Dạy học bài thơ nhàn của nguyễn bỉnh khiêm trong chương trình ngữ văn 10 theo hướng tiếp cận thi pháp học - Pdf 30

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC

DẠY HỌC BÀI THƠ “NHÀN” CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 THEO
HƯỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN


HÀ NỘI - 2014
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC DẠY HỌC BÀI THƠ “NHÀN” CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 THEO
HƯỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP HỌC

HÀ NỘI - 2014

i
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ, lời đầu tiên em xin trân trọng cảm ơn
tới PGS. TS. Trần Khánh Thành – người thầy trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn em
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các thầy cô
Trường Đại học Giáo dục đã tạo điều kiện tôt nhất cho chúng em trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh Hòa Bình, Ban
giám hiệu trường THPT Quyết Thắng và các thầy cô giáo trong tổ Văn - Sử -
Địa trường THPT Quyết Thắng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót, tác giả luận văn mong được tiếp thu những ý kiến đóng góp
của thầy cô và các đồng nghiệp.
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014
Tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc

ii
MỤC LỤC

16
1.3. Một số vấn đề về thi pháp thơ Nôm Đường luật

31
1.4. Một số vấn đề về thi pháp thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

39
1.4.1. Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

39
1.4.2. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

42
1.4.3. Không gian nghệ thuật

45
1.4.4. Thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

46
1.4.5. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

48
1.4.6. Nghệ thuật thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm

50
1.5. Dạy học tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học

52
Tiểu kết Chương 1


2.2. Những định hướng đổi mới dạy học bài thơ “Nhàn” của Nguyễn
Bỉnh Khiêm từ hướng tiếp cận thi pháp học 61
2.2.1. Dạy học bài “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ hướng tiếp
cận thi pháp thơ trung đại 61
2.2.2. Dạy bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm theo đặc điểm thi pháp tác giả

63
2.2.3. Kết hợp một cách hợp lí với một số phương pháp dạy học tích
cực các tác phẩm văn chuơng 70
Tiểu kết Chương 2

74
Chương 3: THỰC NGHIỆM DẠY BÀI THƠ “NHÀN” CỦA
NGUYỄN BỈNH KHIÊM THEO HƯỚNG TIẾP CẬN THI
PHÁP HỌC
75
3.1. Mục đích thực nghiệm

90
3.5.3. Đánh giá kết quả

92
Tiểu kết Chương 3

93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

94
1. Kết luận

94
2. Khuyến nghị

94
TÀI LIỆU THAM KHẢO

96 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học là ngành nghệ thuật có sức hấp dẫn tự nó, Các Mác có nói:
“Nghệ thuật là niềm vui lớn nhất mà con người tự tạo cho mình”. Nói đến mỗi
tác phẩm văn học là nói đến nghệ thuật tái hiện sự sống bằng hình tượng trong
trạng thái cảm xúc của chủ thể phản ánh, đưa lại cho người thưởng thức

giảng một cách đại khái dẫn tới không hiểu hết được bao tâm huyết và sự
sáng tạo tuyệt vời của người viết gửi gắm trong tác phẩm. Tình trạng đó thật
đáng báo động đối với một môn học giàu giá trị nhân văn và khả năng hoàn
thiện nhân cách con người. Để tháo gỡ tình trạng trên, chúng tôi đưa ra một
định hướng dạy tác phẩm văn học trung đại trong chương trình phổ thông
theo hướng tiếp cận thi pháp học.
Hiện nay vấn đề đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trường
đang tiếp tục diễn ra. Đặc biệt dạy học văn từ hướng tiếp cận thi pháp đang
diễn ra sâu rộng, và bước đầu đã có kết quả. Việc phổ biến tri thức thi pháp
học trong nhà trường đã có bề dày khoảng 20 năm. Từ những vấn đề trên,
cùng với khát khao muốn khám phá cái hay cái đẹp trong văn học trung đại,
mà cụ thể là tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sáng tác của ông đậm chất
triết lí, chất thời sự có giá trị rất lớn trong đời sống con người. Chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: Dạy học bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm
trong chương trình Ngữ văn 10 theo hướng tiếp cận thi pháp học. Với đề tài
này, chúng tôi muốn tìm đến một cách dạy khoa học, nghệ thuật, tạo sự hứng
thú học tập cho học sinh, nâng cao hiệu quả một giờ giảng dạy văn chương,
hình thành khả năng cảm thụ văn chương một cách toàn diện cho học sinh.
Chúng tôi mong muốn đề tài này sẽ góp một phần nhỏ vào quá trình hiện đại
hóa việc dạy học môn Ngữ văn hiện nay. 3
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Thi pháp học
Từ giữa thế kỷ XX công việc nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học
theo tinh thần thi pháp học là xu hướng chung trên phạm vi toàn thế giới. Ở
Việt Nam với chủ trương hòa nhập thế giới, từ sau Đổi mới 1986 đến nay
chúng ta đã có nhiều điều kiện tốt để thực hiện điều này. Chúng ta đã có một
đội ngũ thi pháp học đông đảo. Việc tiếp cận và ứng dụng quan điểm thi pháp

