Những cách tân nghệ thuật của phong trào Thơ mới giai đoạn 1932 - 1935 - Pdf 25

ĐẠI HỌC ỌUỎC GIA HÀ NỘI
TRI (>\<; HAI HỌC' KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHAN VÁN
BÙI THỊ MAI HƯƠNG
NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT
CỦA PHONG TRÀO THƠ MỚI GIAI ĐOẠN 1932 - 1935
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã sô: 60 22 34
LUẬN VẢN THẠC sĩ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. Lý Hoài Thu
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
MỤC LỤC 01
MỜ DÀU 03
Ch iro ng 1: Nllĩ NC; CIIUYKN ĐÔI TRONG QUAN NIỆM
Milll m i ẠT VẢ S ự XIỈÁT HIỆN THÉ 1IỆ THI NHÂN 1932-
1935. Ị 1
1.1. Những chuyên đôi trong quan niệm nghệ thuật tho* ca từ
đầu thế ki XX đến năm 1930 1 1
1.1.1. Những biên đôi trong đời sông chính trị, kinh tê, xà hội đã
hình thành nên đời sống văn hoá tư tưởng, văn học m ới

11
1.1.2. Sự chuyên đôi trong quan niệm, tư duy nghệ thuật

1 3
1.2. Sự xuất hiện thế hệ thi nhân trong Phong trào Tho- mói
giai đoạn 1932-1935
23
1.2.1. Những gương mặt tiêu biểu của Phong trào Thơ mới giai
đoạn 1932-1935 23

KÉT LUẬN 120
Tài liệu tham khảo 124
Phụ lục 128
• t
MO DẢU
1. Lí do chọn đề tài
Tronu tiên trình hiện đại hoá thư ca dân tộc, Phon» trào Thơ mới có ý
nghĩa đặc biệt quan trọ nu. Đỏ là “cuộc cách mạn lĩ thi ca" đã chuyển đôi loàn
bộ hệ ihônu quan niệm, tư duy, thi pháp thơ từ mô hình cô điên sane mỏ hình
thơ ca hiện đại. Thơ mới, n«ay khi ra đời. đà đặt tron« mối quan hệ từ “xuna
khac ' đén “hoà giải” với thơ ca truyền thông, sau này trong nhừnti thời điêm
đặc biệt cua lịch sử dân tộc, số phận nó CLÌnn eặp khônu ít “nhữnu bước thăng
tràrn". Đại hội Đảniỉ VI năm 1986 dã đưa quan điểm đôi mới đối với mọi lĩnh
vực của đời S Ô 111Z xà hội tronu đó có văn học nghệ thuật. Từ đây, cách nhìn
nhận, đánh ơiá dôi với các vấn đề trong văn chương cũng như đối với việc
thâm bình những giá trị của Thơ mới có phần cởi mở và thoa đáng hon, đồn«
thời trao tra cho dòng thơ ca này vị trí xứns đáng “Một thời đại tron» thi ca”.
Phons trào Thư mới chính thức ra đời vào năm 1932, người mở màn
“ũây sự" là Phan Khôi, tiếp đó là sự xuất hiện cả một thế hệ thi nhân. Trong
mây năm đâu, các nhà thơ mang trên mình một trọng trách quan trọng đó là,
dâu tranh với “thành tri” thơ cũ và đưa Thơ mới từ non ncVt, chập chừng, đến
độ thuần thục Ket thúc năm 1935, Thơ mới hoàn toàn thắng thể, đã làm chủ
thi đàn và mở ra một trang mới cho thi ca dân tộc. Thế hệ các nhà thơ giai
đoạn sau trưởng thành và nổi tiếp trên hành trình sáng tạo, eặt hái được nhiều
thành lựu xuât sac với nhừnu tên tuổi rạns danh một thời của xứ sở thơ ca
như: Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyền Bính Từ
năm 1940 - 1945, Thơ mới rơi vào khunti hoảns: và kết thúc.
Nnhiên cứu di sản Thơ mới là nhiệm vụ và cuntí là neuồn cảm hứnạ
cua nhiêu thê hệ yêu văn ehươna. Nhìn lại thành qua huy hoàim cua dònu thơ
này khôim thê khôn« nhắc đen vai trò của nhĩrim nmrừi "khai son phá thạch”

