CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT THƠ XUÂN DIỆU - Pdf 30

Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
LỜI MỞ ĐẦU
Dòng thời gian cứ trôi qua, những chuyển biến đổi thay của đời sống,
của thời đại, của các lĩnh vực khoa học- nghệ thuật, của thế giới con người
hiện diện ngày càng mới mẻ và thú vị hơn. Về lĩnh vực văn học nghệ thuật, ta
cũng thấy rằng ở đấy luôn có sự phát triển, đổi mới không ngừng về tư tưởng,
về thế giới quan, về khả năng cảm thụ và khả năng nghệ thuật độc đáo của các
văn nghệ sĩ. Nếu như nhắc đến giai đọan văn học trước Cách mạng Tháng
Tám 1930- 1945 và giới nghệ sĩ, ta không thể mà không nhắc đến Xuân Diệu
với vô vàng các tác phẩm tiêu biểu của ông như:Vội vàng, Huyền diệu, Trăng,
Giục giã… Hoài Thanh đã từng nhận định rằng : Xuân Diệu là “nhà thơ mới
nhất trong các nhà thơ mới”. Để hiểu cũng như làm sáng tỏ nhận định trên
chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu những đóng góp, sự cách tân của Xuân Diệu
đối với nền văn học Việt Nam mà tiêu biểu là giai đoạn 1930-1945. Hay nói
một cách cụ thể hơn là những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước
Cách Mạng Tháng Tám 1945.
1
Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
NỘI DUNG
1. Tác giả
1.1. Tiểu sử
Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu (1916 – 1985). Quê quán: Đại Lộc
- Can Lộc – Hà Tĩnh. Xuất thân từ một gia đình nhà nho, cha ông là thầy đồ,
phải xa mẹ từ nhỏ. Xuân Diệu học tiểu học ở Quy Nhơn, sau đó ra học trung
học ở Hà Nội và Huế.
Năm 1940, ông thi đỗ Tham tá thương chính và vào làm việc tại Mĩ Tho. Một
thời gian sau ông xin thôi việc ra Hà Nội kết bạn thơ với Huy Cận.
Xuân Diệu tham gia cách mạng từ năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám, ông
là Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn hóa cứu quốc, thư kí tòa soạn Tạp chí
Tiên phong. Ông là đại biểu Quốc hội khóa I; năm 1948 là Ủy viên Ban chấp
hành Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ 1957 cho đến khi qua đời, Xuân Diệu luôn

Tám
2.1. Những cách tân trong quan niệm nghệ thuật về thế giới và con
người
2.1.1. Quan niệm về thế giới đổi thay
Trong thơ cổ điển, thế giới mà các nhà thơ thể hiện luôn thấy có sự thay
đổi, vận động nằm trong sự vĩnh hằng muôn đời. Trong nhịp điệu đều đặn của
thời gian, mọi thứ lặp lại một cách tuần hoàn. Cũng chính trong cái thế giới
vĩnh hằng đó, người đọc nhận ra tâm thế ung dung tự tại của thi nhân trước
mọi biến dời của thế sự. Lạc đâu đó trong thơ Xuân Diệu, vẫn còn cách nhìn
về thế giới như vậy, người ta vẫn nhận ra những "ham muốn vô biên và tuyệt
đích", những hình bóng của muôn đời, những khát vọng của ngàn năm.
Nhưng có lẽ Xuân Diệu không bị gò bó bởi cách nhìn ấy, mà Xuân Diệu nhìn
nghiêng về quan niệm thế giới đổi thay. Trong quan niệm đó hình như không
có gì là vĩnh cữu, mà tất cả đều có sự đổi dời, từ thiên nhiên cho đến lòng
người, từ cỏ hoa cho đến tình yêu. Ông ví cuộc đời như con thuyền đang trôi,
mọi vật đổi thay không ngờ:
“Tôi đi trên chiếc thuyền này
Giòng mơ tơ tưởng cũng thay khác rồi
Cái bay không đợi cái trôi
Từ tôi phút trước sang tôi phút này”
(Đi thuyền)
Đó là quan niệm đổi thay của Xuân Diệu, từ cái nhìn đầy tính triết học
để rồi hướng nhiều hơn đến khía cạnh đổi thay của thế giới. Đó là những hình
tượng thơ được xây dựng từ cảm xúc về sự biến dời của thế giới, cảu con
người.
Ông nhận ra cay đắng của sự đổi thay nơi tuổi trẻ
"Tóc ngời mai mốt không đen nữa
Tuổi trẻ khô đi, mặt xấu rồi"
(Hư vô)
3

