Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dung môi và HP bê ta cyclodextrin tới khả năng giải phóng của piroxicam ra khỏi tá dược thuốc mỡ - Pdf 30

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
TRẦN NGUYÊN NHUNG
NGHIÊN cú u ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT s ố DƯNG
MÔI VÀ HP-(3-CYCLODEXTRIN TỚI KHẢ NĂNG
GIẢI PHÓNG CỦA PIROXICAM RA KHỎI TÁ
DƯỢC THUỐC MỠ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DUỢC sĩ ĐẠI hỊ
KHOÁ 1999-2004
Người hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Văn Long
Nơi thực hiện: Bộ môn bào chế
Thời gian thực hiện: Từ 10/2003 đến 5/2004
HÀ NỘI, THÁNG 5- 2004
M ò i e ả w i đ * i
rĐãtj là liíttìá luân to i nựUiậpL 5 IItint hoe tậ p eủa em tạ i
ft'ỉii)’ttí/ ^tìtíi hoe (Dtùỉe '3ÙỈL QUỈ. &WI đàn. faitij t ó lòtiíị kính. oà
l ù A ổ n A t ì I I i Ắ e t ề i <c7& /ìt ạ tt ụ ể ề t. U ĩ t m ạ - H íịíứi t h ầ y , it ã
hêĩ Ịỏtiạ tận tìn h dẫn d ắ t oà ụĩúp (tù’ em tvtuiạ suốt quá trình thực
hiên ntịltiẽn eứií. <5wt củng, xiễL eảni tin ữcị’. Oíỹưiụếrt 60à/iỢ Í7ổrtà,
ợ/ỉc?. fflế/fff/ễft Gfciti J2/fỉ/i eùnụ. eẩe. tltầiỊ eò ạiÁfrf eáe. ktj th u ật mền
của hà mòn ^Bàú- eltè'itã (ỊÌííỊì (Tẽ)’ DÙ ta tì m oi (tiền kiên eỉto em hoàn
thành Ufa tì á luân . 3Cỉtfíá luận tuụ nỗi (tun(ị eầti hạn ehê nhưng, nó
eó mò Ị £ Híịỉũa lân đ ố i aắl OWL. ^Đé là tttỉíe đanh dấu. sii Ịvtìồtitị
thành eảíL em sau thúi tịỉan họe đ ạ i hạc eẻ (tii’f/e Uèt qiíả nàụ
em asm earn Oil eác thầiị eồ (ịiáo của ti'tuUtg (Đại Itọe ^Diíợe, (ỊỈa
đĩnh, lưtti hi - tilỉĩúMỊ Híịùèỉ thân ỉdêti bĩu em, (Ịtian tâm t (tôn(Ị
aìèn em, eỉttì em Ultêttg chi Uìên thứe. ehíUỊML m ần m à e/ht eả
nỉiữuíị Ịịài họe kinh Híịỉùèm tỊtiý í) ít tí ỈÍ'ÚU(Ị Cíiộe sàn (ị, là hành
haiuỊ elto em hỉtóe oào đãi.
C/vtìn Qlạiiụêii QUiiititị
MỤC LỤC


.
15
2.1.1 Nguyên vật liệu
15
2.1.2 Thiết bị máy móc 15
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu 16
2.2. Kết quả thực nghiệm và nhận xét 20
2.2.1. Xây dựng đường chuẩn biểu diễn mối quan hệ giữa nồng
độ piroxicam và mật độ quang 21
2.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ dung môi PG tới khả năng giải
phóng của piroxicam ra khỏi tá dược gel 22
2.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ dung môi DMF tới khả năng giải
phóng của piroxicam ra khỏi tá dược gel 23
2.2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ dung môi DMSO tới khả năng
giải phóng của piroxicam ra khỏi tá dược gel 24
2.2.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ dung môi DMA tới khả năng giải
phóng của piroxicam ra khỏi tá dược gel 26
2.2.6. So sánh ảnh hưởng của bản chất dung môi tới khả năng giải phóng
của piroxicam ra khỏi tá dược gel 27
2.2.7. Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp dung môi tới khả năng giải
phóng của piroxicam ra khỏi tá dược gel 28
2.2.8. Nghiên cứu ảnh hưởng của HP-P-CD tới khả năng giải phóng của
piroxicam ra khỏi tá dược gel 33
2.2.9. So sánh khả năng giải phóng piroxicam giữa chế phẩm gel
ROSIDEN và gel thực nghiệm 35
2.3. Bàn luận 36
Phần 3. Kết luận và đề xuất 40
Tài liệu tham khảo.
NHŨNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT

