PHẦN A: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I. XUẤT PHÁT TỪ LÝ LUẬN DẠY HỌC
Văn học là ngành nghệ thuật có sức hấp dẫn tự nó, Các Mác có nói
“Nghệ thuật là niềm vui lớn nhất mà con người tự tạo cho mình”. Nói đến
mỗi tác phẩm văn học là nói đến nghệ thuật tái hiện sự sống bằng hình tượng
trong trạng thái cảm xúc của chủ thể phản ánh, đưa lại cho người thưởng
thức những khoái cảm thẩm mỹ.
Trong nhà trường phổ thông, dạy văn và học văn đã trở thành những
hoạt động không thể thiếu. Dạy học môn Văn không tách rời khỏi việc khám
phá, phát hiện ra sức hấp dẫn của mỗi tác phẩm văn học ở ngôn từ, hình
tượng, ở ý nghĩa tư tưởng. Mỗi giờ giảng văn tốt sẽ đem lại cho các em
những rung cảm thẫm mĩ, mở rộng tầm nhìn của các em vào cuộc sống, làm
các em xúc động sâu xa trước một thế giới Chân - Thiện - Mỹ với bao khát
vọng, ước mơ của con người mọi thời đại. Để từ đó các em trở về hoàn thiện
nhân cách của chính mình.
Vì vậy, trách nhiệm của mỗi người thầy dạy văn là mỗi giờ lên lớp phải
tìm thấy và phát hiện cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học, làm cho các em
thực sự sống trong thế giới hình tượng đó, thực sự rung cảm với niềm vui,
nỗi buồn, niềm vui sướng… mà tác giả đã thể hiện. Công việc đó thật cao cả,
hấp dẫn song cũng hết sức khó khăn và phức tạp và nhiều lúc nó còn trở nên
nhàm chán nếu cứ lặp đi lặp lại một thao tác nào đó, một nội dung nào đó…
Để giờ Văn thực sự thu hút học sinh, công việc mà chúng tôi hết sức
chú ý là phát huy vai trò chủ thể tích cực, sáng tạo của học sinh trong quá
trình học văn. Quá trình đọc - hiểu văn bản phải là quá trình các em cảm thấy
hứng thú khi khám phá, phát hiện và chiếm lĩnh những giá trị đích thực của
tác phẩm. Muốn vậy, người thầy phải đóng vai trò chủ đạo điều khiển,
hướng dẫn học sinh chủ động tiếp nhận tác phẩm, sống với tác phẩm. Dạy
văn và học văn sao cho có hiệu quả - đó là niềm trăn trở của mỗi người thầy
đang đứng trên bục giảng.
II. XUẤT PHÁT TỪ THỰC TẾ GIẢNG DẠY
Thực tế cho thấy công việc dạy văn và học văn quả còn nhiều điều khó
2
PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN
Bài thơ Nhàn theo chúng tôi là mộ tác phẩm thơ Nôm hay nhưng khó
giảng và khó lĩnh hội. Có những nguyên nhân chủ quan và khách quan.
1. Đối với giáo viên:
Bài thơ Nhàn mới đưa vào chương trình từ năm học 2006 – 2007 (Theo
chương trình cải cách mới – Sách Ngữ văn 10 tập một), con đường khai thác
bài thơ chưa rộng mở, tài liệu nghiên cứu còn hạn hẹp. Bài thơ lại thuộc loại
khó hiểu vì thiên về thể hiện triết lý sống của lớp nhà nho tài năng, đức độ
như Nguyễn Bỉnh Khiêm nhưng phải sống giữa giai đoạn xã hội phong kiến
khủng hoảng, suy vi. Hơn nữa, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm lại thâm trầm, có
chiều sâu trí tuệ, không dễ gì giảng cho học sinh nắm được, thời gian đọc –
hiểu văn bản lại hạn chế trong một tiết học. Đó là thử thách đối với giáo
viên.
2. Đối với học sinh:
Các em mới ở cấp trung học cơ sở lên, còn bỡ ngỡ và xa lạ với chương
trình, rất ít em biết tới nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hiểu biết hạn chế ấy
khiến cho học sinh khi tiếp xúc với bài thơ Nhàn thuộc phần văn học trung
đại cách bức về thời gian và tâm lí, dễ làm học sinh nản, thấy bài thơ kém
hấp dẫn. Việc không hiểu sẽ dẫn đến không thích bài thơ, ngại học những bài
thơ kiểu này.
II. BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Để bài thơ Nhàn đến với học sinh một cách dễ dàng thuận lợi hơn,
chúng tôi chủ trương đưa học sinh tham gia vào quá trình khám phá văn bản
nghệ thuật đồng thời làm tăng tính hấp dẫn của giờ học. Cả người dạy và
người học cùng tích cực tham gia vào quá trình khám phá và chiếm lĩnh tác
phẩm văn chương. Người thầy phải có các biện pháp tác động “kích thích”
giúp trò tự tìm đến chân lí (đây là điều khác cơ bản so với cách dạy theo lối
Nguyễn Bỉnh Khiêm một nhà nho có uy tín và ảnh hưởng lớn với thời
đại, sống gần trọn vẹn thế kỷ 16. Ông học rộng tài cao, luôn khao khát mang
tài sức của mình giúp dân, dựng nước, xây đắp một xã hội yên bình thịnh trị.
Nhưng giai đoạn lịch sử mà ông sống trái hẳn với những điều mà ông mong
muốn. Nguyễn Bỉnh Khiêm tận mắt chứng kiến cuộc hỗn chiến giữa những
tập đoàn phong kiến tranh giành quyền vị: Vua Lê – Chúa Trịnh, Trịnh -
Nguyễn phân tranh, Đàng trong - Đàng ngoài, rồi nhà Mạc thay thế nhà
Lê, Bất mãn với thời cuộc, ông sống như một ẩn sĩ. Nhưng mặt khác tấm
lòng “vì đời” vẫn khiến ông xuất hiện trên chính trường mỗi khi triều đình
phong kiến vời ông ra giúp.
Bên cạnh việc tìm hiểu về thời đại, con người và tư tưởng Nguyễn Bình
Khiêm, các em đã sưu tầm được khá nhiều những bài thơ hay của Bạch Vân
cư sĩ và tự đọc trước lớp trong phần giới thiệu về tác giả. Ví dụ bài Thói đời
phê phán thói xấu trong xã hội:
Thế gian biến cải vũng nên đồi
Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi
Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử
Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi
Xưa nay đều trọng người chân thực
Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi
Ở thế mới hay người bạc ác
Giàu thì tìm đến, khó thì lui.
Hoặc các em phát hiện ra điều khá thú vị là trong thơ Nguyễn Bỉnh
Khiêm có rất nhiều bài đề cập đến chủ đề nhàn. Tập thơ Bạch Vân quốc ngữ
thi có 170 bài thì trong đó có trên 40 bài nói đến chữ nhàn và cụm từ nhàn
xuất hiện với mật độ cao như: thư nhàn, thanh nhàn, ông nhàn, thân nhàn,
nhàn dật, rỗi nhàn, Trừ ở một vài cụm từ, nhàn có nghĩa là ít việc hoặc
không có việc, phần lớn đều biểu hiện một lối sống, một thú vui và cao hơn
là cả một quan điểm triết học.
Ở nhiều bài thơ, chữ nhàn đi liền với chữ thú, thú nhàn thể hiện trong
Trong số các môn học trong nhà trường, thì khâu “đọc” là đặc thù của
môn văn học. Chúng tôi quan niệm nếu đọc - hiểu một văn bản thơ trữ tình
mà quên mất khâu đọc sáng tạo thì văn bản sẽ giảm cái hay đi một nửa. Đọc
tốt văn bản giúp cho học sinh cảm thụ trực tiếp được tác phẩm văn học. Đọc
văn bản còn đòi hỏi người đọc, người nghe đều phải chú ý đến từ, câu, nhịp
điệu, gây cảm xúc và kích thích họat động hình dung tưởng tượng, biết
phân tích, đánh giá, thưởng thức tác phẩm.
Bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một bài thơ vừa có chất trữ
tình vừa có chất triết lý, ngôn ngữ rất mộc mạc đời thường nhưng lại ẩn ý
thâm trầm thể hiện quan niệm sống nhàn và nhân cách thanh cao của nhà thơ
giữa cuộc đời còn nhiều thăng trầm. Chúng tôi hướng dẫn học sinh:
- Phát âm rõ ràng, chính xác, đọc một cách giản dị, tự nhiên phù hợp với
nội dung tư tưởng tác phẩm.
- Đọc với giọng thong thả, chú ý đến sự biến đổi trong cách ngắt nhịp
để ngắt giọng cho đúng.
Ví dụ: - Một mai,/ một cuốc,/ một cần câu,
Nhịp 2/2/3
Giọng thong thả như lời đếm các dụng cụ lao động.
- Ta dại,/ ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn,/ người đến chốn lao xao
5
Cả hai câu nhịp 2/5
Giọng tự tin, hơi hóm hỉnh, thấm đượm chất triết
lí.
- Ở những cặp câu đối (hai câu thực, hai câu luận) đọc với giọng nhịp
nhàng hơn để làm nổi bật ý thơ.
Ví dụ: Thu/ ăn măng trúc, đông/ ăn giá,
Xuân/ tắm hồ sen, hạ/ tắm ao.