“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
4
Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.”
Xuân Diệu không chối bỏ hiện tại như một vài nhà thơ khác, ông đắm
say trong những phút giây với hiện tại, đối với ông, khổ đau, buồn vui đều
đáng trân trọng.
2.1.3. Khẳng định cái đẹp tươi nguyên, mới mẻ, đầu tiên
Là một con người đầy chất lãng mạn trong tâm hồn, Xuân Diệu đã nhìn
thấy vẻ đẹp của cuộc đời tràn đầy nơi con người,thiên nhiên,… Nhưng với
ông, vẻ đẹp phải là cái tươi nguyên, mới mẻ, đầu tiên. Chính điều này đã tạo
nên nét tươi trẻ trong thơ Xuân Diệu.
Chẳng hạn trong bài thơ Vội vàng,tác giả viết
“Ta muốn ôm cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn”
Hay trong bài Nụ cười xuân:
“Sao buổi đầu xuân êm ái thế”
Ta thấy được tác giả say sưa ngây ngất với vẻ đẹp của sự tinh nguyên bắt
đầu.
Thơ của Xuân Diệu với những từ ngữ giàu chất gợi đã mở ra trước mắt
người đọc những gì mới mẻ nguyên vẹn tốt đẹp. Ta bắt gặp nét son sẻ trẻ
trung trong câu thơ:
“Son sẻ trời như mười sáu tuổi
Má hồng phơn phớt mắt long lanh “
(Rạo rực)
Không những thế, Xuân Diệu không chỉ ca ngợi những lần đầu tiên, lần
thứ nhất, tình đầu như
“Hoa thứ nhất có mùi trinh bạch
Xuân đầu mùa trong sạch vẻ ban sơ”

Không có chi bè bạn nổi cùng ta.”
Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ Mới, Xuân
Diệu nhìn nhận con người trong cái nhìn ngợi ca về ý thức về sự tồn tại.
“Chân vồng thành những bước nghênh ngang”
6
Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
“Liếc đời bằng những khóe ham mê”
Ở đây, ông thể hiện sự ý thức về bản thân đến độ ngang tàng ngạo nghễ
giữa cuộc đời. Hay đó là sự khao khát sống đến tột độ nên vội vàng níu giữ
mọi thứ
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”
Thơ văn trung đại luôn lấy thiên nhiên là chuẩn mực cho vẻ đẹp con
người thì giờ đây Xuân Diệu lại làm ngược lại. Chính con người mới là chuẩn
mực của thiên nhiên. Ông viết :
“Lá liễu dài như một nét mi”
“Tháng giêng ngon như một cặp môi mềm”
“Hôm nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm.”
“Hơi gió thổi như ngực người yêu đến”
Là thiên nhiên quay quanh con người, lấy con người làm chuẩn mực,đề
cao con người đến tột độ.
Quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu vô cùng mới mẻ khi đề cao con
người cá nhân. Nếu trong thơ xưa con người chìm lẫn vào vũ trụ thì nay với
ngòi bút của Xuân Diệu, con người có vị trí riêng, trở thành chuẩn mực cho
tất cả.
Những quan điểm mới mẻ này đã góp phần mang đến cái nhìn mới về
thế giới và đổi mới tư duy nghệ thuật của thơ Xuân Diệu thời kì này.
3. Những cách tân về nội dung trữ tình và phương thức trữ tình

nhiệt, nếu không nói đã trở thành nội dung chính, một cảm hứng chủ đạo của
thơ ông.
Ngay từ bài thơ đầu tiên trong tập thơ đầu tiên ông đã thể hiện một
niềm khát khao sống mãnh liệt của mình:
“Là thi sĩ, nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây.
Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây
Hay chia sẻ bởi tram tình yêu mến”
(Cảm xúc)
8
Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
Ông tuyên bố rằng:
“Nhưng nghĩ lại: sống vẫn là hơn chết
Gần hơn xa, yêu mến ngọt ngào thay!”
Đưa lòng ham sống thành một nội dung trữ tình, thơ Xuân Diệu đã thể
hiện sự sống như một niềm mê say. Thơ ông có rất nhiều cung bậc để diễn tả
niềm say mê ấy. Ông như “mê man”, “chìm”, “đắm”, “say”, “ngất ngây” với
muôn vàn biện hiện của sự sống.
Có thể nói thế giới thơ Xuân Diệu là thế giới của sự sống tràn trề, mạnh
mẽ, hăng say và đầy rạo rực:
“Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời
Kẻ đựng trái tim trìu máu đất
Hai tay chín móng bám vào đời”
(Hư vô)
Thậm chí mạnh mẽ đến mức điên cuồng:
“Tôi là một kẻ điên cuồng
Yêu những ái tình ngây dại”
(Thở than)
Xuân Diệu ví lòng mình như “một cơn mưa lũ”, như “ngựa trẻ không
cương”, như “vườn hoa cháy nắng”. Hình như ở ông chưa bao giờ nguôi nỗi

