khảo sát tình hình bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ,các bệnh liên quan khác và các biện pháp phòng trị tại trại heo trịnh xuân hướng - Pdf 30


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
 Luận văn tốt nghiệp
Ngành: THÚ Y Tên đề tài:
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH BỆNH TIÊU CHẢY Ở
HEO CON THEO MẸ,CÁC BỆNH LIÊN QUAN
KHÁC VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI
TRẠI HEO TRỊNH XUÂN HƯỚNG

TRỊNH XUÂN HƯỚNG Giáo viên hướng dẫn:
Ths: Phạm Hoàng D
ũng
Cần Thơ, 2014

Sinh viên thực hiện:
Lâm Bình An
MSSV: 3102928
L
ớp: Thú Y K
36
i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

ần Thơ, ngày tháng năm 2014
Duyệt Bộ Môn
C
ần Thơ, ngày tháng năm 2014
Duyệt Giáo viên hướng dẫn
C
ần Thơ, ngày tháng năm 2014
Duyệt Khoa Nông nghiệp & SHƯD
Phạm Hoàng Dũng ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì
công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả luận văn

Lâm Bình An

Thầy Lê Hoàng Sĩ cùng tập thể lớp Thú Y 36, tất cả những người thân, những
người bạn đã động viên chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua.
Xin chân thành cảm ơn.! LÂM BÌNH AN iv

MỤC LỤC
Trang

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 SƠ LƯỢC 2
2.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 2
2.1.2 Những nghiên cứu về bệnh ở Việt Nam 2
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA HEO CON 4
2.2.1 Đặc điểm về thần kinh và cơ quan điều nhiệt 4
2.2.2 Đặc điểm cơ quan tiêu hóa heo con 5
2.2.3 Đặc điểm thích ứng của heo con 8
2.2.4 Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa 8
2.3 MIỄN DỊCH Ở HEO CON 10
2.4 BỆNH TIÊU CHẢY PHÂN TRẮNG Ở HEO CON 10
2.4.1 Nguyên nhân gây bệnh 11
2.4.2 Cơ chế phát bệnh 18
2.4.3 Triệu chứng và bệnh tích 19
2.4.4 Điều trị 20
2.5 VÀI NÉT VỀ CÁC BỆNH LIÊN QUAN KHÁC 22

4.4 TỈ LỆ CHẾT 40
4.5 TỶ LỆ CÒI 41
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1 KẾT LUẬN 43
5.2 ĐỀ NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44 vi

DANH MỤC BẢNG
Trang

Bảng 1 : Lịch vaccin cho heo nái 32
Bảng 2: Lịch tiêm phòng vaccine cho heo con 33
Bảng 3: Tình hình tiêu chảy của heo con 35
Bảng 4: Tình hình tiêu chảy ở heo co con theo lứa đẻ 37
Bảng 5: Hiệu quả điều trị bệnh 38
Bảng 6: Trọng lượng trung bình qua các giai đoạn: 39
Bảng 7: Tăng trọng của heo con qua các giai đoạn: 39
Bảng 8: Tỉ lệ chết của đàn heo 40
Bảng 9 : Tỉ lệ heo còi 41 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang .

Biểu đồ 1: Tỉ lệ tiêu chảy ở heo con qua các giai đoạn 36
Biểu đồ 2: Tỉ lệ tiêu chảy ở heo con theo lứa đẻ 37
Biểu đồ 3 : Tăng trọng tuyệt đối của heo con 39