Sử dụng nhịp 1/3 – 1/2 và nghệ thuật đối
Âm điệu toát lên cái hào hứng, thích thú, sảng khoái
- Từ “thơ thẩn” gợi trạng thái như thế nào ?
- Nhận xét về cuộc sống sinh hoạt của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua hai câu
thơ luận ? Tâm trạng của thi nhân trước cuộc sống ấy ?
- Nghệ thuật đối: Ta dại > < Người khôn
Nơi vắng vẻ > < Chốn lao xao
thể hiện quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ra sao ? Qua đó cho
thấy vẻ đẹp nhân cách của thi nhân như thế nào ?
6
c. Loại câu hỏi nâng cao
Loại câu hỏi này giúp học sinh phát triển tư duy, nâng cao hiểu biết trên
cơ sở biết cách khái quát vấn đề sâu rộng hơn. Câu hỏi này thường dành cho
học sinh khá hoặc thảo luận nhóm.
Ở cuối bài sau khi đã đọc – hiểu toàn bộ tác phẩm, chúng tôi đưa ra
những câu hỏi:
- Theo em, triết lý “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm là gì ?
- Có người cho rằng chữ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm là thoát ly
cuộc sống xã hội chỉ cốt lo sự nhàn hạ cho bản thân, ý kiến của em như thế
nào ?
Ba loại câu hỏi trên có tác dụng khác nhau, hỗ trợ cho nhau được chúng
tôi đan cài vào những vị trí khác nhau trong bài giảng giúp học sinh khi trả
lời cũng là lúc tự chiếm lĩnh giá trị của tác phẩm một cách chủ động, hào
hứng. Ở phần giáo án dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày hệ thống câu hỏi một
cách chi tiết hơn.
4.Tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm
Hoạt động theo nhóm là một trong những phương pháp mới của việc
dạy học văn hiện đại. Nó giúp cho học sinh phát triển tư duy và có dịp bày tỏ
ý kiến cá nhân vốn rất phong phú, sáng tạo của mình. Trong thời lượng một
tiết học, chúng tôi cho học sinh thảo luận nhóm trên cơ sở hai câu hỏi đã nêu
ở trên:
- Giải thích ý nghĩa nhan đề “Nhàn” của tác phẩm.
Em hãy giải thích nhan đề
“Nhàn” của tác phẩm?
Giáo viên hướng dẫn học sinh
cách đọc.
I. Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585)
1. Cuộc đời
- Quê: Làng Trung Am, xã Lí Học, huyện Vĩnh
Bảo, Hải Phòng.
- Đỗ Trạng Nguyên (1535), làm quan dưới triều
Mạc
- Cáo quan về quê ở ẩn, dựng am Bạch Vân dạy
học.
- Đã từng dâng sớ chém 18 tên lộng thần, không
được vua chấp nhận.
- Người đời gọi ông: Bạch Vân cư sĩ, Tuyết
Giang Phu Tử, Trạng Trình.
2. Con người
- Tính tình thẳng thắn, cương trực.
- Học vấn uyên thâm, tương truyền có nhiều câu
sấm ngữ đoán định tương lai.
3. Sự nghiệp văn chương
- Là nhà thơ lớn của dân tộc
- Để lại 2 tập thơ:
+ Bạch Vân am thi tập (700 bài)
+ Bạch Vân quốc ngữ thi (170 bài)
- Nội dung: Mang đậm chất triết lí giáo huấn,
ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, phê phán
những điều xấu xa trong xã hội.
- Nghệ thuật:
+ Giản dị, mộc mạc, tự nhiên, linh hoạt, có
Hình ảnh Nguyễn Bỉnh
Khiêm qua hai câu đầu?
2. Bố cục
II. Tìm hiểu văn bản:
1. Vẻ đẹp chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm
a. Vẻ đẹp cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm
* Câu 1, 2:
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
- Điệp số từ: “Một” ba lần
- Kết hợp danh từ: Mai, cuốc, cần câu
- Nhịp thơ 2/2/3
Tư thế ung dung, sẵn sàng cho cuộc sống lao
động “tự cung tự cấp” chốn làng quê.
Cụ Trạng Trình vui sống giữa thôn quê như một
“lão nông tri điền”
- Từ láy “thơ thẩn”: Trạng thái thảnh thơi, vô tư,
không vướng bận gì.
Cụm từ “ dầu ai vui thú nào”: Không bận tâm với
lối sống bon chen, không chạy đua với danh lợi.
Nguyễn Bỉnh Khiêm – con người trí thức có
danh vọng trở về sống ung dung, tự tại giữa cuộc
sống lao động thuần phác nơi thôn dã, tâm hồn
thảnh thơi không màng đến thế sự, pha chút ngông
ngạo trước thói đời.