Sgnvữn x/urợc Pháp, J.Leiba, Thái Can. TroniỊ khoang hỏn năm dã san xuâí
ra nhiêu bài thơ có giá trị. Ví) lỉhững hủi tlìo' Í/V, nhàt /í) nhừníỊ bài cua Thè
Lữ, không trông, không kèn, dã bênh vực một cách vữiiiỊ vciniỉ c'h° Thơ m ới".
Ị35, tr. 23]
Troim cuòn Sim văn hiện đại (1942) của Vù Nu ọc Phan, tác sil a đã tỏ 111!
V—- • • ' v_- •
kêt lại toàn bộ lịch sư văn học Việt Nam cùns với các hiện tượns, tác tỉiả văn
học tiêu biêu từ đàu thẻ ki XX đên 1945. Đôi với Thơ mới uiai đoạn này, nhà
phê bình cũns đã có nhừne kiến 2 Ĩải chính xác như: Phan Khôi, Lưu Tronsz
Lư mới chi làm cho imười ta chủ ý đán Thơ mới và khăn" định chính Thế Lừ
mới là người tạo được niềm tin về tương lai của Thơ mới.
* N hững công trình từ năm 1945-1985:
Đây là thời kì đặc biệt của lịch sử dân tộc. Trong cuộc kháng chiến, ý
thức dân tộc và trách nhiệm con naười công dân với Tồ quốc được đật lên
hànẹ đâu. Trong mối tương quan đó, những tư tưởng của Thơ mới được nhìn
nhận, đánh 2 Ĩá có phần “khắt khe”, phần lớn đều cho rằng, Thơ mới là tiêu
cực, là có hại cho dân tộc.
Trong nhữn« năm đầu kháng chiến, công trinh tiêu biểu nhất có thể kê
đôn là cuôn Nói chuyện thơ kháng chiên (1951) cùa Hoài Thanh - người từng
thâm thìa, đam say mọi sac thái của Thơ mới đã phu nhận nhừnu giá trị của
nó cũne như công trình đầy tâm huyết trước đó của mình.
"Những buồn tui
bơ vơ ây /() nhũng vàn thơ có tội: nó xui con người ta buông tay cúi đâu
(do đó làm yêu sức ta và làm lọi cho giặc) " [34, tr. 10]
Năm 1957, đồnẹ chí Trường Chinh đã nhận thấy nhữrm cơ sở cho việc
“eạn đục khơi tron«” đôi với di san văn hoá dân tộc, tronu đó có Thơ mới.
Tronii ciiỏn Phân đàu cho một nân văn nghệ dân tộc phong phú dưới Iiqọn cờ
cua chu nghĩa xêu nước và chu nghĩa xã hội tác aiả đà viêt:
O . o • c
5

xét có phân nặnu nè \ê mặt nội duim tư tưỏìm. Tuy nhiên, íiiới ìmhièn cứu
cùnu đã cônII nhận nhừnu iiiá trị và sự đónu iióp cua nó đặc hiệt là ở phươnu
diện hình thức imhệ thuật.
* Nhóm công trình từ năm 1986 đến nay :
lloà binh lập lại, cuộc sònỵ đôi mới, văn học cũim chuyên mình theo.
Năm 1986, Đại hội Đaim lần thứ VI đã đưa ra Nghị quyết đôi mới nói chung
và với văn học nói riêim. Vói tư tương dân chủ và tinh thần đôi mới, Thư mới
được "uạn đục khơi troníi”, những íiiá trị được nhìn nhận côns băng hơn, thê
hiện qua những cỏriíĩ trình nghiên cứu cua một số tác 2 Ĩà
Thơ mới những bước thăng trâm, (1989), Lẽ Đình Kỵ đã duns lại quá
trình sinh thành, phát trien và “những bước thăng trầm ” đồng thời cũng chỉ ra
nhữnu đóng góp cùa Thơ mới đổi với thơ ca dân tộc.
Tiểu luận về phong trào Thơ mới, in lại tro nu Tuyển tập Hà Minh Đức
(2004). Tác uiả nghiên cứu nhừnu đóng sóp của Thơ mới ở nhiêu manu: Tình
yêu quê hươne đất nước, giá trị nhân ban và thơ tình trong Thơ mới.
Thơ mới, bình minh thơ Việt Nam liiện đại (1994), Nguyễn Ọuôc Tuý
đã chi ra nhừn« anh hưcme của thơ ca dân gian, thơ trune đại và thư Pháp đối
với việc hình thành Thơ mới đồrm thời cùne chỉ ra những đónc íZÓp của trào
lưu thư ca này đổi với thơ hiện đại.
Những thế íỊÌói nạhệ thuật thơ (1997), Trần Đình Sử đã níihiên cứu
khái khái quát vê nhừim trưcmíĩ phái trona Phona trào Thơ mới: thơ cô điên,
th(T lãim mạn, thơ tưọìm trưnu và một sô tác phàm tiêu biêu
7
Thơ ca Việt Sa m thời tiên chiên ( 1999), Phan C anh dã dựim lại toàn bộ
quá trình tranh luận íiiừa hai tnròĩiii phái thơ cũ, thư mới và khái quát nhừnu
dặc diêm cơ han cua một sô trào lưu tronu Phonu trào Thơ mới
Dặc biệt cuồn sách: The Lừ, tác gia tác phàm (2006), Phạm Đình Ân
mới thiệu, đã tuyên chọn được các bài nghiên cứu có chát lượnu tronII việc
đánh uiá, ihâin bình ihơ The Lừ và khăng định one la " Iiííô i sao sanu" trong
V— • i— *•— »— k—

