MỤC LỤC
i
MỞ ĐẦU
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm của nước ta trong thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. “Đặc điểm lớn nhất của nước ta trong thời kì quá độ là từ
một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua
giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Do đó, chúng ta phải thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn bởi nông nghiệp nông thôn là khu vực đông
dân cư nhất lại có trình độ phát triển nhìn chung là thấp so với các khu vực khác của
nền kinh tế. Nông dân chiếm hơn 70% dân số và hơn 76% lực lượng lao động của cả
nước, đóng góp 25% - 27% GDP của cả nước.
Đảng ta coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và
có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng nước ta trước đây và trong sự nghiệp
đổi mới hiện nay. Khu vực nông nghiệp, nông thôn là khu vực có tài nguyên lớn về đất
đai và các tiềm năng thiên nhiên khác, với hơn 7 triệu hecta đất canh tác, 10 triệu hecta
đất canh tác chưa được sử dụng, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm nông
– lâm - hải sản. Nông nghiệp, nông thôn giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp các
nguồn nguyên, nhiên vật liệu cho sự phát triển công nghiệp và dịch vụ.
Sau 25 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, bộ mặt nông thôn đã có những
bước khởi sắc và vai trò của nông nghiệp, nông thôn ngày càng được khẳng định. Tuy
nhiên vẫn còn đó những tồn tại, hạn chế, yếu kém nền nông nghiệp còn lạc hậu, manh
mún, nông thôn trong tình trạng kém phát triển, việc làm, thu nhập và đời sống của
nông dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp. Tình trạng đó dẫn tới sự chênh
lệch giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn.
Bên cạnh đó, việc hội nhập kinh tế thế giới mặc dù đã đạt được những thành tựu
to lớn nhưng nông nghiệp, nông thôn nước ta đang đứng trước những thách thức
không nhỏ. Đó là sự cạnh tranh quyết liệt của hàng nông sản, các hàng rào phi thuế
quan, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, những biến đổi về giá cả… tất cả những
điều đó ảnh hưởng tiêu cực đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Là tỉnh lớn nằm ở khu vực Tây Nguyên, cùng với xu thế chung của cả nước, Đắklắk
cũng đã đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn một
Đặc biệt nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa tất yếu phải tiến hành CNH – HĐH. Nhưng quá trình
CNH – HĐH ở nước ta được tiến hành trên cơ sở một nền nông nghiệp lạc hậu, phổ
biến là sản xuất nhỏ, năng suất thấp. Do đó, CNH – HĐH đất nước phải được bắt đầu
từ CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Xuất phát từ thực tiễn của đất nước, gắn với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội
và đặt trong bối cảnh của thời đại, Đảng ta xác định khái niệm CNH – HĐH nông
nghiệp, nông thôn:
- CNH – HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
theo hướng sản xuất lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí
hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết
là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản
xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của
nông sản hàng hoá trên thị trường.
- CNH – HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động vào các ngành công nghiệp và
dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ
chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ,
công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân nông thôn.
Khái niệm trên đây là rõ ràng, đầy đủ nhất về CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn
nước ta hiện nay. Khái niệm phản ánh đầy đủ đặc trưng, bản chất của quá trình CNH –
3
HĐH nông nghiệp, nông thôn, đó là sự gắn kết hữu cơ giữa nông nghiệp, nông dân, nông
thôn trong sự gắn kết giữa CNH – HĐH nông nghiệp với CNH – HĐH nông thôn.
CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn là tất yếu đối với nước ta vì những lý do:
Một là, CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa quyết định trong sự
nghiệp đổi mới và phát triển đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa.
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối
HĐH đất nước theo hướng chủ nghĩa xã hội ”.
Ba là, CNH – HĐH còn là đòi hỏi cấp bách hiện nay.
Nước ta tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa mà đặc điểm lớn nhất trong thời kì
quá độ là từ một nước nông nghiệp có nền sản xuất nhỏ, thủ công, phân tán. Sản xuất
chủ yếu là hộ gia đình với qui mô và hình thức nhỏ, năng suất thấp. Việc chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp còn chậm, ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn, chăn nuôi, lâm
nghiệp, ngư nghiệp phát triển chậm. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn vẫn
còn yếu kém. Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân vẫn còn khó khăn, tình
trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp là phổ biến, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao chiếm trên
90% số người nghèo của cả nước.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới thì nông nghiệp, nông thôn nước ta đang
phải đối diện với những thách thức không nhỏ. Thực hiện cam kết của tổ chức Thương
mại thế giới (WTO) trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là việc mở rộng thị trường nông
sản. Việt Nam sẽ chịu sự cạnh tranh rất lớn ngay cả ở thị trường trong nước.