9
Vẻ đẹp chân dung
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Vẻ đẹp cuộc sống
nào?
* Câu 5, 6:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Đông tắm hồ sen, hạ tắm ao.
+ Cuộc sống sinh hoạt hiện lên:
- Thức ăn: Thu: măng trúc
Đông: giá đỗ
- Sinh hoạt: Xuân: tắm hồ sen
Hạ: tắm ao
Cuộc sống đạm bạc, nghèo nhưng thanh cao, trở
về với tự nhiên mùa nào thức ấy.
+ Cách ngắt nhịp 1/3 – 1/2:
- Thời gian bốn mùa
- Cuộc sống hòa mình với nhịp điệu thiên nhiên
bốn mùa.
Tâm trạng thi nhân vô cùng sảng khoái và thích
thú giữa môi trường sống thanh tao của thiên nhiên.
Hai câu thơ vẽ nên một số bộ tranh tứ bình tuyệt
đẹp: có cảnh, có người, có mùi vị, hương sắc. Trong
đó con người thảnh thơi tận hưởng niềm hạnh phúc
do thiên nhiên mang lại.
* Tiểu kết
+ Nội dung: Vẻ đẹp cuộc sống của Nguyễn Bỉnh
Khiêm thể hiện ở niềm vui với công việc lao động
nơi thôn dã, hòa mình vào thiên nhiên, sống thuận
theo lẽ tự nhiên.
+ Nghệ thuật:
- Nhịp thơ thong thả, cách ngắt nhịp linh hoạt
- Ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi cảm.
b. Vẻ đẹp trí tuệ, nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm
như thế nào trước hiện thực?
Bốn câu thơ đã thể hiện vẻ
đẹp con người của Nguyễn
Bỉnh Khiêm như thế nào?
Nghệ thuật có gì đặc sắc?
Các em thảo luận nhóm 4
người: Theo em, triết lí
“nhàn” của Nguyễn Bỉnh
Khiêm là gì?
GV lắng nghe, bổ sung và
chốt lại vấn đề.
Hãy trình bày những nét nghệ
thuật nổi bật của bài thơ?
thanh cao, có trí tuệ, sáng suốt tỉnh táo trong cách
“xuất xử” lựa chọn.
Hai chữ “dại”, “khôn” là cách nói ngược nghĩa
một cách hóm hỉnh đùa vui song rất ý vị, thâm trầm.
Dại thực chất là khôn.
Với Nguyễn Bỉnh Khiêm cái khôn của người thanh
cao là quay lưng lại với danh lợi tìm sự thư thái
trong tâm hồn, sống ung dung hòa hợp với tự nhiên,
cái cốt yếu không phải là vinh hoa phú quý mà cái
cốt yếu là giữ cốt cách thanh cao, tâm hồn trong
sạch.
* Câu 7, 8:
Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
- Mượn điển tích, mượn trạng thái “say” thể hiện
một cái nhìn tỉnh táo: Công danh, của cải, phú quý
chỉ là phù du, chỉ là một giấc chiêm bao mà thôi.
Hãy trình bày nội dung tư
tưởng tác phẩm?
Các em thảo luận nhóm
- Cách ngắt nhịp linh hoạt, tài hoa.
+ Nội dung:
- Bài thơ như một lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc
khẳng định quan niệm sống nhàn là hòa hợp với
thiên nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên
danh lợi. Từ đó sáng lên vẻ đẹp nhân cách và trí tuệ
Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Đây cũng là tiếng nói chung của lớp nhà nho có
nhân cách trong giai đoạn xã hội phong kiến suy vi,
khủng hoảng.
Bài tập củng cố:
Có người cho rằng chữ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh
Khiêm là thoát li cuộc sống xã hội chỉ cốt lo sự nhàn
hạ cho bản thân. Ý kiến của em như thế nào?
12
PHẦN C: KẾT LUẬN
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ của chúng tôi khi tiến hành áp
dụng vào việc dạy và học bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm - một bài
thơ hay và khó trong chương trình Ngữ văn lớp 10. Biện pháp khắc phục của
chúng tôi cũng không nằm ngoài sự đổi mới phương pháp dạy học đang diễn
ra hàng ngày hàng giờ trên mọi miền tổ quốc, bao gồm: Hướng dẫn học sinh
soạn bài ở nhà, phương pháp đọc sáng tạo, phương pháp xây dựng hệ thống
câu hỏi phát huy vai trò chủ thể của học sinh, hướng dẫn các em thảo luận
nhóm và soạn giáo án điện tử. Kết quả sau khi thực hiện sáng kiến đã cho
chúng tôi một niềm tin vào công việc của mình đã làm. Từ kết quả đó chúng