váy, chúne tôi chú trọn» đến nhừnơ sán« tác tiêu biểu, có chất lượne nuhệ
thuạt cao, cỏ thè tìm kiêm tại những thư viện lón như các tập thơ: Cô gái xuân
cua Đònu Hô, M ây vần thơ của Thế Lừ, Ngưòi son nhân cua Lưu Trọna Lư,
Ngciv xưa cua Nguyền Nhược Pháp, Tiếng thông reo cua Bàng Bá Lân, Anh
với em của Lan Son, Tiếng sóng, yêu đương, Tiếng địch sông Ỏ của Phạm
Huy Thông, cùim một số tác phàm trone các tuyến tập khác như: Thơ mới
¡932-1945 tác giá và tác phẩm , thơ Nguyền Vĩ, Nguyễn Thị Manh Manh,
Leiba, Thái Can được các nhà nehiên cứu lựa chọn in trong các chuyên luận
cua mình. Đònu thời, khi nghiên cứu tác si ả cũng có sự liên hệ với các nhà
thơ thời tiền ỉãrm mạn và iỉiai đoạn sau đe làm sáníĩ tỏ được những nét đôi
mới cũng như vai trò nền tảng của nó đối với sự phát triên của thơ ca trong
nhừng năm tiếp theo.
4. Phirong pháp nghiên cứu
Căn cứ vào đôi tượnu và nội duns vấn đề đặt ra, tác giả luận văn chủ
động kèt họp nhừne phương pháp nghiên cứu cơ bản: Phươna pháp thống kê,
phân loại kêt họp so sánh, phân tích và tỏne họp và các thao tác của thi pháp
học.
5. Đóng góp của luận văn
Côniĩ trình đà cỏ nhừim đón« "ỏp ban đầu về nhừns thành tựu cách tàn
nuhộ thuật từ nội duntz và hình thức cua Phons trào Thơ mới íiiai đoạn 1932-
9
.935, luận văn góp phân nhỏ trong sự nghiên cứu vê quá trình hiện đại hoá
nơ ca cùa Phong trào Thư mới cìinu như tiên trinh hiện đại hoá thơ ca nước
f\ kêt caII của luận văn
Nuoài phân mơ đâu, phân kêt luận và tài liệu tham kháo, câu trúc cua
ỉ-lãn ván dược chia thành ba chươne như sau:
o
C'hương 1 : Những chuyên đỏi trong quan niệm nghệ thuật và sự xuát
hiện thô hệ tlìi nhàn g ia i đoạ n ¡9 32 -1 935
Chươnụ 2: Những cách tân nghệ thuật vê thiên nhiên và tình yêu