1. Công thức hoá học ([45],[14],[19],[40],[3])
khối lượng phân tử: 331,4
Tên khoa học: 4-hydroxy-2-methyl-N-2-pyridyl-2H-1,2-benzothiazine-
3-carboxamide 1,1-dioxide.
2. Tính chất[45],[14],[19],[40],[24]
Bột kết tinh trắng hoặc vàng nhạt, nhiệt độ nóng chảy khoảng 200°c,
không tan trong nước, tan trong methylen clorid, ít tan trong ethanol và trong
dung dịch kiềm.
Tính acid do nhóm 4-hydroxy enol. Phân ly thành proton 4-hydroxy có
tính acid yếu pKa=5,l và pyridyl nitrogen có tính base yếu pKa=l,8. Hệ số phân
bố trong octanol và dung dịch đệm pH =7,4 là 1,8.
3. Độ ổn định
Piroxicam dạng nguyên liệu ổn định ở 20-40°C trong 2 năm khi bảo quản
ở bình kín tránh ánh sáng, không có gì thay đổi về thành phần, hình dạng, màu
sắc, mùi vị của tinh thể. Để trong bình thuỷ tinh không màu và chiếu xạ 300-830
nm ở 30°c, piroxicam ổn định được khoảng 72 giờ[45].
Độ ổn định trong NaOH IN: dung dịch piroxicam trong NaOH IN sau 5
ngày ở 60°c không có bất kỳ sự biến đổi nào[18].
2
4. Tính chất dược lý[19],[24],[4]
Là thuốc chống viêm giảm đau phi steroid thuộc nhóm oxicam, có tác
dụng chống viêm, giảm đau, hạ nhiệt. Cơ chế tác dụng chưa rõ, có thể do ức chế
sinh tổng hợp prostaglandin là tác nhân gây viêm. Không tác dụng bằng kích
thích trục tuyến yên-tuyến thượng thận.
Hấp thu tốt qua đường tiêu hoá. Nồng độ đỉnh trong huyết tương xuất hiện
từ 3-5 h sau khi uống thuốc. Thức ăn và thuốc kháng acid không ảnh hưởng tới
tốc độ và mức độ hấp thu thuốc. Dưới 5 % thuốc thải trừ theo nước tiểu dạng
không chuyển hoá. Chuyển hóa chủ yếu của thuốc là hydroxyl hoá vòng pyridin
tiếp theo liên hợp với acid glucuronic sau đó chất liên hợp này thải qua nước tiểu.
5. Chỉ định và liều dùng[19],[24],[4]