Chính những khó khăn thách thức đó đã đặt ra những yêu cầu hết sức cấp bách, đòi
hỏi phải đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH đất nước, nhất là nông nghiệp, nông thôn.
1.1.2. Mục tiêu, nội dung và phương hướng của công nghiệp hoá – hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn
CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn gồm những nội dung sau:
Một là, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông
thôn, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, đáp ứng đầy đủ những nhu cầu vật chất
và tinh thần của người dân, phát triển hài hoà giữa các vùng. Nông dân được đào tạo
có trình độ sản xuất ngang bằng với nông dân các nước tiên tiến trong khu vực và đủ
bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.
Hai là, xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện, theo hướng hiện đại, bền
vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh
tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài.
Ba là, xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh
5
chuyển biến nền kinh tế từ thuần nông sang cơ cấu kinh tế nông nghiệp, công nghiệp
và dịch vụ. Đẩy mạnh và phát triển nhanh các ngành nghề ở nông thôn, khuyến khích
6
các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông sản; phát triển các
làng nghề truyền thống và sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn. Phát
triển nhanh và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời
sống của người nông dân. Trên cơ sở đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động vào các ngành công nghiệp và
dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế
nông thôn.
Thứ ba, xây dựng nông thôn mới dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn.
Đây vừa là nội dung, vừa là mục tiêu mà CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn
hướng đến. Từ một nước nông nghiệp tiến hành CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn
thì vấn đề không thể thiếu là xây dựng nông thôn mới với kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội đồng bộ gắn với phát triển đô thị; bảo vệ môi trường sinh thái, xây dựng đời sống
vật chất và văn hoá tinh thần phong phú, lành mạnh, giàu bản sắc truyền thống. Hệ
thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường, dân chủ ở nông thôn được
phát huy, trình độ dân trí được nâng cao, các tệ nạn xã hội được đẩy lùi; xã hội nông
thôn được ổn định, an ninh chính trị và an toàn trật tự xã hội được đảm bảo giữ vững.
Như vậy, CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn thực chất là quá trình phát triển
nông thôn theo hướng CNH – HĐH, tạo ra sự chuyển biến về chất trên mọi lĩnh vực
của đời sống nông thôn; tạo ra nông thôn mới dân chủ, công bằng, văn minh, với cơ sở
hạ tầng kinh tế hiện đại, môi trường trong lành, xã hội ổn định, có cuộc sống vật chất
và tinh thần ngày càng cao cho cư dân nông thôn.
Để hiện thực hoá các mục tiêu và nội dung trên cần thực hiện những phương
hướng sau:
- Xây dựng nền nông nghiệp nông thôn theo hướng hiện đại, đồng thời phát triển
nhanh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với việc phát triển các
nông nghiệp của người dân Đắklắk chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và phụ thuộc nhiều
vào tự nhiên, phổ biến là sản xuất nhỏ, hộ gia đình là chủ yếu, nhiều vùng đặc biệt là
vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn mang nặng dấu ấn tự cung tự cấp, trong sản xuất lấy
năng suất làm trọng mà ít quan tâm tới chất lượng, hiệu quả của hàng nông sản.
Bốn là, nông dân Đắklắk có tính tự lực cao.
Tính tự lực cao của nông dân Đắklắk được hình thành trong lịch sử, được rèn
luyện và trở thành truyền thống quý báu của cộng đồng các dân tộc Đắklắk qua công
8
cuộc kháng chiến kiến quốc của cả dân tộc. Tính tự lực đó biểu hiện bằng ý chí, khát
vọng xoá bỏ đói nghèo, lạc hậu và vươn lên làm giàu bằng chính lao động của mình. Ý
chí, khát vọng đó thôi thúc người nông dân Đắklắk huy động mọi tiềm năng về lao
động, tiền vốn, đất đai và kinh nghiệm, trí tuệ vào việc phát triển kinh tế nông nghiệp,
nông thôn và xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Trong tiến trình phát triển của tỉnh Đắklắk, nông dân có vai trò quan trọng. Điều
này thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, nông dân Đắklắk là nguồn nhân lực chủ yếu và quyết định trực tiếp
trong xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá.