sinh là 1.4(kg/con), 7 ngày tuổi 2.8(kg/con), 14 ngày tuổi 4.4(kg/con) và 21 ngày
tuổi là 5.9(kg/con). Tỉ lệ chết ở heo con theo mẹ qua quan sát và ghi nhận có kết
quả là 11.8%. Chủ yếu chết ở giai đoạn 0-10 ngày tuổi là cao (9,2%) so với giai
đoạn 11-21 ngày tuổi (2.9%). Tỉ lệ heo còi là: 5.3%.
Qua khảo sát hiệu quả điều trị bệnh tiêu chảy ở heo con tại trại bằng loại
thuốc Enrobac cho hiệu quả khá tốt, tỷ lệ khỏi bệnh 96,4%. Thời gian điều trị chỉ
kéo dài trong ngày, tỷ lệ heo chết và heo còi sau điều trị thấp.
1
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăn nuôi heo là nghề truyền thống của nước ta nhưng để chăn nuôi heo phát
triển tốt hơn theo hướng gắn với thị trường, an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo vệ
môi trường nhằm nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an toàn thực
phẩm, các địa phương đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chăn nuôi có lợi thế
và khả năng cạnh tranh khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư chăn nuôi theo
hướng trang trại, hổ trợ tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi truyền thống chuyển dần
sang chăn nuôi trang trại và công nghiệp.
Cùng với việc chăn nuôi được mở rộng thì dịch bệnh là yếu tố không nhỏ
ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi. Một trong những bệnh gây thiệt hai kinh tế cho
các cơ sở chăn nuôi heo sinh sản là bệnh phân trắng heo con ở giai đoạn sơ sinh đến
21 ngày tuổi. Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới. Ở các nước đang phát triển như
Việt Nam xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời tiết có sự thay đổi đột ngột
(lạnh, ẩm, gió lùa ) kết hợp với các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo
vệ sinh ; heo bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress, heo con sinh ra không được bú sữa
kịp thời hoặc do sữa đầu của mẹ thiếu không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng. Khi
heo con mắc bệnh nếu điều trị kém hiệu quả sẻ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến
giống, cũng như khả năng tăng trọng của chúng, gây tổn thất lớn về kinh tế. Do đó

Niconxki V.V. (1971) đã nhấn mạnh “khi cơ thể gia súc non bị lạnh kéo dài
sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm số lượng bạch cầu và tác dụng thực bào,
giảm khả năng diệt trùng của máu do đó gia súc dễ bi vi khuẩn tấn công”.
Năm 1992, Fairbrother J.M và cộng sự cho biết độc tố Enterotoxin do E.coli
sinh ra Enterotoxinogenic Escherichia coli (ETEC) gây ỉa chảy trầm trọng cho heo
con từ 1- 4 ngày tuổi.
Năm 1972, Mouwen đã kết luận niêm mạc ruột non của heo có sự biến đổi
lớn trong trường hợp heo con ỉa phân trắng do Rotavirus.
Akita và cộng sự (1993) đã nghiên cứu sản xuất kháng thể đặc hiệu qua lòng
đỏ trứng gà dung trong phòng và chữa bệnh tiêu chảy ở heo con.
2.1.2 Những nghiên cứu về bệnh ở Việt Nam
Bệnh phân trắng heo con ở nước ta đã được nghiên cứu từ năm 1959 tại các cơ
sở chăn nuôi tập trung ( trại chăn nuôi và các nông trường quốc doanh)
Năm 1993, Lê Văn Tạo và cộng sự đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh của các
chủng E.coli gây bệnh, chọn chủng E.coli để chế tạo vacxin chết dưới dạng cho
uống. Vacxin dung cho heo con sau đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/con liên tục trong 3
– 5 ngày. Kết quả làm giảm tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở heo con từ 30 – 35% so với
đối chứng.
Theo Nguyễn Như Thanh và cộng sự (2001) thì bệnh phân trắng heo con là
một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sang rất đa dạng, đặc biệt là 3
dạng viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh. Tác nhân gây bệnh chủ yếu là
E.coli, ngoài ra còn có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus,
Streptococcus. Bệnh xãy ra quanh năm ở những nơi tập trung nhiều gia súc, bệnh
thường phát mạnh từ mùa đông sang mùa hè (tháng 11 đến tháng 5) đặc biệt khi
thời tiết thay đổi đột ngột ( từ oi bức chuyển sang mưa rào, từ khô ẩm chuyển sang
rét). Tỷ lệ mắc bệnh tới 50% và tỷ lệ chết 30 – 40% ( Nguyễn Như Thanh, 1997 ).
Lý Thị Liên Khai (2001) đã phân lập và xác định độc tố ruột và các chủng