- Dung dịch tiêm bắp: Feldene, Camoxy
- Viên nén: Piroxicam stada, Pirorheum, Feldene, Brexin (piroxicam +
P-cyclodextrin)
- Gel dùng ngoài da: Geldène, Rosiden
- Viên đạn đặt hậu môn : Feldene
II. Một số yếu tố ảnh hưởng tói khả năng giải phóng và hấp thu của dược
chất dưới dạng thuốc dùng qua da.
1. Các yếu tố sinh lý[l],[2],[28],[13]
- Loại da và tình trạng da
- Bề dầy da (đặc biệt là bề dày lớp sừng)
- Nhiệt độ da và khả năng giãn mạch
- Mức độ hydrat hoá lớp sừng
4
1
2. Các yếu tố công thức và kỹ thuật bào chế
2.1. Dược chất
Tính chất lý hoá của dược chất là yếu tố có ý nghĩa căn bản tới mức
độ và tốc độ giải phóng dược chất ra khỏi tá dược do đó ảnh hưởng tới mức độ và
tốc độ hấp thu dược chất qua da.
* Độ tan:
Thực tế sử dụng, điều trị nhiều dược chất ít tan hoặc hầu như không
tan. Để giải quyết vấn đề làm tăng độ tan và tốc độ tan của dược chất ít tan, nhằm
cải thiện sinh khả dụng của dạng thuốc, người ta dùng nhiều biện pháp như giảm
kích thước tiểu phân tới mức tối đa, dùng chất diện hoạt, dùng các dung môi trơ,
dùng các chất tạo phức dễ tan ( hay dùng nhất là các cyclodextrin).
Trong những năm gần đây, một biện pháp kĩ thuật mới được chú trọng
nhiều, đó là nghiên cứu, chế tạo và ứng dụng hệ phân tán rắn. Có thể hiểu đó là
hệ mà dược chất ít tan được phân tán trong các chất mang hoặc cốt trơ về tác
dụng dược lý và có tính thân nước cao. Độ tan và đặc biệt tốc độ hoà tan của
dược chất ít tan tăng lên nhiều sau khi đưa vào hệ phân tán rắn. Một số tác giả đã

số chênh lệch nồng độ lớn.
* Ảnh hưởng của dẫn chất
Một dược chất có thể có nhiều dẫn chất khác nhau về tính chất lý học,
hoá học và mức độ tác dụng. Do đó trong cùng một hệ tá dược như nhau, mức độ
và tốc độ giải phóng ra khỏi tá dược cũng như mức độ và tốc độ hấp thu qua da sẽ
khác nhau.
6
2.2. Tá dược
Tá dược thuốc mỡ có ảnh hưởng tới quá trình hydrat hoá lớp sừng, nhiệt
độ bề mặt da, độ bám dính trên da của thuốc. Rất nhiều trường hợp độ tan của
dược chất, hệ số phân bố, hệ số khuyếch tán, mức độ ion hoá chịu ảnh hưởng của
tá dược, do đó trực tiếp ảnh hưởng tới mức độ và tốc độ giải phóng hoạt chất
cũng như mức độ hấp thu qua da. Theo Lippold thuốc mỡ có cấu trúc kiểu dung
dịch ưu điểm hơn so với thuốc mỡ kiểu hỗn dịch. Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ
mức độ giải phóng của nhiều dược chất từ tá dược gel tốt hơn các tá dược thân
dầu hay tá dược nhũ tương [2].
2.3. Các chất làm tăng hấp thu
Các chất làm tăng hấp thu được sử dụng với mục đích chính là làm tăng
khả năng giải phóng và hấp thu của dược chất. Sau đây là một số nhóm chất
thường dùng.
2.3.1. Dung môi
Một số dung môi hữu cơ được sử dụng như các chất mang đối với các
dược chất vì nó có thể mang thuốc qua da vào hệ tuần hoàn. Cơ chế được giải
thích như sau: dung môi làm giảm tính đối kháng của da do hòa tan các lipid
trong da, thay đổi cấu trúc các lipoprotein, tăng quá trình hydrat hoá của da.
Ngoài ra các dung môi làm tăng độ tan của dược chất ít tan do đó tăng mức độ,
tốc độ giải phóng và hấp thu qua da[l],[2[,[12].
Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ tác dụng làm tăng tính thấm dược chất
qua da của các dung môi.
Một nhóm tác giả người Tây Ban Nha đã nghiên cứu ảnh hưởng