cho săc dẹp của phụ nữ, các cô tiái Băc kì từ hình anh tóc duôi uù, nón thúnu
quai thao trơ thành các thiêu nữ "tàn tiến” uiày cao uót, quần tran”, tóc rẽ
nuôi lệch. Các nam thanh Hà thành cũim moi năm thay dôi một môt khô nu
kém ÍZÌ phụ nừ. Nhừim đôi mói ơ đây chu yếu ơ phạm vi sinh hoạt, sons sự
thay đôi đó đôrm thời cũnư biêu hiện khá rỏ vồ sự đôi mới tronu suy imhT và
cam xúc cua lớp nsười thời bấy RÍỜ .
Nám 1915, thực dàn Pháp và triêu dinh phong kiên băt buộc phải bài bỏ
kì thi Ilươnu ở băe kì và khoa thi Hội cuối cùrm ờ Hue đà kết thúc chế độ
khoa cư nặnii nề, Hán học dần mất vị trí độc tôn. Các trưừnu tiêu học, truna
học Pháp-Việt với những ông giáo Tây học đã thay thế cho các lớp học của
các thày đồ nho làng xã. Các học sinh, sinh viên có bàng cao đẳng, tủ tài Tây
đã làm mờ đi vai trò của những ông nghè, ông cốntĩ. Văn hóa Trung Hoa đã
nhạt dàn trong tâm thức của người Việt. Văn hoá phương Tây như một luồng
gió mạnh xua tan những tàn dir tư tưởng của trật tự phong kiến đã cũ và
chiêm lĩnh đời song đất nước qua tầng lớp tir sản và tiểu tư sản (chu yếu ở
thành thị). Tron2 bài Thơ mới đăng trong Tiêu thuyết thứ bảy số 31 thán« 12
năm 1934, Hoài Thanh ghi nhận sự chuyển đối từ xã hội cổ xưa sang nếp
sống, nèp cảm nghĩ mới của con người Việt Nam những năm 20-30 và báo
hiệu sớm muộn sẽ kéo theo cuộc đổi mới về thơ ca :
"Nước ta mây ngàn năm sông cuộc đời chát phác, bình dị, tư tưởng
cua niỊirời ta cùng từ đỏ mà bình dị, cứ phô diên theo nhữníỊ qu v tãc đời trước
cũnỈỊ du.
Nhái đán phải tiêp xúc với văn minh Tủy Au, bao nhiêu nền táng kiên
cô vê lê nghi, vê tòn giáo vê xã hội, vê chính trị đêu bị một phen rung rinli
íỉièn dao. Trước nuìt bông bày ra những canh thương tâm chưa bao giờ thây.
Lúc đâu còn n%(r ngác chua hiên ra thê nào, dàn dân cũng lùm mình theo
12
cuộc sinh hoạt m ói dè mini lây sinli tôn, ăn bận theo lôi Tây, nhìi xây theo
kiêu Tây, cùng dùng ô tô, cũniỊ đi xe lửa, CÙHÍỊ m ơ t/nroiỉíỊ diêm. C ÔỈ1 ÍỊ tnrờiiíỊ,
dó U) cuộc cai cách vê tư tướng.

truyền thôntĩ. Hành trình chuyên íiiao ấy dicn ra từ nhừníỉ năm đầu cua thế kí
XX với ba chặn II, mồi chặns đường đều có nhừrm đóim eóp và vai trò lịch sư
nhát định. Năm 1945, văn học Viẹt Nam đà hoàn thành quy trình, trở thành
nên văn học hiện đại, hòa chun<z vào dòn2 chảy cùng văn học các nước khác
tren toàn thè giới.
V—•
Tiên trình đôi mới cua thơ ca cùng nám trong quỳ đạo phát trièn, hiện
đại hóa chung như các loại thê khác cua văn học dân tộc. Đe phù hợp với thời
đại mới, một số thể loại truyền thống như: Chiếu, biêu, liịch, cáo vốn đặc
trimu cho mô hình xã hội cũ, đến nay khônR còn phù hợp dần được loại bỏ
đồnu thời ta tiếp thu và phát trien thèm các the loại như: Kịch, kí, thư, tiêu
thuyết, phónẹ sự So với các thể loại trên, thơ ca vốn được coi là có “bề dày”
và được chú trọng nhiều hơn cả. Ông cha ta vốn yêu thơ, sành thơ, dành nhiều
tâm lực cho “lãnh địa" này, hởi nó chính là "‘tam lụa đã hửng vong hồn của
nhừníỊ thế hệ qua ” [35, tr. 47]
Thực tể, đổi mới bao íỉiờ cũng đi kèm với những sự phá cách, sáng tạo
vượt ra khỏi chuẩn mực quen thuộc, phá vỡ những quy phạm trước đó. Các
thê loại vãn xuôi cũnu từng bước đi từ quỳ đạo truyền thống sang hiện đại.
Các tác phàm mới ra dời dâu còn vụng về, chưa hoàn thiện sonu cùntĩ chưa
thực sự trơ thành “đièm nóns” thu hút lỉiới nehiên cứu, phê bình. Còn với thư
ca. tronũ sự chuyên siao ây lại là những cuộc xung đột ạay aẳt íiiừa hai thế
hệ. Sonu sự xuntỉ đột ấy cùnu là nhừnc bước mở đầu cho cả một hệ thone thi
pháp mới vê thơ ca được ca hình thành và phát trien.
14
l'ronu manu thơ ca hiện dại, imười dâu tiên có ý thức cách tân là Phun
Bội Châu, ỏnu cũn Li là đại biêu tiêu biêu cua văn học Việt Nam hai mươi năm
>
_
w • •
dâu the ki. Là chí sĩ từniỉ thuộc sách thánh hiên nhưim Phan Bội Châu dà sớm