công kháng thể E.coli dạng bột từ long đỏ trứng gà đã được miễn dịch các chủng
K88; K99; 987P.
Trịnh Quang Tuyên (2005) qua nghiên cứu cho rằng tỷ lệ nhiễm vi khuẩn
môi sinh trong các trại chăn nuôi tập trung cao có liên quan đến tình hình dịch bệnh
của đàn heo. Trong đó E.coli có tỷ lệ nhiễm từ 28,5% đến 44.1%, Staphylococcus
spp từ 29.8% đến 38.9%, Streptococcus từ 24.3% đến 41.3%, giảm xuống khi cơ sở
chăn nuôi được cải tạo chuồng trại và nguồn nước cấp.
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA HEO CON
2.2.1 Đặc điểm về thần kinh và cơ quan điều nhiệt
Cơ thể heo con phát triển chịu sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh, tính
thống nhất của cơ thể với ngoại cảnh nhờ vai trò của hệ thần kinh. (Trương Lăng
2003).
Tuy nhiên ở heo con lúc mới sinh các cơ quan đều chưa thành thục về chức
năng, đặc biệt là hệ thần kinh. Do đó heo con phản ứng rất chậm chạp đối với yếu tố
ngoại cảnh tác động lên chúng. Do chúng chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa
cũng dễ bị rối loạn hoạt động và rất dễ bị bệnh (Đào Trọng Đạt, 1996).
Hệ thần kinh điều khiển sự cân bằng thân nhiệt của heo con chưa phát triển
đầy đủ, mô dưới da chưa phát triển và glycogen trong cơ thể còn thấp, da mỏng
lông thưa nên chống lạnh kém, dễ nhiễm lạnh và rối loạn hoạt động của cơ quan
trong đó có cơ quan tiêu hóa (Lê Hồng Mận, 2002)
Theo Phùng Thị Văn (2004) cho rằng: Heo con dưới 3 tuần tuổi, có khả năng
điều nhiệt chưa hoàn chỉnh, nên thân nhiệt heo con chưa ổn định, nghĩa là sự sinh
nhiệt và thải nhiệt chưa cân bằng.
Trên cơ thể heo con, phần thân có nhiệt độ cao hơn phần chân và phần tai. Ở
phần thân thì nhiệt độ ở bụng là cao nhất cho nên khi bị cảm lạnh thì phần bụng bị
mất nhiệt nhiều nhất.
Lúc còn ở trong bụng mẹ, sự trao đổi nhiệt của bào thai được xác định do
thân nhiệt của heo mẹ. Sau khi sinh cơ thể của heo con chưa có thể bù đắp được
lượng nhiệt mất đi do ảnh hưởng của môi trường bên ngoài.Vì vậy, hầu như tất cả
heo con sau khi sinh đều bị giảm thân nhiệt, sau đó thân nhiệt dần tăng lên cho nên

ngay, tiêu hóa lactose ngay, sau 2 tuần tuổi mới tiêu hóa saccharose, sau 3 tuần tuổi
mới tiêu hóa tinh bột.
Heo con trước 1 tháng tuổi có hàm lượng HCl tự do trong dạ dày rất ít, giai
đoạn này gọi là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên giúp cơ thể thẩm thấu được
các kháng thể miển dịch trong sữa đầu của heo mẹ. Dịch vị không có hoạt tính phân
giải protein mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu, albumin va globulin được chuyển
xuống ruột để vào máu.
Tuy nhiên, heo con trên 14 – 16 ngày tuổi thì tình trạng thiếu HCl ở dạ dày
không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và cộng sự,
1996). Vì vậy việc tập cho heo con ăn sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl ,
giúp hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng
miễn dịch của cơ thể. 6
Sau 20 ngày lượng sữa ở heo mẹ giảm dần trong khi nhu cầu dinh dưỡng của
heo con tăng lên. Vì vậy heo con rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng. Để khắc
phục tình trạng này cần tập cho heo con ăn sớm để bổ sung them chất dinh dưỡng,
có tác dụng kích thích tăng tiết dịch, tăng hàm lượng HCl và men tiêu hóa, sự phát
triển của dạ dày và ruột để đáp ứng kịp thời với chế độ sau cai sữa.
Nói chung heo con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hóa tốt các chất dinh dưỡng
trong sữa heo mẹ, còn khả năng tiêu hóa thức ăn kém. Trong khâu nuôi dưỡng
chúng ta cần chú ý chế biến thức ăn tốt để nâng cao khả năng tiêu hóa ở heo con.
 Tiêu hóa ở miệng:
Heo mới sinh trong những ngày đầu hoạt tính amylaza nước bọt cao. Nếu
heo con tách mẹ sớm, hoạt tính amylaza nước bọt cao nhất ở ngày thứ 14, còn heo
con do mẹ nuôi phải đến ngày thứ 21. Tùy lượng thức ăn, lượng nước bọt tiết khác
nhau. Thức ăn có phản ứng acid yếu và khô thì nước bọt tiết ra mạnh, thức ăn lỏng
thì giảm hoặc ngừng tiết dịch. Vì vậy cần chú ý không cho heo con ăn thức ăn lỏng
(Trương Lăng, 2004).