hướng nổi bật của nghiên cứu văn học Liên Xô từ năm 1959.
Ở Pháp, thi pháp học bắt đầu được nhà thơ P. Valéry nói đến trong
chuyên đề giảng ở Viện Hàn lâm Pháp năm 1935, nhưng nó thực sự thu hút
với sự bùng phát của chủ nghĩa cấu trúc những năm 60 do ảnh hưởng của việc
giới thiệu thi pháp học Nga đầu thế kỷ.
Ở Việt Nam, từ những năm 30 cho đến trước Cách mạng tháng Tám,
1945 thi pháp chỉ được nhắc đến lẻ tẻ trong một số công trình văn học mà
chưa phải phương pháp luận của một trào lưu, một xu hướng thẩm mỹ. Từ
năm 1945 đến năm 1975, nói chung các nhà lí luận và sáng tác văn học cách
mạng dường như chỉ quan tâm nội dung phản ánh hiện thực mà ít chú ý đến
phương diện thi pháp, mặc dù đôi lúc có quan tâm đến phong cách, bút pháp
sáng tác của nhà văn. Ở miền Nam trong vùng kiểm soát của chính quyến cũ,
tuy có điều kiện giới thiệu về lí thuyết cấu trúc song chưa nêu vấn đề nghiên
cứu thi pháp văn học. Đã có một số công trình lí luận, nghiên cứu của các nhà
nghiên cứu, các giáo sư bậc đại học nhưng còn tản mạn, phân tán và về cơ
bản, thi pháp học vẫn chỉ được quan niệm như là phép tắc làm thơ, kiến thức
về thi ca. Việc nghiên cứu, phê bình văn học về cơ bản vẫn theo truyền thống
cũ. Từ sau năm 1975, ở Việt Nam, ảnh hưởng của Liên Xô cũ vẫn là chủ yếu
bởi tất cả lí thuyết về khoa học nhân văn phương Tây vẫn bị coi là “quan
điểm của chủ nghĩa tư bản”, đều bị phê phán và không cho “nhập cảnh”. Đầu

5
những năm 1980 một số nhà nghiên cứu văn học như Phạm Vĩnh Cư, Duy
Lập, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân,…đã giới thiệu thi pháp học Liên Xô
vào Việt Nam, dịch một số công trình của Bakhtin, Khrapchenco…Đồng thời
chuyên đề thi pháp học được Trần Đình Sử mở tại Đại học Sư phạm Hà Nội,
một số cuộc hội thảo chuyên đề về thi pháp học đã được tổ chức tại Hà
Nội…Từ đó nhu cầu tìm hiểu thi pháp học đã trở nên sôi động trong giới
nghiên cứu và giảng dạy văn học, nhiều người xem đó là cách đổi mới trong
nghiên cứu, phê bình văn học. Bên cạnh đó việc giới thiệu các lí thuyết,