Nông dân Đắklắk đã phá vỡ thế độc canh trong sản xuất nông nghiệp hàng chục
năm trước đây. Đến nay đã hình thành nền sản xuất toàn diện với sự phát triển của
nông, lâm, ngư nghiệp nên đã tạo ra nguồn nông sản đa dạng có giá trị kinh tế cao.
Kết quả này khẳng định vai trò to lớn của nông dân Đắklắk trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, hình thành nên nền nông nghiệp toàn diện theo hướng sản
xuất hàng hoá. Nguồn nông sản của nông dân không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu trong tỉnh
mà còn là nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Như vậy, trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn nông dân Đắklắk
không chỉ đóng vai trò là nguồn nhân lực chủ yếu và trực tiếp quyết định trong phát
triển nền kinh tế nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá mà còn cung
cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Thứ hai, nông dân Đắklắk là nguồn nhân lực cơ bản trong chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn theo hướng CNH – HĐH.
Thứ tư, nông dân Đắklắk còn là chỗ dựa vững chắc của hệ thống chính trị nông
thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Phát huy truyền thống yêu nước của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ, trong thời kì CNH – HĐH nông dân Đắklắk vẫn là chỗ dựa vững chắc
cho hệ thống chính trị nông thôn, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ. Tham gia xây
dựng hệ thống chính trị, đấu tranh chống lại các hiện tượng tiêu cực trong xã hội như
tham nhũng, mất đoàn kết trong nhân dân, chống diễn biến hoà bình trên địa bàn nông
thôn.
Tóm lại, từ những phân tích ở trên, ta thấy rằng sự nghiệp CNH – HĐH nông
nghiệp, nông thôn nói riêng và sự ổn định, phát triển về mọi mặt của tỉnh Đắklắk nói
chung lệ thuộc vào việc khai thác, phát huy vai trò, tiềm năng của người nông dân.
10
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở ĐĂKLĂK
2.1. Những thành tựu và nguyên nhân trong việc phát huy vai trò của nông
dân Đắklắk trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn từ năm 2000 đến nay
2.1.1. Những thành tựu
Phát triển nông nghiệp toàn diện, đồng thời phát triển công nghiệp, dịch vụ và
xây dựng nông thôn mới là nội dung cơ bản của quá trình CNH – HĐH nông nghiệp,
nông thôn ở Đắklắk. Trong quá trình đó, với tư cách là lực lượng sản xuất cơ bản, lực
lượng chính trị - xã hội đông đảo, nông dân Đắklắk khẳng định vai trò quyết định của
mình trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn Đắklắk. Vai trò này biểu
hiện trong nỗ lực phấn đấu của người dân trong sản xuất nông nghiệp và trong xây
dựng nông thôn mới.
Thứ nhất, nông dân Đắklắk đã phát huy tính tích cực trong phát triển nền nông
nghiệp có cơ cấu toàn diện, gắn với sản xuất hàng hoá.
- Là một tỉnh miền núi với tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, đặc biệt là
tài nguyên đất nên không chỉ thuận lợi cho việc trồng các loại cây lương thực, cây
bào dân tộc thiểu số đã được đẩy mạnh. Nhờ vậy, một bộ phận nông dân, trong đó có
cả một bộ phận dân tộc thiểu số đã mạnh dạn chuyển đổi tập quán canh tác cũ, năng
suất thấp sang áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp
như trồng thâm canh, trồng xen canh các loại cây trồng, áp dụng kỹ thuật nuôi trồng có
năng suất, chất lượng cao làm cho năng suất nông nghiệp tăng. Năm 2012 sản lượng
lương thực có hạt ước đạt 989.900 tấn, vượt 3.800 tấn so với kế hoạch; diện tích cây
lâu năm tiếp tục tăng, nhất là cafê và cao su. Tổng diện tích cafê niên vụ 2012 – 2013
là 182.434 ha, sản lượng khai thác đạt 380.000 tấn, cây cao su là 24.861 ha, sản lượng
khai thác ước đạt 28.163 tấn mủ quy khô; cây điều 41.535 ha, sản lượng 14.023 tấn;
cây cacao 933 ha, sản lượng 1.609 tấn quả tươi; cây hồ tiêu 4.703 ha, sản lượng 12.198
tấn. Chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục phát triển ổn định; duy
trì được đàn trâu, bò, lợn và đàn gia cầm, tăng diện tích nuôi trồng thuỷ sản có hiệu
quả, tổng đàn trâu có 31.300 con, đàn bò 213.000 con, đàn lợn 625.000 con, đàn gia
cầm 6.000.000 con, đàn ong mật 170.000 đàn. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 7.000
ha, sản lượng 8.200 tấn, sản lượng cá bột đạt 720 triệu con…
12
- Nông dân Đắklắk tạo ra nguồn nông sản, nguyên liệu đáp ứng cho yêu cầu sản
xuất công nghiệp và xuất khẩu.