thấy đủ.
“Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ
Phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần
Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm xuân
Đem chim bướm thả trong vườn tình ái”
(Phải nói)
Đó là con người tuyên bố yêu từ khi chưa có tuổi cho đến khi không
còn trên đời nữa. Đó là con người yêu lúc sống và yêu cả khi chết rồi.
“Tôi đã yêu từ khi chưa có tuổi
Lúc chưa xin, vơ vẩn giữa dòng đời
Tôi đã yêu khi đã hết tuổi rồi
10
Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
Không vóc xương chỉ huyền bồ bóng dáng”
Hay như ông viết:
“Kẻ đa tình không cần đủ da thịt
Khi chết rồi tôi sẽ yêu ma”
(Đa tình)
Có thể nói tình yêu trong thơ Xuân Diệu chính là một biểu hiện tập trung
nhất của khát vọng sống nơi ông.
3.1.2. Thơ Xuân Diệu là nỗi băn khoăn về con người và cuộc đời.
Hình như trong sâu thẳm của lòng khát khao được sống, được “giao cảm”,
thơ Xuân Diệu còn ẩn chứa bao nhiêu âu lo, bao nhiêu băn khoăn. Như Hoài
Thanh đã khẳng định hồn thơ của Xuân Diệu là “thiết tha, rạo rực, băn
khoăn”. Đúng như vậy, niềm băn khoăn đã tạo nên một mặt khác của nội
dung trữ tình trong thơ Xuân Diệu.
“Vì sao giáp mặt buổi đầu tiên
Tôi đã đày thân giữa xứ phiền?”
(Vì sao)
Biết bao lần trong thơ ông vang lên điệp khúc của những câu hỏi “vì

định là “vương quốc chủ quan” (Biêlinxki), là “sự biểu hiện và cảm thụ của
chủ thể” (Hêghen). Tuy nhiên không phải lúc nào đặc trưng này của thơ cũng
được bộc lộ rõ. Với văn học Việt Nam, phương thức trữ tình lãng mạn thực sự
mang dấu ấn đậm nét sau khi sự ra đời của phong trào Thơ mới 1932 - 1945.
Đây là giai đoạn mà văn học Việt Nam có sự đổi mới, cách tân vô cùng kì
diệu, có sự chiến đấu mãnh liệt giữa yếu tố cũ - yếu tố mới và kết quả là hàng
loạt những tác giả, tác phẩm nổi tiếng đã ra đời, đem đến một hơi thở, một
tiếng nói rất riêng, một “luồng gió mới lạ” cho nền văn học nước nhà. Đặc
biệt là Xuân Diệu phương thức trữ tình trong ông là trữ tình của một chủ thể
bộc lộ trên cơ sở cảm nhận chủ quan về thế giới.
Nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng là sự biểu hiện thế giới chủ
quan của con người trước cuộc đời. Tuy nhiên, do phương thức tổ chức, do
kiểu tái hiện đời sống và do sự giao tiếp nghệ thuật khác nhau nên sự biểu
hiện đó ở những loại tác phẩm văn học cũng khác nhau. Trong tác phẩm trữ
tình: tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ được trình bày trực tiếp và làm
thành nội dung chủ yếu của tác phẩm. Ở đây, nhà thơ có thể biểu hiện cảm
xúc cá nhân mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự
kiện nào. Bài Nguyên đán của Xuân Diệu cũng thể hiện rõ đặc điểm này:
“Xuân của đất trời nay mới đến
Trong tôi xuân đến đã lâu rồi
Từ độ yêu nhau hoa nở mãi
12
Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
Trong vườn thơm ngát của hồn tôi.”
Trong bốn câu thơ trên, không hề có mâu thuẫn, xung đột như trong
kịch, cũng không có những biến cố, sự kiện, hệ thống sự kiện nào. Ðiều mà
người đọc cảm nhận chủ yếu là niềm vui, hạnh phúc, là tâm trạng, cảm xúc
của nhân vật trữ tình.
Với việc đề cao con người cá nhân, xem con người là trung tâm của thế
giới, cái tôi trong thơ Xuân Diệu đã được khẳng định. Ta có cái tôi trữ tình