Heo dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có acid Chlohydric (HCl) tự do, vì
lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với niêm dịch và thức ăn, làm
hàm lượng HCl tự do rất ít hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày heo con bú sữa, hiện
tượng này gọi là thiếu HCl. Vì thiếu HCl tự do trong dịch vị nên hệ vi sinh vật phát
triển gây bệnh đường tiêu hóa ở heo con. Đến 25 ngày tuổi, trong dạ dày heo con mới
có HCl tự do, trên 40 ngày tuổi tính kháng khuẩn xuất hiện (Trần Cừ, 1972).
Tiêu hóa ở ruột:
Heo con tiêu hoá ở dạ dày chỉ mới bắt đầu, tiêu hoá ở ruột non mới là chính.
Quá trình tiêu hoá ở ruột non rất phức tạp vì dịch vị, dịch mật và dịch ruột đều đổ
vào đấy. Sự tiêu hoá ở ruột non heo thời kì đầu rất mạnh do hoạt tính cao của
enzym dịch tụy (Trần Cừ,1972).
Tiêu hoá ruột non nhờ tuyến tuỵ. Emzym tripsin trong dịch thuỷ phân protein
thành axit amin.
Trong dịch ruột heo có chứa enzyme tiêu hoá như: amino peptidaza,
dipeptidaza, enterrokinaza, lipaza và amilaza. Dịch ruột tác động tiêu hoá đạt hiệu
quả cao đối với các chất lactose, casein,…ở heo con.
Bên cạnh đó, đối với tiêu hóa của heo con, dịch mật cũng đóng vai trò rất
quan trọng. Dịch mật xúc tiến tiêu hóa lipid và tăng cường nhu động ruột. Vì vậy
heo con cần phải có một lượng dịch mật tương ứng để tiêu hóa lipid trong sữa một
cách dễ dàng (Trần Cừ, 1972). 8
2.2.3 Đặc điểm thích ứng của heo con
Sự thích ứng của heo con khi thay đổi môi trường sống là rất kém. Đặc biệt
là ở giai đoạn heo con chuyển từ sống trong bụng mẹ ra môi trường bên ngoài, từ
nuôi dưỡng qua sữa mẹ đến chế độ tập ăn sớm.
Hơn nữa, sự thành thục và thiếu hoàn chỉnh về chức năng của các cơ quan
nội tạng, nhất là bộ máy tiêu hóa, liên quan mật thiết đến sự phát triển của hệ vi sinh
vật có lợi hoặc có hại trong ruột và sức đề kháng chống lại bệnh tật. Quá trình tuần

sống điều kiện ngoại cảnh, chăm sóc không tốt đều là những stress đối với gia súc
non. Khi chuyển từ bào thai sang nuôi dưỡng bằng sữa mẹ và chế độ tập ăn, tiếp
xúc thường xuyên với môi trường bên ngoài và nhất là điều kiện không vệ sinh, vi
sinh vật dễ dàng gây bệnh đường ruột cho gia súc non, có thể ở dạng cấp tính hay
mãn tính.
Khi động vật sơ sinh được nuôi dưỡng bằng sữa thì trong ruột có nhiều vi
khuẩn lactic. Lúc động vật chuyển sang ăn thức ăn thì thành phần của vi sinh vật
cũng bị thay đổi tuỳ loại thức ăn nếu thức ăn chứa nhiều gluxit thì số lượng vi
khuẩn tạo acid trong ruột phát triển nhanh.
Hệ vi sinh vật có hại thường gặp trong đường ruột là vi khuẩn salmonella
spp, E.coli, một số chủng Clostridium spp, shigella. Cho đến nay nhiều công bố
nghiên cứu khoa học đã cho biết nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc non gồm 3
loại chính là E.coli salmonella spp và Clostridium perfringens.
Trong hệ vi khuẩn đường ruột E.coli là phổ biến nhất và chúng xuất hiện
sớm trong đường ruột người, động vật sơ sinh, thường ở phần sau của ruột, đôi khi
còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể (Nguyễn Như Thanh, 2001).
Clostridium perfringens typ C gây bệnh viêm ruột hoại tử cho heo ở lứa tuổi
1 – 14 ngày tuổi, đặc biệt xãy ra trầm trọng ở 1 – 7 ngày tuổi, tỷ lệ chết cao (50%),
bệnh lây nhiễm qua phân.
Tiêu chảy ở heo con do salmonella cholerasuis gây ra thường thể hiện ở 2
dạng là bại huyết và thần kinh. Khi mổ khám chúng ta thấy có hiện tượng viêm ruột
hoại tử có xuất huyết ở ruột, màng treo ruột, viêm màng ruột đoạn trước trực tràng
phình to.
Trong điều kiện bình thường, vi sinh vật sống cộng sinh trong đường tiêu
hoá của heo con không gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ cho chúng. Nhưng khi điều
kiện sống thay đổi như thiếu dinh dưỡng, thời tiết thay đổi, vệ sinh chăn nuôi
kém,…thì một số vi khuẩn trở thành tác nhân gây bệnh: E.coli, Bacilluc
perfringens… (Trần Cừ, 1972).
Ở trạng thái bình thường giữa cơ thể vật chủ và hệ vi sinh vật trong đường
tiêu hóa củng như giữa các loài vi sinh vật trong khu hệ vi sinh vật với nhau luôn