gần suốt thế kỷ XVI”. Cuộc đời và thơ ca của ông là đề tài khá hấp dẫn cho
các nhà nghiên cứu. Cho nên tính đến thời điểm ngày hôm nay, ngoài một số
bài viết lẻ tẻ trên Tạp chí Văn học, còn có nhiều công trình nghiên cứu về thời
kỳ lịch sử phức tạp và cuộc đời có nhiều mâu thuẫn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia tác phẩm – Trần Thị Băng Thanh, Vũ Thanh
tuyển chọn và giới thiệu, gồm 67 bài viết tập trung nghiên cứu theo từng
phương diện. Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc –
Viện khoa học xã hội – Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm, đóng góp 28 bài viết
có chiều sâu, với nhiều tư liệu có giá trị về Nguyễn Bỉnh Khiêm: Thân thế và
hoàn cảnh lịch sử, sự nghiệp thơ văn, một số vấn đề khác liên quan đến Trạng
Trình. Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập – Nguyễn Khuê, đây là
công trình nghiên cứu và phiên dịch có giá trị mới mẻ. Công trình bao gồm
bốn phần. Phần thứ nhất tác giả giới thiệu đại cương về hoàn cảnh lịch sử, về
cuộc đời, về những tác phẩm chữ Hán, tác phẩm chữ Nôm, Sấm ký. Phần thứ
hai tác giả đi vào khai thác tình cảm tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phần
thứ ba là những nhận xét vầ giá trị nghệ thuật và giá trị nội dung của Bạch
Vân am thi tập, đồng thời đã khẳng định vị trí và ảnh hưởng của Nguyễn Bỉnh
Khiêm trong lịch sử văn hóa dân tộc, trong lòng dân tộc Việt Nam. Phần thứ
tư là 102 bài thơ trong Bạch Vân am thi tập đã được tuyển dịch khá công phu.
Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm – Đinh Gia Khánh chủ biên, tập trung trích 161

7
bài thơ Nôm và gần 100 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tập sách
có lời giới thiệu của tác giả với những lời nhận xét chung khá thuyết phục về
nội dung, nghệ thuật, tư tưởng của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Triết lí nhàn dật
và tự tại trong sách Nguyễn Bỉnh Khiêm - danh nhân văn hóa – Trần Đình
Hượu, tập trung bàn khá thú vị về lối sống nhàn, tự tại của hiền triết. Tập kỷ
yếu về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được thực hiện nhân lễ kỷ niệm 500
năm năm sinh của ông, bao gồm 52 bài tham luận xoay quanh những vấn đề
“luôn luôn còn một ý nghĩa thời sự, là những vấn đề còn để ngỏ chư chưa

chương trình Ngữ văn 10, tập 1, ban cơ bản.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Cơ sở lý luận về thi pháp văn học, thi pháp thơ trung đại, thi
pháp thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Thứ hai: Đánh giá thực trạng dạy học tác phẩm thơ trung đại trong nhà
trường trung học phổ thông. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học bài
thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm theo hướng tiếp cận thi pháp học.
Thứ ba: Thiết kế giáo án thử nghiệm bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đặc trưng thi pháp học, thi
pháp văn học trung đại, thi pháp Nguyễn Bỉnh Khiêm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về dạy học thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong chương
trình trung học phổ thông theo hướng tiếp cận thi pháp học.
- Vận dụng vào dạy bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh khiêm trong
chương trình Ngữ văn 10, tập 1, ban cơ bản.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học.

9
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp điều tra.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng dạy học thơ trung đại trong nhà trường trung
học phổ thông hiện nay. Định hướng đổi mới dạy học bài thơ Nhàn của

pháp học (1975) định nghĩa thi pháp là những quy tắc chung mà người ta sử
dụng để sáng tác ra tác phẩm văn học cụ thể. M. B. Khrapchenco cho rằng Thi
pháp học như một bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương
tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá nghệ thuật bằng hình
tượng [14, 18]. Trần Đình Sử đã đưa ra định nghĩa về thi pháp học như sau:
Thi pháp học là bộ môn nghiên cứu tất cả mọi phương diện của hình thức
nghệ thuật, mọi nguyên tắc, phương tiện tạo thành nghệ thuật cũng như sự
vận động, phát triển lịch sử của chúng [17, 8]. Theo từ điển thuật ngữ văn
học định nghĩa Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức là hệ thống
các phương thức, phương tiện, thử pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng
nghệ thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và
hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự cấu thành
thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh của sáng tác
nghệ thuật [5, 304]. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về thi pháp và thi
pháp học. Có thể hiểu thi pháp là hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật chi phối
sự tạo thành của hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó. Thi pháp không