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu ”
Sự vồ vập, cuồng nhiệt với sự sống trong những câu thơ cuối bài không
chỉ bộc lộ lòng yêu đời, ham sống đến ngất ngư mà còn thể hiện một nhân
sinh quan tích cực của Xuân Diệu: Sống một cách mãnh liệt, yêu cuộc đời
một cách nồng say. Hầu hết các nhà thơ Mới đều chán ghét thực tại, muốn
thoát lên tiên, phiêu lưu trong trường tình, muốn quay về quá khứ tìm vẻ đẹp
vàng son đã mất , chỉ Xuân Diệu là “Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần /
Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất”. Chính vì lẽ đó mà dù tiếp thu chủ nghĩa
lãng mạn của thơ ca phương Tây, cái Tôi của Xuân Diệu vẫn mang nét đặc
trưng riêng, không nhầm lẫn với các nhà thơ Mới.
Tiếp theo có thể kể tới đó là, trữ tình của một chủ thể nghiêng về cảm
giác thế giới. Các nhà thơ tượng trưng rất chú trọng đến quan niệm tương ứng
các giác quan. Quan niệm này đã trở thành một nguyên tắc thẩm mỹ trong
sáng tạo thơ ca của chủ nghĩa tượng trưng. Valery đưa ra một định nghĩa về
thơ gắn với nguyên tắc tương hợp: “Thơ là sự giao động giữa âm thanh và ý
nghĩa”. Verlaine quan niệm thơ như một bản nhạc mong manh, hư ảo, huyền
hồ. Rimbaud lại cho rằng, người nghệ sĩ phải đến với thơ ca bằng con đường
thấu thị của một kẻ có thiên nhãn: “Thi sĩ phải làm cho mình thành người có
thiên nhãn bằng sự rối loạn lâu dài, rộng khắp và có sự suy tính tất cả các giác
quan,…bởi lẽ các giác quan gắn bó ta với thực tại, trở thành tấm màn chắn
ngăn ta chẳng thấy được gì xa hơn…Nhà thơ có thiên nhãn cần tìm cho mình
một ngôn ngữ thích hợp. Ngôn ngữ này sẽ là của tâm hồn nói với tâm hồn,
thâu tóm tất cả mùi hương, âm thanh, màu sắc của tư duy bám riết lấy tư duy
và lôi kéo…”. Với quan niệm này, Rimbaud để “sự buông thả vô độ cho các
giác quan”, giúp cho nhà thơ nhìn thấu suốt mọi tâm hồn và sự vật. Rất nhiều
nhà thơ Mới chịu ảnh hưởng những quan niệm đó của chủ nghĩa tượng trưng.
Tuy nhiên, TS. Trần Huyền Sâm phát hiện: “Mỗi nhà thơ ảnh hưởng của chủ
nghĩa tượng trưng ở mỗi phương diện khác nhau, phù hợp với quan điểm

Diệu cũng có những khám phá vô cùng mới mẻ:
“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.”
Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép tương giao của lối thơ
tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt để sự tương giao về cảm giác để
cảm nhận và mô tả thế giới. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác “mùi
tháng năm”, bằng cả thị giác “rớm” và nhất là vị giác “vị chia phôi”. Thời
gian là đại lượng phi vật chất nhưng lại được cảm nhận đầy tính vật chất.
Đặc biệt, trong sự tận hưởng thiên nhiên, phép tương giao của thơ tượng
trưng đã phát huy tối đa sức mạnh để biểu đạt sự vồ vập, cuồng nhiệt của
Xuân Diệu.
“Ta muốn ôm
15
Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
Niềm khát khao đến tuyệt đích vô biên, lòng yêu đời và ham sống bồng
bột mà nồng nàn, sôi nổi được diễn tả bằng những động thái hưởng thụ tham
lam “ôm”, “riết”, “say”, “thâu”, “cắn” Hòa vào dòng cảm xúc dạt dào của thi
phẩm, người đọc đã bắt gặp một thứ tuyên ngôn bằng thơ được nói qua cảm
giác: Sống là phải tận hiến và tận hưởng, đời người ngắn ngủi nên phải chạy
đua với thời gian, sống “huy hoàng” trong mỗi phút giây.
3.3. Thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh thơ
3.3.1. Thể thơ
Có thể nói, Xuân Diệu là một nhà thơ mới điển hình cho những nhà thơ
mới, thơ của ông đa dạng về thể loại, không ràng buộc quy tắc, giải phóng
con người ra khỏi sự gượng ép.
Ở giai đoạn trước, thơ thường được viết theo thể thơ Đường luật, có thơ