giải phóng zidovudin lớn nhất với tỷ lệ ethanol 66,6% trong hỗn hợp ethanol-
8
nước, với 33% PG trong hỗn hợp PG -nước và 100% ethanol trong hỗn hợp PG-
ethanol. Hệ PG-nước hay PG-ethanol không giảm thời gian tác dụng cũng như
không làm tăng mức độ giải phóng dược chất. Khi tỷ lệ PG cao trong cả hỗn hợp
với nước và ethanol, mức độ giải phóng zidovudin ra khỏi hệ giảm. Kết quả phân
tích nhiệt cho thấy hỗn hợp dung môi với tỷ lệ PG cao đã khử bớt nước ở lớp biểu
bì do đó làm giảm tốc độ thấm qua da của dược chất[31].
Việc sử dụng các dung môi trơ trong thành phần các thuốc hấp thu qua
da theo tỉ lệ nào là tối ưu cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng và cụ thể với từng
dược chất, hệ tá dược cũng như các chất phụ khác.
2.3.2. Chất diện hoạt
Các chất diện hoạt nói chung ảnh hưởng tới tính thấm và hấp thu của dược
chất vì nó làm giảm khả năng đối kháng của lớp sừng. Chúng tác động trực tiếp
lên các màng sinh vật, vì vậy làm thay đổi thành phần và tốc độ của quá trình
tổng hợp một vài phospholipid, làm thay đổi quá trình hydrat hoá colagen, làm
biến tính protein, tăng nhiệt độ bề mặt da, tăng tuần hoàn của hệ mạch.
Khi nghiên cứu hiệu quả làm tăng tính thấm của polyoxyethylene-2-
oleyl-ete, chất diện hoạt không ion hoá đối với hấp thu của piroxicam từ gel
poloxamer 407 qua da chuột, Sang-Chul Shin và cộng sự (1999) đã kết luận gel
chứa chất diện hoạt làm tăng sinh khả dụng của piroxicam gần 1,8 lần so với gel
không có chất diện hoạt [38],[39].
A. Nokhodchi và cộng sự (2002) đã đánh giá tác dụng làm tăng tính
thấm qua da của lorazepam khi sử dụng các chất diện hoạt natri lauryl sulfat
(SLS), cetyltrimethylamoni bromid (CTAB), benzalkonium clorid hoặc Tween 80
ở những nồng độ khác nhau với tính thấm qua da. Benzalkoium clorid, chất có
tính thân dầu nhất, làm tăng mức độ giải phóng dược chất gấp 7,66 lần mẫu
chứng ở nồng độ 1%. Khi dùng CTAB và SLS với nồng độ 5 %, mức độ giải
phóng lorazepam tăng gấp 9,82 và 11,3 lần mẫu chứng. Nồng độ chất diện hoạt
9

Van der Waals) làm thay đổi tính chất hoá sinh của dược chất, kết quả là cải
thiện độ tan, độ ổn định và sinh khả dụng của dược chất[44].
R J.Babu và J.K.Pandit đã nghiên cứu sử dụng các CD: hydroxypropyl
CD (HP-p-CD) và CD methyl hoá một phần (PM-Ị3-CD) để làm tăng tính thấm
qua da của bupranolol(BPL). Tính thấm của BPL từ hỗn dịch nồng độ 0,4% tăng
đáng kể khi sử dụng các CD trong hệ ở nồng độ thấp (HP-Ị3-CD 2% và PM-Ị3-CD
5%). Dùng các CD ở nồng độ cao hơn, tính thấm BPL giảm, với nồng độ 10% cả
hai CD không làm tăng mức độ giải phóng dược chất. Khi xử lý da trước bằng
HP-Ị3-CD các tác giả nhận thấy không có hiệu quả nhưng nếu xử lý bằng PM-Ị3-
CD, mức độ giải phóng BPL tăng 1,7 lần. Kết quả nghiên cứu cho thấy PM-Ị3-CD
có khả năng làm tăng mức độ giải phóng dược chất tốt hơn so với HP-Ị3-CD. Có
thể do PM-Ị3-CD tạo phức dễ tan với BPL tốt hơn HP-Ị3-CD, do đó làm tăng độ
tan trong nước của BPL, vì vậy tăng mức độ giải phóng dược chất tốt hơn[32]. Y.
Aktas và cộng sự cũng kết luận rằng tính thấm của pilocarpin nitrat tăng khoảng
4 lần khi thêm HP-Ị3-CD so với dung dịch không có CD[46].
2.3.5. Terpen
Terpen là các hợp chất tự nhiên gồm nhiều đom vị isopren(C5H8), được
chia ra: monoterpen(Cl0), serquiterpen(C15) và diterpen(C2o) và cũng có thể tồn tại
ở dạng không đóng vòng, 1 vòng, 2 vòng hoặc cả hai dạng. Các hợp chất này rất
thân dầu, có hệ số phân bố octanol-nước tương đối lớn. Cơ chế chính để làm tăng
khả năng thấm dược chất qua da của các terpen là do chúng tương tác với lớp
sừng, giảm khả năng cản trở quá trình thấm dược chất qua các lớp của da.
11
Y. S. R. Krishnaiah và cộng sự (2003) đã nghiên cứu chứng minh hiệu quả
làm tăng tính thấm của dung dịch carvon- một terpen vòng- trong ethanol đối với
nimodipin qua da chuột. Tác giả cũng giải thích cơ chế là do dung dịch carvon
trong ethanol làm phá vỡ lớp lipid kép và làm loãng một phần các lipid lớp
sừng[47].
Victor M. Meidan và cộng sự (2003) sử dụng 3 terpen đồng phân cấu trúc
cineol (ete), terpineol (alcol), và menthol (ceton) để xác định hiệu quả làm tăng