đầu giúp heo tăng sức đề kháng chống lại một số bệnh cho giai đoạn phát triển của
heo (Lê Minh Hoàng, 2002).
Tuy nhiên còn một yếu tố quan trọng nữa là sự phát triển của hệ vi sinh vật
đường ruột gia súc non có những đặc thù riêng. Việc cân bằng khu hệ vi sinh vật
trong đường ruột nhằm khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển
và trưởng thành của cơ thể heo con là rất quan trọng. Sử dụng chế phẩm sinh học để
phòng và trị tiêu chảy cho heo con là rất cần thiết.
2.4 BỆNH TIÊU CHẢY PHÂN TRẮNG Ở HEO CON
Ở nước ta bệnh thường hay xãy ra nhưng chủ yếu vào mùa đông xuân nhất là
sau những trận mưa lớn, những ngày có độ ẩm cao và thời tiết thay đổi đột ngột.
Ở các trại chăn nuôi tập trung bệnh xãy ra rất nhiều mặc dù thực hiện tốt các
khâu về chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho heo con, heo mẹ nhưng bệnh vẩn
xãy ra lúc lẻ tẻ, lúc ồ ạt gây thiệt hại kinh tế. 11
2.4.1 Nguyên nhân gây bệnh
Theo Đào Trọng Đạt (1996) và Nguyễn Vĩnh Phước (1978) thì bệnh tiêu
chảy ở heo con theo mẹ được xem như là một hội chứng ở đường tiêu hóa gây ra
bởi nhiều nguyên nhân, bệnh có thể do tác động của yếu tố môi trường như điều
kiện thời tiết, thức ăn, nước uống…cũng có thể do yếu tố nội tại bản thân của con
vật về khả năng đề kháng bệnh.
Cho đến nay, việc xác định nguyên nhân chính gây bệnh tiêu chảy heo con
theo mẹ vẫn còn đang tiếp tục tranh luận, nhưng tập trung vào 2 quan điểm lớn sau:
- Quan điểm 1
Bệnh phân trắng heo con trong thời gian theo mẹ không phải là bệnh nhiễm
trùng mà là chứng khó tiêu, hậu quả của các yếu tố ngoại cảnh như: điều kiện ngoại
cảnh thay đổi đột ngột, chất lượng sữa mẹ, vệ sinh chuồng trại kém, khâu chăm sóc
nuôi dưỡng heo con, heo mẹ kém…gây nên.
- Quan điểm 2

