thuỷ
điện nên phần thẩm định thiết bị của dự án chủ yếu được căn cứ vào ý kiến của tư vấn thẩm
định và cán bộ thẩm định có thể xem là đồng ý hoàn toàn với nhận xét của tư vấn thẩm
định. Sự tin tưởng này không có gì đảm bảo là không có rủi ro.
4.2.2.5. Các hạng mục công trình chính và giải pháp kết cấu
Thông thường, khi thẩm định một dự án thuỷ điện, cán bộ thẩm định xem xét nội
dung những hạng mục công trình chính và phụ trợ được tính từ thượng lưu đến hạ lưu của
các dự án thuỷ điện như sau:
- Hồ chứa (có điều tiết hoặc không điều tiết)
- Cụm công trình đầu mối: Đập dâng; Đập tràn; Bể lắng cát và cống xả cát; Công
trình dẫn dòng thi công; Các đê quây thượng lưu và hạ lưu.
- Tuyến năng lượng: Cửa lấy nước; Đường dẫn nước; Bể áp lực; Tháp/giếng điều
áp; Đường ống/hầm áp lực; Kênh xả/hầm dẫn nước ra khỏi nhà máy; Các công trình khác.
- Nhà máy thủy điện: Là công trình thuỷ công trong đó bố trí các thiết bị động lực
(turbin, máy phát điện) và các hệ thống thiết bị phụ trợ khác.
- Một số hạng mục khác như: Đường hầm/kênh xả sau Nhà máy; Trạm phân phối,
trường của cơ quan có thẩm quyền. Một số tác động chính đến môi trường khi thực hiện và
vận hành dự án thủy điện bao gồm:
- Tác động đến khoáng sản lòng hồ: Trong phạm vi hồ chứa có các mỏ khoáng sản
quý hiếm không, loại khoáng sản, trữ lượng...
- Tác động tới môi trường đất, nước, môi trường không khí
- Tác động đến môi trường kinh tế - xã hội
- Các phương án giảm thiểu tác động môi trường và biện pháp bảo vệ môi trường của
dự án.
Trong đó, vấn đề đền bù, di dân, tái định canh, định cư đối với các dự án thủy điện
cần đặc biệt coi trọng. Đây là vấn đề không chỉ ảnh hưởng đến chi phí đầu tư mà còn đến
tiến độ thực hiện dự án. Trong quá trình thẩm định, Sở giao dịch lưu ý kiểm tra việc chủ
đầu tư tuân thủ các chính sách đền bù của địa phương, sự hợp tác của cán bộ và người dân
địa phương; tiến hành kiểm tra thực địa nếu cần thiết.
Ví dụ: Khi thẩm định tác động tới môi trường của dự án thuỷ điện Ngòi Phát, cán bộ
thẩm định đã xem xét Báo cáo đánh giá tác động tới môi trường được Sở Tài nguyên và
Môi trường Lào Cai phê duyệt và đưa ra nhận định rằng dự án không gây ảnh hưởng đến
môi trường nhiều ngoài diện tích đất và rừng bị mất do xây dựng công trình và được khắc
phục bằng việc đền bù cho các hộ dân.
4.2.3. Đánh giá năng lực quản lý, vận hành của khách hàng
Việc đánh giá nội dung này cần nêu rõ: thâm niên, kinh nghiệm, năng lực, kế hoạch
đào tạo cán bộ quản lý, công nhân vận hành… của khách hàng, đặc biệt là bộ máy lãnh đạo
doanh nghiệp trong việc xây dựng, quản lý, vận hành nhà máy thủy điện để có những đánh
giá, nhận xét khả năng quản lý dự án và vận hành sau này. Qua đó, Sở giao dịch có thể đưa
ra các đề xuất, kiến nghị với khách hàng, như là thuê các chuyên gia có kinh nghiệm quản
lý điều hành dự án thuỷ điện nếu khách hàng chưa đủ kinh nghiệm.
Ví dụ: Nội dung này mặc dù được đưa vào trong hướng dẫn thẩm định dự án thuỷ
điện, nhưng trong quá trình thẩm định dự án thuỷ điện Sông Bung 5 cũng như một số dự án
thuỷ điện khác thì cán bộ thẩm định thường ít chú trọng thẩm định phần này thậm chí có dự
án cán bộ thẩm định không đưa ra bất kỳ nhận xét nào về phần này như dự án thuỷ điện La
Ngâu xây dựng tại Bình Thuận.
- Suất đầu tư theo điện lượng của dự án được tính theo công thức:
R= K / E
0
Trong đó: E
0
: Điện lượng bình quân năm của nhà máy (kWh)
Cán bộ thẩm định so sánh hai chỉ tiêu suất đầu tư trên của dự án thẩm định với các dự
án có quy mô tương đương để có đánh giá ban đầu về sự hợp lý đối với tổng mức đầu tư
của dự án.
Tham khảo các dự án đầu tư trong giai đoạn từ 2004 – 2006 cho thấy, suất đầu tư cho
1 MW thủy điện dao động trong khoảng từ 16 - 21 tỷ đồng/MW và suất đầu tư cho 1 kwh
dao động trong khoảng từ 4.000 – 5.200 đồng/kwh là hợp lý. Tuy nhiên, tùy theo điều kiện
cụ thể của từng dự án, suất đầu tư dao động phụ thuộc vào một số yếu tố như:
- Địa điểm đầu tư
- Phương án đấu nối, điểm đấu nối
- Thiết bị sử dụng: Các thiết bị có xuất xứ khác nhau có chi phí đầu tư khác nhau.
Ví dụ: Năm 2008, khi thẩm định suất đầu tư của dự án thuỷ điện Sông Bung 5, cán bộ
thẩm định đã sử dụng phương pháp tính suất đầu tư theo công suất lắp máy sau đó so sánh
suất đầu tư này với suất đầu tư của gần 15 dự án thuỷ điện tương tự khác để đưa ra được
kết luận về suất đầu tư của dự án này ở mức tương đối cao nhưng khi xét đến yếu tố giá cả
biến động so với các năm trước thì suất đầu tư này được xem là chấp nhận được.
c. Đánh giá tính khả thi của phương án nguồn vốn
- Xác định cơ cấu nguồn vốn đầu tư:
+ Tổng hợp các nguồn vốn và xác định tỷ lệ tham gia của các nguồn vốn mà chủ
đầu tư dự kiến thu xếp cho dự án.
+ Xem xét tỷ lệ vốn tự có tham gia tối thiểu có đảm bảo theo các quy định của
NHNN, BIDV và Bộ Công nghiệp không?
- Đánh giá tính khả thi phương án huy động vốn
Ví dụ: Cán bộ thẩm định khi đánh giá tính khả thi của phương án nguồn vốn của dự
án thuỷ điện La Ngâu xây dựng tại Bình Thuận đã xem xét thấy dự án được vay vốn ưu đãi