Công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp chiếm 60% cơ cấu công nghiệp
của tỉnh, đặc biệt là cây cafê không những đáp ứng cho nhu cầu ở trong nước mà còn
xuất khẩu ra nước ngoài. Vì vậy, để đáp ứng cho nhu cầu trên đòi hỏi phải phát huy tính
tích cực và vai trò của nông dân Đắklắk trong sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp,
nông thôn. Trong những năm qua, diện tích và sản lượng cafê ở Đắklắk không ngừng
tăng lên về chất và lượng. Từ khi vào Việt Nam năm 1857 đến sau năm 1930 có khoảng
5.900 ha, năm 1957 có 20.000 ha, năm 1975 Đắklắk có trên 37.000 ha, năm 1990 có
trên 76.000 ha, hiện nay là 178.196 ha (2012). Trong đó có 172.047 ha cafê kinh doanh,
sản lượng hàng năm đạt 430.000 tấn. Niên vụ 2011 – 2012 toàn tỉnh Đắklắk có 5.035 ha
hồ tiêu, sản lượng năm 2010 ước đạt 11.881 tấn (bằng 98% vụ trước); có 25.124 ha cao
su, sản lượng 28.038 tấn (tăng 397 tấn so với năm trước); 36.421 ha điều, sản lượng đạt
24.106 tấn; 940 ha cacao, sản lượng đạt 1.609 tấn quả tươi. Đây là nguồn nguyên liệu vô
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn nông thôn.
Hưởng ứng cuộc vận động “toàn dân xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”
nông dân Đắklắk đã nêu cao tinh thần trách nhiệm trong xây dựng đời sống văn hoá ở
khu vực nông thôn. Năm 2012 có 72.4% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, 100%
buôn, thôn có hội trường, điểm sinh hoạt văn hoá. Điều này đã góp phần nâng cao đời
sống văn hoá tinh thần cho cư dân nông thôn, đồng thời, tạo động lực cho quá trình
phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn nông thôn.
Ngoài ra, nông dân Đắklắk còn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong xây dựng hệ
thống chính trị cơ sở trên địa bàn nông thôn. Nông dân tự giác và ý thức cao trong việc
xây dựng Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội cũng như giám sát việc
thực hiện Qui chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn nông thôn.
Như vậy, với sự chủ động, tích cực và tinh thần trách nhiệm cao nông dân Đắklắk
đã khẳng định được vai trò to lớn vào quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn
ở Đắklắk. Thúc đẩy nền nông nghiệp toàn diện, xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng ở nông
thôn, hệ thống chính trị - xã hội được tăng cường, đời sống vật chất và tinh thần của
nông dân từng bước được cải thiện.
2.1.2. Nguyên nhân của những thành tựu
Một là, Được sự tập trung chỉ đạo và quản lý của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh
cùng sự phối hợp của các cơ quan ban, ngành bằng những cơ chế, chính sách cụ thể đã
tạo ra động lực mới đối với nông dân Đắklắk cả về kinh tế và chính trị, kích thích, thúc
14
đẩy họ, không chỉ trong lao động sản xuất, xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu mà
còn củng cố, tăng cường lòng tin của nông dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ
nghĩa. Chính vì vậy, đã tạo ra động lực mới thúc đẩy nông dân Đắklắk tích cực, chủ
động và phát huy tinh thần, trách nhiệm trong CNH – HĐH.
Nhiều chính sách, cơ chế và kế hoạch đầu tư, hỗ trợ cho nông nghiệp, nông dân,
nông thôn trong tỉnh được ban hành và triển khai thực hiện, tiêu biểu như:
- Chương trình thực hiện nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn.
- Chỉ đạo thực hiện Chương trình 134: đã hoàn thành các nội dung về giải quyết
lượt Hội viên, nông dân, xây dựng 900 mô hình trình diễn các loại, tổ chức thăm quan
học tập trong và ngoài tỉnh, thành lập và duy trì có hiệu quả 150 câu lạc bộ khuyến
nông, 143 câu lạc bộ gia đình nông dân văn hoá… Năm 2012, tỉnh Hội đã tiến hành
thành lập Trung tâm dạy nghề và hỗ trợ việc làm nông dân thuộc Hội nông dân tỉnh.