tộc.
Nsười siừ vai trò kê tiêp chặng đưtrng đôi mới tro nu sánc tác phải kê
dén Tan Đà Nauyền Khấc Hiếu, Á Nam Trần Tuân Khải. Những sántĩ tác
thời tiền làng mạn về cơ ban đã có sự thoát ra khởi khuôn khô của lối văn
chưona cử tử, maim đên sự tự do, phóng túns trong phirơníỉ thức biểu hiện.
Tan Đà, từ con naưòi, lôi sons, đến văn chươna đều mans đặc diêm ui ao thời,
W 7 C- 7 o c c> ~
con imười của hai thế kỉ, hai thời đại. Trong thơ ông, người ta thấy hiển hiện
của một cái tôi "’ngông”, đa tình và cậy tài "tai cao, phận thấp, chí khí uất”.
Troiiĩỉ cái “ngông" của Tản Đà, người ta thấy nét tương đồng trong thơ
Nguyễn Côn» Trứ trước đó. cỏ khác chăng, trước đó chưa ai dám lên tiếnc tự
hào vê tài thơ ca của mình, đại thi hào Nuuyễn Du với Truyện Kiều - một kiệt
tác văn chương nhưng cụ cũng chi khiêm tốn rằng: Lời quê chap nhặt dông
dài-Mua vui cihỉíỊ được một vài trông canh (Truyện Kiêu). Níĩuyễn Công Trứ
chủ yếu được họa ở cái tài "kinh banẹ tế thế" còn Tản Đà lại khẳng định mình
ở lài năn« văn chương. NgôntỊ về tài thơ phú là một bản lĩnh đặc biệt.
Sự íiặp gỡ giừa Tàn Đà và thi nhân thế hệ trước đó chính là bóng dárm
của mâu hình “nhà nho tài tư". Thế nhưna, thơ Tản Đà đã bộc lộ nhiều nét
mới him, in đậm dâu ấn của con neười cá nhân trong xã hội thị thành hiện đại,
nếu Nguyền cỏna Trứ, một bậc quân thần vẫn ánh hưởng đậm nét tư tưởng;
của Nho uia, coi trọníĩ chi, dạo, khinh cảnh cơ hàn "Nha Nho vui vói canh
nghèo" thi đèn Tan Đà lại ý thức rất mới vê quyền sổnụ cua con nsarời, ôna
16
monu muôn có cuộc sỏ nu dày đu vê vật chàt và tự do, thoải mái vê tinh thân.
Làn dâu tiên nu ười ta nũhe thây tiênu rên ri của tiiới trí thức vê canh nuhèo:
"Bâni tròi, canil con thực nạhèo khó
Tràn íỊÍan thước đủt cùng không cỏ
Kiêm được thời ít tiêu thời Iihiêu
Làm mãi quanh năm chá đu tiêu "
( Hầu trời, Tản Đà )