11
phải nguyên tắc có trước, nằm bên ngoài, mà là nguyên tắc bên trong, vốn có
của sáng tạo nghệ thuật, hình thành cùng với sáng tạo nghệ thuật. Nó là mĩ
học nội tại của sáng tác nghệ thuật gắn liền với sự sáng tạo và một trình độ
văn hóa nghệ thuật nhất định, mang một quan niệm nhất định đối với cuộc
đời, con người và bản thân nghệ thuật. Thi pháp biểu hiện trên các cấp độ: tác
phẩm, thể loại, ngôn ngữ, tác giả, và bao trùm là cả nền văn học. Thi pháp học
là khoa học nghiên cứu về thi pháp.
1.1.2. Các bình diện thi pháp cơ bản trong sáng tạo văn học
1.1.2.1. Thi pháp nhân vật
Nhân vật là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Thi pháp học xem xét
nhân vật ở ba khía cạnh: tính cách nhân vật, quan niệm nghệ thuật về con
người, nghệ thuật tả nhân vật.

thi pháp nhân vật, ta phải khám phá cách cảm nhận con người qua việc miêu
tả nhân vật.
1.1.2.2. Thi pháp không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật thuộc phạm trù hình thức nghệ thuật, là phương
thức tồn tại, triển khai thế giới nghệ thuật. Không gian nghệ thuật là trường
nhìn được mở ra từ một điểm nhìn. Mỗi tác phẩm có một không gian do tác
giả lựa chọn và miêu tả. Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ giàu ý nghĩa
cảm xúc. Người ta đã mượn ý niệm về không gian để miêu tả con người. Đó
là không gian nghệ thuật chung của mọi người. Không gian nghệ thuật gồm
có: không gian sự kiện, không gian bối cảnh, không gian tâm lý, không gian
kể chuyện.
1.1.2.3. Thi pháp thời gian nghệ thuật
Thời gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật. Thế giới tồn
tại và xác định trong không gian, thời gian. Thời gian nghệ thuật và không
gian nghệ thuật không tách rời nhau trong một tác phẩm. Nhà văn có thể chú
ý cả hai hoặc một trong hai. Thời gian nghệ thuật luôn mang quan niệm, cảm

13
xúc và ý nghĩa nhân sinh mang tính chủ quan. Vậy thời gian nghệ thuật là
hình tượng được hư cấu trong tác phẩm nghệ thuật.
1.1.2.4. Thi pháp chi tiết nghệ thuật
Mỗi hình tượng nghệ thuật được thêu dệt nên từ nhiều chi tiết lớn nhỏ
khác nhau. Những đối tượng miêu tả như nhân vật, cảnh vật, môi trường…
tạo nên bằng hình dáng, đường nét, âm thanh, thuộc tính chọn lọc mà tác giả
cho là cần thiết, quan trọng nhất, loại bỏ những cái rườm rà không cần thiết.
Chi tiết là những bộ phận nhỏ, tự nó đứng riêng thì không có ý nghĩa, nhưng
khi kết lại nó biểu hiện ý nghĩa của tác phẩm. Chi tiết chính là điểm nhìn, thể
hiện quan niệm nghệ thuật và tâm hồn tác giả đối với đối tượng đó. Thi pháp
học hiện đại khám phá tính quan niệm qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật của
thế giới nghệ thuật. Quan sát nhiều chi tiết cùng loại hoặc lặp đi lặp lại, ta