Tuy mới hoạt động nhưng Trung tâm dạy nghề và hỗ trợ việc làm đã phối kết hợp với
Sở Lao động - thương binh và xã hội, Trường Cao đẳng Nghề thanh niên dân tộc,
Trung tâm dạy nghề các Huyện, thành phố tổ chức được 98 lớp dạy nghề ngắn hạn về
chăn nuôi thú y, trồng trọt và bảo vệ thực vật, may dân dụng, điện, sửa chữa máy nông
nghiệp cho 3.404 nông dân. Triển khai 7 dự án vay vốn quĩ Quốc gia hỗ trợ việc làm
cho 115 hộ hội viên nông dân vay 900 triệu đồng để đầu tư sản xuất, giải quyết cho
một số lao động có việc làm hiệu quả; Tín chấp với ngân hàng đầu tư và phát triển
nông thôn và uỷ thác vay vốn với Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh cho 64.964 lượt
hộ hội viên, nông dân khó khăn, hộ nghèo vay 304,11 tỷ đồng. Tín chấp với các doanh
nghiệp mua 210 tấn ngô giống và 30.000 tấn phân bón các loại theo hình thức trả
chậm, trị giá trên 56 tỷ đồng. Vận động xây dựng Quỹ hỗ trợ nông dân được 2.322 tỷ
đồng, triển khai thực hiện các dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn do Trung
ương Hội nông dân Việt Nam và địa phương đầu tư với số vốn trên 800 triệu đồng ở
vùng đặc biệt khó khăn. Bên cạnh đó, các cấp Hội còn vận động hội viên nông dân
giúp nhau xoá 242 nhà tạm cho hội viên nông dân nghèo, trị giá 2,5 tỷ đồng, trong đó
hội viên nông dân đóng góp ủng hộ 600 triệu đồng và hàng nghìn công lao động; giúp
nhau 42.299 cây, con, giống, 11.000 công lao động, 5.057 tỷ đồng, 700 tấn phân bón
các loại… Với phong trào này, hội đã trực tiếp tham gia giúp 13.590 hộ hội viên, nông
dân thoát nghèo và có nhiều hộ vươn lên có cuộc sống khá giả.
Tất cả những hoạt động đó là sự động viên, hỗ trợ kịp thời, thiết thực của chính
quyền các cấp, xứng đáng làm nòng cốt tổ chức các phong trào phát triển kinh tế - xã
16
hội, xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nông dân
Đắklắk trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh.
Ba là, tính tự lực vươn lên của chính bản thân người nông dân Đắklắk.
Tính tự lực cao là một trong những truyền thống của nông dân Đắklắk. Truyền thống
công nghệ trong nông nghiệp còn nhiều hạn chế, chất lượng và khả năng cạnh tranh
của sản phẩm chưa cao. Nông dân cũng hạn chế về khả năng tiếp cận thị trường,
không biết, hoặc không thể tăng thu nhập của mình được nhờ chuỗi giá trị hàng hóa.
Ngay cả khi làm được, không phải lúc nào họ cũng có phương tiện để đáp ứng các yêu
cầu an toàn thực phẩm theo quy định. Từ đó nảy sinh một loạt vấn đề: tổ chức nào ban
hành, giám sát, chứng nhận quy chuẩn này, chi phí bao nhiêu; nông dân tiếp cận bằng
cách nào; cơ sở hạ tầng cho các công đoạn đã đồng bộ chưa, khắc phục ra sao… Cũng
vì còn nhiều vướng mắc chưa thể tháo gỡ nên tình trạng sản phẩm làm ra không có
nhãn mác, không bảo quản được lâu ngày và phải bán qua khâu trung gian vẫn phổ
biến, nông dân vẫn phải chịu thiệt thòi.
Ba là, nông dân Đắklắk vẫn còn chưa yên tâm trong sản xuất nông nghiệp.