(Phong dao. Tan Đà )
Chính cái đa tài, đa tình và nhìn sự vật qua con mat phone tinh ân ái
Tân Đà đã đè cho cảm xúc tuôn trào, phá vỡ vần luật, âm điệu của thể thơ vỏn
traniỉ imhiêm như thất ngôn:
Chơi lâu, nhớ quê về thăm nhà
Đường xa, người văng, bong chiêu là
Một dăv lau cao, làn giỏ chạy
Mây cây thưa lá săc vàng pha
(Thủm mả cũ bên đường, Tản Đà)
Trong thơ Tàn Đà dã có sự chuyên đổi từ thơ ngâm sang thơ nói, mà
ônu vòn lam sự. hèt nói chuyện trên trời, chuyện dưới đất, thú thơ, thú rượu,
thu thanh sắc, xuất hiện nhừns câu thơ có tính đổi thoại:
Thiền tào tra sỏ xét vừa xong
Đệ sô lên trình Thượng đẽ ỉrônẹ
- "Bám cỏ tên Nguyên Khăc Hiên
Dây XUÓI1ÍỊ hạ ínới vì tội n gỏ n%
18
Trời rủníỊ: " Không phai là tròi LỈC1 Y,
Trời dinh sai con một việc nìiy
ỉ.c) việc thiên hrơníỊ cua nhân /oại,
Cho con xnông thuật cùng đời hay. "
( Hầu tròi, Tản Đà )
Tuy vậy, Tàn Đà von xuất thân ià một nhà nho, chịu anh hươns nép
sốnu cua cha ône mình, thơ ôns vần 2 Ìừ được phoniĩ thái untĩ đunn, kiêu cách.
Mặc dù có ý thức đôi mơi nhirntĩ chưa thê bước hãn khỏi imườim cửa anh
huonu nhừna ơiai tầrm văn học, Năn hóa trun« đại. Sự cách tân của Tản Đà
mới chi là sánu tạo trên nhừĩìũ sì quen thuộc cua truyền thổnu. Đê tạo nên
một cuộc "cách mạn» thi ca” thì phai cần đến lớp người mới, những trí thức
Tây học tre tuôi, được sông trona xã hội, văn hóa, văn học hiện đại, mới có
thê tạo ra sự chuyển đổi có tính dứt khoát đế hình thành nên một nền văn học

Nhớ ai dãi năng dâm strong
Nhớ ai tát nước bên đường hỏm nao
0 cùnu thời đại, các sáng tác cua Tản Đà Nmiyễn Khắc Hiếu, Á Nam
Tràn Tuân Khải là thời ki quá độ, thư của các ông tuy chưa đạt đến sự hiện
dại hoàn toàn song đã có sự phá cách, tự do, mới mẻ trong cảm xúc và nghệ
thuật biêu hiện. Đó là nhừim đóng lĩóp đántĩ quý tronơ nhừna đôi mới về tư
duy và nahệ thuật thơ ca trên chặng đườrm hiện đại hoá. Hai tác giả đã dừníỉ
lại ở vị trí ngà ba đường và chuyển giao chặng đườne mới cho thể hệ tiếp sau.
Tương Phô là nhà thơ có tiếng đươna thời, mặc dầu thơ bà là hiện thân
cho Iìhừnu tình cảm marm mầu sac lănu mạn "tình sầu”, “thảm cánh” với nồi
buôn chuns cua cả một lớp người bên cạnh nồi niềm riênii tư của thân phận
so;i bụa, nhirniỉ bà \ần chưa vượt qua được khuynh hưởng cô điên. Bà khôn«
20
dám phiêu lưu troim tình cam dê thoá mãn nlũrim ước HLỉuyện cá nhàn, hay
troim hình thức biêu hiện, vần chưa thoát khỏi vết tích khuôn sáo, SIÒ bó.
Vóc m ai ÍỊÙV võ tuyêt smrniỊ
Tám thu chiẻc bách cánh huòm bơ vơ
Cùim thời và cùnu canh imộ, Đônu Hô vói cốt cách cô kính, tranu nhã
và mariíí phonu vị Đườntĩ thi qua niiừim hai thơ "hoạ canh ngụ tinh", ôim \ lết
lên nhừim vần thơ bi ai trước những cảnh tane tóc và chia lìa của đòi minh.
VIặc du chứa yéu tỏ lãnụ mạn. song nhìrim bài thơ "khóc vợ, khóc chồng"
J o • ’ C - o * ’ o
chưa thực sự mới mẻ và còn lạc lòne so với nhừna rmười ở thế hệ sau.
• * • ẽ . >—• ' •
Phan Khôi, người cỏ công đầu troim Phong trào Thơ mới, nuay từ năm
192(X đà hộc lộ nhừng quan điẻm mới khi viết về luật thơ Đưòng trẽn Đỏng
Pliáp thời báo: "Song từ ngày đem thủi ngôn luật vào khoa cư ròi thì thê thơ
trơ nên bó buộc quá mà mát cà sanh thú Nhưng mà ngày nay, người ta cũng
tuân theo, khàng biêt cởi mình ra khỏi trói"
Năm 1929, Trịnh Đình Rư đã bày tỏ quan điểm đổi mới thơ ca đồng