1.1.2.7. Thi pháp lời văn nghệ thuật
Lời văn nghệ thuật có tính hình tượng, mỗi lời đều là lời sáng tạo của
nhà văn nhằm thực hiện ý muốn của mình. Lời văn nghệ thuật có tính tổ chức
cao, được lự chọn theo ý thích, thói quen và khả năng của nhà văn. Nhà văn
có một lời văn riêng khác với những gì để kế thừa – đó là thi pháp tác giả.
Nghĩa là nhà văn đã tạo ra một hệ thống lời văn độc đáo.
1.1.2.8. Hình tượng tác giả
Tiếp xúc với văn bản nghệ thuật ngoài việc cảm nhận nội dung khách
quan chúng ta còn giao tiếp với tác giả, đồng cảm với tác giả. Hình tượng tác
giả đã đứng ra nói chuyện và giao tiếp với độc giả, vậy chúng ta không nên
đồng nhất hai tác giả, tác giả tiểu sử và tác tác giả nghệ sĩ. Hình tượng tác giả
có chân dung hành động, ngôn ngữ chứa đựng trong tác phẩm. Đặc biệt có khi
tác giả tự miêu tả mình. Nhìn chung hình tượng tác giả thể hiện trên ba mặt:
Cái nhìn; giọng điệu; lập trường lựa chọn, phân tích, đánh giá. Hình tượng tác
giả có vẻ tồn tại như vô hình. Tuy vậy khi đọc văn, người đọc vẫn đọc theo
hướng của tác giả, đọc thầm hay đọc thành tiếng theo giọng điệu của tác giả.

15
Cái nhìn và giọng điệu vô hình nhưng có thực, luôn luôn tồn tại và ổn định
suốt theo tác phẩm. Đó là yếu tố thi pháp quan trọng có thể xác định được cho
dù nó vô hình dạng.
1.2. Thi pháp văn học Trung Đại Việt Nam
1.2.1. Nội hàm khái niệm văn học Trung đại Việt Nam
Nghiên cứu thi pháp văn học trung đại Việt Nam không thể không bắt
đầu từ việc xác định nội hàm khái niệm văn học trung đại. Một vấn đề mà cho
đến nay không phải mọi người đều đã nhận thức nhất trí.
Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX từ trước đến nay có
nhiều tên gọi khác nhau. Một thời gian rất dài có tên là Văn học phong kiến.
Rõ ràng khái niệm văn học phong kiến không những không thể hiện đúng
bản chất nền văn học Việt Nam thế kỷ X đến thế kỷ XIX, mà còn không thiết

Xã hội loài người được chia làm bốn thời kì phát triển, tương ứng với
bốn hình thái xã hội. Đó là các hình thái xã hội: nguyên thủy, chiếm hữu nô
lệ, phong kiến, tư sản – vô sản. Thời nguyên thủy, về cơ bản chưa có văn học
nghệ thuật theo đúng nghĩa của nó. Tương ứng với ba thời kỳ còn lại là ba
nền văn học: cổ đại, trung đại, cận – hiện đại. Các thuật ngữ văn học cổ đại,
trung đại, cận – hiện đại chỉ nhằm khu biệt từng giai đoạn phát triển văn học
của xã hội loài người chứ không hề khẳng định hay phủ định một giai cấp,
một tập đoàn hoặc một các nhân nào. Dùng những thuật ngữ trên sẽ tránh
đựợc sự hiểu nhầm và định kiến của con người, khiến ta khách quan hơn khi
nhìn nhận một thời kỳ văn học.
Văn học Việt Nam thế kỷ X – XIX tồn tại tương ứng với thời kỳ ra đời
và phát triển các chế độ xã hội phong kiến Việt Nam. Bởi vậy ta có thể định
danh văn học Việt Nam thế kỷ X – XIX là văn học trung đại.
1.2.2. Một số đặc trưng thi pháp văn học trung Đại Việt Nam
1.2.2.1. Hệ thống ước lệ thẩm mĩ cổ điển
- Ước lệ, một đặc trưng thi pháp

17
Văn học trung đại, ước lệ được nhà văn sử dụng triệt để, nghiêm túc và
phổ biến. Các nhà văn bao giờ cũng cảm thụ và diễn đạt thế giới bằng hệ thống
nghệ thuật ước lệ. Ước lệ đã trở thành một đặc trưng thi pháp của văn học.
Đặc trưng thi pháp này hình thành từ bối cảnh lịch sử xã hội phong
kiến và cảm qua thẩm mĩ của tầng lớp nghệ sĩ Hán học.
Xã hội phong kiến là một xã hội đẳng cấp, lắm nghi thức công thức. Xã
hội bị lễ nghĩa trói buộc, nên văn chương tất phải ước lệ. Tầng lớp nho học
xem sách xưa, lời nói của thánh hiền, người trước là chuẩn mực thì văn
chương không thể không đạt đến những mẫu mực về bút pháp, dùng từ, xây
dựng hình ảnh, hình tượng, sử dụng điển tích điển cố… Với các nhà văn thời
này văn chương phải “Văn dĩ tải đạo”, “Thi dĩ ngôn chí”, sáng tác văn học là
hình thức trước thư lập ngôn, nên văn chương ước lệ mới đẹp mới sang trọng.