biểu bì. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chứng minh tác dụng làm tăng
tính thấm qua da của các acid béo đối với cả dược chất thân dầu và thân nước.
Hiệu quả của acid oleic (OA) đối với hấp thu qua da của nhiều dược chất
đã được xác định. Theo E. Larrucea và cộng sự (2001) OA làm tăng đáng kể hấp
thu tenoxicam khi so sánh với mẫu chứng, mức độ giải phóng dược chất cao nhất
đạt được khi tỉ lệ OA là 15%. Tăng nồng độ OA làm tăng hấp thu tenoxicam do
tác dụng thay đổi lớp sừng của C)A[20]. Dung môi sử dụng cũng ảnh hưởng tới
tác dụng làm tăng tính thấm của acid béo[30]. Hấp thu thuốc tăng khi tăng nồng
độ PG trong hệ, đặc biệt ở nồng độ OA cao[20]. s. A. Mortazavi, R. Aboofazeli
đã so sánh hiệu quả của một số chất làm tăng tính thấm gồm acid oleic (OA),urea
(UR), lecithin (LEC) và isopropyl myristat (IPM) trong gel piroxicam 0,5%. Kết
quả cho thấy sử dụng acid oleic có tác dụng tốt nhất, mức độ tác dụng giảm dần
theo thứ tự OA » IPM > LEC > UR. Acid oleic có hiệu quả nhất ở nồng độ 1 %
trong 3 nồng độ đã nghiên cứu 0,5 %, 1 % và 5 %.Tác giả nhận xét rằng ở nồng
độ 5% OA làm giảm phân bố của piroxicam giữa gel và lớp sừng do đó giảm tỉ lệ
thấm dược chất[33].
13
Các acid béo khác nhau ở độ dài mạch hydrocarbon, số lượng, vị trí
và cấu hình của dây nối đôi cũng như mạch nhánh và nhóm thế. Chính vì vậy ảnh
hưởng của các acid béo đối với tính thấm qua da cũng khác nhau.
Một nghiên cứu của các tác giả Nhật Bản sử dụng 20 este acid béo có
số c từ 17-34 để đánh giá hiệu quả làm tăng hấp thu qua da của ketoprofen. Kết
quả cho thấy độ tan của dược chất cao hơn trong các este có số c nhỏ hơn, tỉ lệ
hấp thu cũng tương ứng với độ tan. Các este làm tăng tỉ lệ khuyếch tán của dược
chất đặc biệt là những este có số c nhỏ [29].
Cơ chế làm tăng tính thấm chính là do acid béo phá vỡ cấu trúc hàng rào
lipid nội phân tử của lớp sừng. Acid béo có thể lồng vào những phần kị nước của
lớp lipid kép, phá vỡ cấu trúc, tăng khả năng linh động của chúng và do đó làm
giảm sự cản trở khuyếch tán đối với dược chất[36].
Tóm lại việc sử dụng các chất làm tăng hấp thu đã cải thiện rất đáng kể