chính trị, xã hội nước ta có nhiều biến động dừ dội. Từ năm 1924-1930, dưới
sự chén ép, bóc lột của thực dân Pháp, cuộc sổng của siai cấp tiểu tư sán
thành thị trở nên rất bấp bênh, ngột ngạt, một số imười tot nghiệp ở Pháp về
thì
"bị dưa đên một cuộc sóníỊ không có triên vọng và đặt ớ trong một tình
trạng không thê sư dụng kiên thức và khá năng của mình" [12, tr. 23]. Do
vậy, họ luôn cỏ tinh thẩn bất mãn với hiện thực. Trona hoàn cảnh đó, họ lại
tiếp thu tư tưỏng cách mạnu từ nước nuoài, cụ thể là Nua và Truntí Quốc.
Tầng lớp này phân hóa và lập ra các tô chức cách mạn»: Việt Nam quốc dân
Đảnti, Thanh niên cách mạng đồn» chí hội soníĩ nuọn cờ tư san đà lồi thời.
Cuộc khới ntỉhìa Yên Bái vào đèm 9-2-1930 thất bại khôim nhừns kết thúc
■>")
vận mệnh cua Việt Nam quỏc dân Danu mà còn kêt thúc hãn nhữim phonu
trào dàn tộc có tính chût đâu tranh cua üiai câp tir san ơ nước ta.
Thánu 2-1930, Danu Cộnu Sản Đôim Dươnu ra đòi đã phát dộim một
cao trào cách mạim khăp toàn quôc suốt hai năm 1930-1931 mà đỉnh cao nhât
là Xô Viêt Nụhệ lình. Iloanu Ilôt trước plions trào cách mạnu lên cao, bọn đế
quôe tiên hành kliunu bỏ ụay tiăt. Trước hết là dàn áp phong trao Việt Nam
quôc dân Đủntĩ rỏi dên phone trào Xô việt Niĩhệ lình bị tấm troníỉ bê máu.
Thèm vào đo, nhừnu nám này nạn khung hoảnu kinh tế kéo dài. Nhữim
yêu tỏ trên đà tạo ra tâm lí hoana manu, mất phương hướng của tân ạ lớp trí
thức tiêu tư san. Họ đành rút khỏi vũ đài đấu tranh chính trị, xà hội và thu
hẹp, hướng vào con nmròĩ cá nhàn, rièns tư của mình, nói như Hoài Thanh
"mât hê rộng ta đi tìm bê sâu" và đên thời điêm 1932, cùng một lúc Phong
trào Thơ mói và tiêu thuyêt Tự lực văn đoàn ra đời. Đây cũng là nguyên nhân
cư bán đế ra hiểu được cội nguồn “nồi buồn thế /lệ" và “thiếu một niềm tin
đây đu" trong Thơ mới, done thời cune thấu được: nồi buồn ấy cũng là tấm
lỏng dành cho gianụ sơn, đất nước.
Ba mươi năm đâu, với nhừnẹ biến cố trong đời sổng xã hội, lịch sử,
văn hỏa và nhừne diễn tiến tro nu đời sống văn học là sự chuẩn bị, phôi thai và

Thương được chừng nào hay chừng nấv, chăng qua ỏng Tròi bat đôi ta
phai vậy.
Ta ici nhân ngài, đàu có phải vợ chông mà tính việc íhùv chung
Hai mươi hỏn năm san, tình cờ đát khách gặp nhau:
l)ôi cái đâu đêu bạc. Nêu chăng quen lung, đỏ có nhìn ra được!
On chuyện cù mà thỏi. Liée đưa nhau đi rỏi, con mát còn cỏ đuôi
(Tình ơi¿ 1 Phan Khôi)
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status