chỉ, đi đứng, ăn nói tựa như đang sống trong thế giới của nghệ thuật sân khấu:
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.
Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa.
(Nguyễn Du)
Tạo vật thiên nhiên đi vào văn chương cũng phải thật sang quý và đẹp
như: tùng, cúc, trúc, mai
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
(Bà Huyện Thanh Quan)
Nhìn chung, văn chương thời ấy không chú ý tả thực. Tả thực nếu có,
chỉ dùng cho những nhân vật phản diện phàm tục như Mã Giám Sinh, Sở
Khanh, Tú Bà…
Thoắt trông nhờn nhợt màu da
Ăn chi cao lớn đẫy đà làm sao?
(Nguyễn Du)

19
Thời bấy giờ người ta quan niệm con người không hoàn thiện, hoàn mĩ
bằng tạo hóa, không tài hoa bằng hóa công. Vì thế, những gì cần lí tưởng hóa
đều phải được so sánh với thiên nhiên, thiên nhiên trở thành chuẩn mực cho
cái đẹp của con người. Còn những tiểu nhân chỉ có thể so sánh với xác của
chúng, mới tả thực.
+ Tính sùng cổ
Do quan niệm thời gian phi tuyến tính, nên trong văn chương cổ của
dân tộc ta, các nhà văn luôn có xu hướng tìm về quá khứ. Họ lấy quá khứ làm
chuẩn mực cho cái đẹp, lẽ phải, đạo đức. Với họ thời đại hoàng kim không có
trong thực tại mà chỉ có vào thời Nghiêu, Thuấn. Người anh hùng nghĩa sĩ lí
tưởng là Kỉ Tín, Do Vu. Chân lí quá khứ là chân lí có sức sáng tỏa muôn đời.

quyên. Cô gái luôn được miêu tả mặt hoa, da phấn, lưng ong, gót sen; anh
hùng đấng trượng phu, bậc quân tử được ví như cây tùng, cây bách nơi chốn
lâm tuyền, sẽ làm rường cột cho quốc gia. Cốt truyện thì theo một công thức
định sẵn như: gặp gỡ, ly tán, đoàn viên…
Thơ phải cách luật. Luật phối thanh bằng trắc của thơ phú cũng quy
định nghiêm ngặt, chăt chẽ, khiến cho người làm thơ phải diễn tả thế giới
bằng thính giác có tính “phi ngã” của cộng đồng tao nhân mặc khách. Bố cục
thơ cũng định sẵn, bất di bất dịch. Ngay cả tiêu đề thơ cũng quanh quẩn: ngôn
hoài, thuật hoài, ngôn chí…
Người viết văn làm thơ có một kho điển cố, kho thi liệu, văn liệu
chung. Tất cả là những hình ảnh, những ngôn từ ước lệ, phi ngã.
Tuy nhiên, nói văn học trung đại có tính phi ngã không có nghĩa trong
tác phẩm văn chương không có dấu ấn bản ngã của người nghệ sĩ. Bởi lao
động nghệ thuật là một hoạt động sáng tạo, văn học chân chính không chấp
nhận công thức, phi ngã. Trong văn học thời trung đại của dân tộc ta, các cây
bút lớn đều khẳng định tư tưởng, cá tính và tài nghệ độc đáo của họ. Tiến
trình văn học đã khẳng định điều đó. Chúng ta không thể phủ nhận cá tính

Trích đoạn Thực trạng dạy học thơ trung đại trong nhà trường trung học phổ Thực trạng dạy học bài “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong Dạy học bài “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ hướng tiếp Dạy bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm theo đặc điểm thi pháp tác giả Thiết kế giáo án thực nghiệm dạy học bài thơ “Nhàn” của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status