Do những biến đổi về thời tiết, khí hậu và dịch bệnh liên tục xảy ra ở nhiều nơi
trong tỉnh gây thiệt hại về kinh tế đối với người nông dân. Riêng năm 2013 do ảnh
hưởng của bão, sản xuất vụ Đông – Xuân năm 2012 - 2013 thiệt hại về nông nghiệp
trên 300 tỷ đồng, tiếp đó hạn hán làm cho 1.200 ha cây trồng khô hạn, thiệt hại khoảng
200 tỷ đồng. Bên cạnh đó, tình hình lạm phát, giá vật tư nông nghiệp tăng, giá sản
phẩm nông nghiệp trên thị trường thường xuyên biến động bất lợi cho người sản xuất.
Tất cả những điều đó làm ảnh hưởng tới tốc độ, hiệu quả và động lực vươn lên
của nông dân Đắklắk trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn.
2.2.2. Nguyên nhân
Những tồn tại, hạn chế trên đây ngoài những nguyên nhân khách quan như sự yếu
kém của cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; di dân tự do; thiên tai, dịch bệnh với cây trồng
vật nuôi; giá cả các mặt hàng phục vụ nông nghiệp tăng, giá thành các sản phẩm nông
nghiệp lại thường xuyên biến đổi do những biến động của kinh tế thị trường, cùng
những tác động tiêu cực từ việc hội nhập kinh tế quốc tế thì còn có những nguyên
nhân chủ quan cơ bản sau:
Thứ nhất, nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị -
xã hội về vị trí, vai trò của nông dân còn nhiều hạn chế.
Nhìn lại quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắklắk
thì vấn đề nông nghiệp, nông thôn nói chung và vấn đề nông dân nói riêng chưa được
Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắklắk, nhiều chính sách, dự án hỗ trợ người nghèo đạt kết quả
rất thấp như: chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo còn thấp là 9,6 triệu đồng
(2012) trong khi đó giá các vật tư phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và cho nhu cầu
tiêu dùng của người nông dân lại cao; chính sách hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở, nước sinh
19
hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số đạt kết quả thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao và công cuộc
xoá đói giảm nghèo thiếu sự bền vững
Chính sách đào tạo, nâng cao chất lượng lao động nông thôn còn chưa theo kịp
yêu cầu phát triển của CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn. Mặc dù, các cơ sở đào
tạo nghề đã được đầu tư xây dựng trên khắp các huyện, thành phố, nhưng tỷ lệ lao
động nông nghiệp qua đào tạo còn thấp đặc biệt lao động là người dân tộc thiểu số. Tỷ
lệ lao động được đào tạo là 20.5% năm 2011, đến năm 2012 là 29%, nhìn chung lao
động nông nghiệp hầu hết là lao động phổ thông, dựa vào kinh nghiệm là chính. Điều
này làm hạn chế lớn đến việc phát huy vai trò của nông dân trong quá trình CNH –
HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Đắklắk.
Công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn được ưu tiên phát triển song chưa đạt kế hoạch
đề ra, công tác quy hoạch còn nhiều hạn chế, nhiều cơ sở thuỷ lợi xuống cấp, hiệu quả
sử dụng thấp, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng lớn đến
đời sống của người nông dân.
Trong xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn,
tỉnh Đắklắk quy định mức hỗ trợ của Nhà nước đối với các huyện, thôn, buôn là 70%
giá thành xây dựng, còn 30% là do dân vùng hưởng lợi đóng góp. Với mức hỗ trợ này,
trong điều kiện giá thành xây dựng cao trong khi thu nhập của nông dân Đắklắk hầu hết
là rất thấp thì mức đóng góp đó càng làm cho thu nhập người nông dân thấp hơn. Ngoài
các khoản đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của xã, nông dân Đắklắk
còn đóng góp các quỹ theo qui định của Nhà nước như nghĩa vụ lao động công ích, quỹ
phòng chống thiên tai bão lụt, quỹ bảo trợ trẻ em, quỹ an ninh quốc phòng, quỹ đền ơn
đáp nghĩa… Điều này làm cho đời sống của người nông dân thêm khó khăn, khả năng
tích luỹ để đầu tư phát triển sản xuất cũng bị suy giảm, góp phần vào làm giảm vai trò
của nông dân trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Đắklắk.