6
Dimethyl sulfoxid Bỉ Tinh khiết hoá học
7 N,N-Dimethylacetamid
Anh
BP 1998
8
HP-P-CD
Pháp
Nhà sản xuất
9
Gel ROSIDEN Hàn Quốc
Nhà sản xuất
10 Nước cất
XNDPTƯ2 DĐVN3
2.1.2. Thiết bị máy móc
- Máy đo quang phổ UV-VIS SPECTRONIC UNICAM HEAiOSy.
- Máy khuấy từ
- Dụng cụ thí nghiệm : ống nghiệm, cốc thuỷ tinh, lọ thủy tinh,
- Dụng cụ nghiên cứu khả năng giải phóng dược chất ra khỏi tá dược
thuốc mỡ chế theo mẫu bình Frank được mô tả theo sơ đồ sau:
15
Hình 1: Sơ đồ dụng cụ nghiên cứu khả năng giải phóng dược chất ra khỏi tá
dược thuốc mỡ.
2.1.3. Phương pháp nghiên cứu
* Thành phần công thức
Đã tiến hành chế gel thực nghiệm theo các công thức khác nhau để
nghiên cứu ảnh hưởng của dung môi và HP-p-CD tới khả năng giải phóng
piroxicam. Thành phần, khối lượng dược chất và tá dược cần lấy được ghi trong
các bảng 2, 3, 4.
Bảng 2 : Thành phần gel piroxicam 0,5 % sử dụng dung môi PG.

100
16
Bảng 3 : Thành phần gel piroxicam 0,5 % sử dụng các dung môi DMF, DMSO và DMA có hoặc
không có HP-Ị3-CD.
Bảng 4 : Thành phần gel piroxicam 0,5 % sử dụng hỗn hợp dung môi
STT
Nguyên liệu
Khối lượng cần lấy (g)
CT18 CT19
CT20 CT21
CT22 CT23
1 Piroxicam
0,5 0,5 0,5
0,5 0,5
0,5
2 PG 30,0
30,0 30,0 15,0 10,0
10,0
3 DMF
20,0
-
- -
-
-
4 DMSO
-
20,0
-
10,0 10,0
-

* Phương pháp nghiên cứu khả năng giải phóng piroxicam ra khỏi tá
dược thuốc mỡ.
18
+) Tiến hành thí nghiệm:
Sử dụng thiết bị khuyếch tán qua màng bán thấm với các điều kiện
cụ thể sau:
- Môi trường khuy ếch tán: Dung dịch đệm phosphat pH=7,4; 147 ml
- Nhiệt độ thí nghiệm : 37° c ±2
- Diện tích bề mặt khuyếch tán : 3,42 cm2
- Tốc độ khuấy: 120 ±5 vòng/phút.
- Khối lượng mẫu thử: 1 g
- Lấy mẫu : Cứ sau 30 phút lấy 5 ml môi trường khuyếch tán, lọc, bổ
sung ngay 5 ml môi trường mới. Đo độ hấp phụ tử ngoại của dung dịch ở bước
sóng Ằ, = 353 nm và dựa vào đường chuẩn để xác định lượng piroxicam giải
phóng khỏi tá dược.
+) Đánh giá mức độ giải phóng piroxicam:
Mức độ giải phóng piroxicam ra khỏi tá dược được đánh giá dựa trên tổng
lượng dược chất đã giải phóng đến thời điểm t tính theo công thức:
n
Q=QV+v£ q
(=1
Trong đó: Q: tổng lượng piroxicam đã giải phóng (mcg)
V: thể tích môi trường khuy ếch tán (ml)
v: thể tích mỗi lần lấy mẫu (ml)
c t: nồng độ piroxicam trong môi trường khuyếch tán tại thời điểm
(mcg/ml)
Cịi nồng độ piroxicam trong môi trường khuyếch tán tại thời điểm
ngay trước đó (mcg/ml)
Mỗi mẫu được tiến hành ít nhất 3 lần, tính kết quả trung bình.
2.2. Kết quả thực nghiệm và nhận xét


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status