Dẫu được, dẫu thương, ai mặc ai”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm – thơ Nôm, bài 40)
Trong thơ Xuân Diệu không còn sự tương ứng này nữa, ý thơ có thể
trùng với dòng thơ và cũng có thể không. Có khi phải ghép lại mới được một
ý
“Rồi khi khúc nhạc đã ngừng im
Hãy vẫn ngừng hơi nghe trái tim
Còn cứ run hoài, như chiếc lá
Sau khi trận gió đã im lim”
(Huyền Diệu)
Thể thơ dân tộc lục bát được sử dụng nhiều:
“Trên đầu tóc Bác sương ghi
Chắc đôi sợi bạc đã vì chúng con.”
(Sáng)
Hay thể thơ tự do tám chữ:
“Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt
17
Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
Những vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu hài…”
(Giục giã)
Được nhà thơ ưu chuộng nhất vẫn là thể thất ngôn:
“Giữa vườn inh ỏi tiếng chim vui
Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời”
(Nụ cười xuân)
Hay ngũ ngôn như bài thơ Biển.
Bài Vội Vàng là tiêu biểu nhất cho sự cách tân trong thể thơ, vừa mới lạ, vừa
tự do:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại

Dừng chân đứng lại cho em than đôi lời”
(Ca dao)
“Đã khuất bao nhiêu lại duỗi ra
Đạo trời lồng lộng chẳng hề sai”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm- Thơ Nôm bài 2)
Tuy mang dấu hiệu lời nói, nhưng loại câu thơ này vẫn nằm trong quan
hệ của câu thơ cổ, nghĩa là vẫn bị ràng buộc bởi niêm luật nhất định. Trái lại,
thơ Xuân Diệu lại là câu tự do. Bởi vậy, thơ Xuân Diệu có những cách tân
quan trọng.
Nét đặc sắc ta dễ thấy ở Xuân Diệu là ông đã đưa vào lời thơ của mình
một hệ thống từ vựng mới và cách sử dụng mới. Đó là hệ thống từ vựng mang
đầy tính cá thể hóa chứ không còn nặng về ước lệ như thơ cổ điển.
- Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá
- Nghe chiều âu yếm, lấn vô người
- Hãy tuôn âu yếm, lùa mơn trớn
- Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
v.v…
Hệ thống ngôn ngữ với cách sử dụng mới mẻ khiến cho câu thơ của
Xuân Diệu trở nên đầy ấn tượng và đạt được giá trị nghê thuật cao. Hệ thống
ngôn ngữ trong thơ ông có những cải cách quan trọng nhưng không có nghìa
19
Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
là ông đoạn tuyệt với hệ thống ngôn ngữ cũ. Trong thơ ông hệ thống này vẫn
tồn tại, song đã được đổi mới về cách dùng.
Trong bài thơ “Cặp hài vạn dặm” Xuân Diệu đã dùng lại hình ảnh “liu
li” (chỉ sự trôi nổi, xa lìa quê hương) viết nên những câu thơ thật da diết:
“Nếu ta có cặp hài tiên
Ta đi khắp xứ, khắp miền khắp nơi
Ta đi, đi tận phương trời
Đi cùng phương đất, xa vời ta đi

- yếu tố mới và kết quả là hàng loạt những tác giả, tác phẩm nổi tiếng đã ra
đời, đem đến một hơi thở, một tiếng nói rất riêng, một “luồng gió mới lạ” cho
nền văn học nước nhà. Đặc biệt là Xuân Diệu, Hoài Thanh cho rằng “Xuân
Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới“. Cái mới của Xuân Diệu
theo nhà nghiên cứu là “một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước
non lặng lẽ này“, là ở “những rung động tinh vi”, ở những câu văn “không thể
đi theo những đường có sẵn”.
Xuân Diệu xuất hiện trên thi đàn thơ Việt Nam với một diện mạo đầy
mới mẻ, lạ lùng. Lạ lùng và mới mẻ ngay cả với những nhà “thơ mới”. Có thể
nói ông đã có sự cách tân sâu sắc và toàn diện nhất về mọi phương diện trong
sáng tạo thi ca. Đặc biệt là về phương diện sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật.
Xuân Diệu đã tạo ra cho thơ mình một hệ thống ngôn ngữ đầy cá tính, sáng
tạo về hình ảnh, nhịp điệu,hình thức tổ chức câu thơ cùng những lời lẽ cách
nói năng mà đa phần trước đây người ta chưa thấy trong thơ ca truyền thống.
21
Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám
Phong trào Thơ mới là cả một cuộc cách mạng về thể loại, những thể thơ mới
ra đời, những thể thơ mới được cải tiến.
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status