triển kinh tế và xây dựng nông thôn mới. Hoạt động của hội chỉ mang tính chất tuyên
truyền, vận động chưa đi vào chiều sâu với những hoạt động cụ thể, thiết thực như đào
tạo nghề, chuyển giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất…
Hoạt động của Hội nông dân cấp cơ sở ở Đắklắk còn mang nặng tính thụ động,
trong việc phối hợp với các ngành, các cấp hỗ trợ người nông dân trong sản xuất nông
nghiệp, xây dựng nông thôn và nâng cao đời sống của người dân. Việc phối hợp hoạt
động của Hội nông dân cấp cở sở ở tỉnh Đắklắk thông qua thực hiện các chương trình
liên tịch giữa Hội nông tỉnh với các ngành như Ngân hàng Chính sách – xã hội tỉnh,
21
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Lao động thương binh và xã hội, Sở Khoa
học và công nghệ, Sở Công nghiệp… còn thiếu chủ động và chưa hiệu quả. Nội dung,
hình thức hoạt động của Hội ở một số cơ sở chậm đổi mới, và có phần lúng túng.
Vai trò đại diện cho nông dân Đắklắk của Hội nông dân, nhất là cấp cơ sở trong
tham gia xây dựng Đảng, chính quyền chưa được phát huy hiệu quả. Nông dân Đắklắk
chưa đóng góp nhiều và cũng chưa được hưởng lợi từ các chương trình phát triển kinh tế -
xã hội trên địa bàn nông thôn, thậm chí còn nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc.
Chính vì vậy, Hội nông dân cấp cơ sở ở tỉnh Đắklắk chưa làm tốt vai trò đại diện
cho nông dân, chưa có sự giúp đỡ, hỗ trợ cho nông dân một cách có hiệu quả. Do đó,
tiềm năng của tỉnh Đắklắk chưa được khai thác, phát huy có hiệu quả vào phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.
Chính sự yếu kém trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành của chính quyền
nói riêng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị nông thôn nói chung, không
những làm mất đi tính tích cực, sự chủ động của người nông dân trong phát triển kinh
tế – xã hội, mà còn gây ra bất bình, bức xúc trong đời sống nông thôn.
Thứ tư, xuất phát từ những hạn chế của chính người nông dân Đắklắk.
Người dân Đắklắk còn mang nặng tính bảo thủ, ít chịu bỏ cái cũ thay cái mới, sản
xuất nông nghiệp mang tính kinh nghiệm, ít áp dụng thành tựu của khoa học – công nghệ.
Một bộ phận nông dân thiếu ý thức tự lực vươn lên mà trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ
trợ của Nhà nước nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tâm lí thoã mãn, bằng lòng
với lối canh tác hiện tại, với thu nhập hiện tại, với nghề nghiệp hiện tại nên thụ động
nước trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn Đắklắk phải
phát huy vai trò của nông dân trên cơ sở đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ với quá trình
hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hoá nông thôn.
Tỉnh Đắklắk xác định: tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng trong nông thôn là 5 – 6 % năm.
Vì vậy, đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển mạnh cả nông,
lâm và ngư nghiệp trên cơ sở áp dụng những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện
đại vào sản xuất nông nghiệp để sử dụng có hiệu quả đất đai, tài nguyên, lao động,
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản nhằm nâng
cao thu nhập, cải thiện đời sống của nông dân. Đồng thời đẩy mạnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn theo hướng đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, dịch vụ tạo ra nhiều việc làm mới, thu hút lao động trên địa bàn nông thôn.
23
Đi đôi với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tăng cường đầu tư phát triển
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển các đô thị trên địa bàn theo qui hoạch. Tập
trung là giao thông, thuỷ lợi, điện, chợ, trường học, cơ sở y tế… tạo điều kiện thuận
lợi, đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và nâng cao đời sống cư dân nông thôn.
Như vậy, sự gắn bó hữu cơ giữa nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá
trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Đắklắk đòi hỏi mỗi bước phát triển
của sản xuất nông nghiệp, kinh tế - xã hội của nông thôn đồng thời làm tăng thu nhập
và nâng cao đời sống của nông dân. Điều này tạo ra động lực to lớn, đảm bảo người
nông dân thật sự gắn bó với sản xuất nông nghiệp và chủ động, tự giác xây dựng nông
thôn trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Đắklắk. Việc khẳng
định và đặt đúng vị trí chủ thể của nông dân trong mối quan hệ với nông nghiệp và
nông thôn sẽ khơi dậy và phát huy được sự cố gắng, nhiệt tình, tính tích cực, năng
động sáng tạo và các nguồn lực của nông dân Đắklắk đầu tư vào phát triển sản xuất
nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại.
Hai là, kết hợp tăng trưởng kinh tế với chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của
nông dân trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở
tỉnh Đắklắk