lượng để cân bằng nhiệt độ cơ thể với môi trường. Nếu nhiệt độ thấp kéo dài lượng
đường huyết sẽ giảm, sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiết dịch của dạ dày, ruột, dẫn tới
rối loạn tiêu hoá làm cho heo con tiêu chảy (Nguyễn Xuân Bình, 2002).
Bên cạnh đó, ở gia súc non các men tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, đặc biệt trong
dịch vị chưa có đủ HCl tự do nên không hoạt hóa được men pepsin. Vì vậy mà
không tiêu hóa được hết sữa mẹ trong khi sữa mẹ là môi trường phát triển tốt của
nhiều loại vi khuẩn (Sử An Ninh, 1993).
Tuy nhiên, heo còn phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng, ăn
uống không đúng lúc, thay đổi chăm sóc đột ngột, vệ sinh trong chuồng kém, việc
không ổn định thời gian ăn,….tất cả điều có thể gây ra bệnh cho heo con nhất là
bệnh tiêu chảy (Lê Minh Hoàng, 2002).
 Do đặc điểm sinh lý heo con
Theo Đào Trọng Đạt và cộng sự (1996), Hệ vi sinh vật đường ruột heo con chưa
phát triển hoàn thiện, chưa đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa đủ khả năng kháng lại vi
khuẩn gây bệnh, nên rất dễ bị nhiễm bệnh nhất là bệnh về đường tiêu hoá.
Khi mới sinh ra, cơ thể heo con phát triển để dần hoàn chỉnh về cấu tạo, chức
năng hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch. Heo con trước một tháng tuổi không có HCl tự do
trong dịch vị vì lúc này lượng axit tiết ra và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy. Đây là
điều kiện để vi sinh vật phát triển gây bệnh dạ dày - ruột ở heo con. Hơn nữa vì thiếu
axit HCl nên pepsinogen tiết ra không trở thành pepsin hoạt động được gây rối loạn
tiêu hóa sữa, sữa bị kết tủa dưới dạng casein gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy màu phân
trắng (màu của casein chưa được tiêu hóa).
Mặt khác khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh.
Hơn nữa lượng mỡ dưới da của heo con mới sinh chỉ có khoảng 1%. Lúc khí hậu thay đổi
heo con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt. Đặc điểm này đã lý giải tại
sao bệnh lại hay xảy ra hàng loạt ồ ạt khi thời tiết thay đổi thất thường. 13
Theo Cù Xuân Dần (1996) lượng sữa mẹ từ khi đẻ tăng đến ngày thứ 15 là cao

ruột Entero-bacteriaceaae, nhóm Escherichae, loài Escherichia. E.coli là trực khuẩn
đa hình không bắt màu (gram âm) không tạo thành nha bào, phần lớn là di động, có ba
loại kháng nguyên chủ yếu: kháng nguyên O (kháng nguyên thân), kháng nguyên K
(kháng nguyên bề mặt), kháng nguyên H (kháng nguyên lông). Trong các loài E.coli
thì E.coli chủng K thường xuyên gây bệnh tiêu chảy phân trắng heo con theo mẹ. 14
Khả năng chống đỡ của E.coli đối với tác dụng của các yếu tố lý hóa thấp,
chúng bị chết ở 60
0
C trog vòng 15 phút, khi đun sôi chết ngay. Các loại thuốc sát
trùng bình thường giết E.coli trong vòng 15-20 phút. Sức sống E.coli bị giảm xuống
đáng kể khi nhiệt độ chuồng hạ xuống 30
o
C.
Trong các vi khuẩn đường ruột, loài Escherchia E.coli là phổ biến nhất. Loài
này xuất hiện và sinh sống trong đường ruột động vật chỉ vài giờ sau khi sinh và tồn
tại cho đến lúc chết. E.coli sống bình thường trong đường ruột của người và động
vật. khi điều kiện nuôi dưỡng, khẩu phần thức ăn, vệ sinh thú y kém, sức chống đỡ
bệnh tật của con vật kém thì E.coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh.
Theo Hồ Thị Việt Thu (2002), hiện nay người ta phân lập được 163 tuye
E.coli khác nhau và được chia làm 2 nhóm:
Nhóm vi khuẩn không sinh độc tố, không gây bệnh ( Ponpathogenic E.coli)
Nhóm vi khuẩn sinh độc tố, gây bệnh ( Pathogenic E.coli).
Các chủng thường xuyên gây bệnh cho heo là: K88, K99, 987P và F41. Heo
sơ sinh, heo theo mẹ và sau cai sữa đều cảm nhiễm nhưng xảy ra nặng hơn heo dưới
10 ngày tuổi.
Salmonella
Salmonella có mặt trong thức ăn, nước uống, môi trường thiên nhiên và trong

Clostridium perfringens
Một trong những nguyên nhân quan trọng khác đóng vai trò kế phát gây bệnh
là vi khuẩn yếm khí Cl.perfringens hình thành độc tố gây dung huyết, gây hoại tử tổ
chức phần mềm và gây chết. Vi khuẩn có khả năng gây ra các chứng nhiễm độc,
viêm ruột xuất huyết trầm trọng ở heo con.
Các chủng Cl.perfringens sản sinh ra nhiều độc tố và enzym khác nhau, mỗi
chủng có những đặc điểm riêng trong việc sản sinh ra một vài loại độc tố hay
enzym nào đó. Theo Bergeland và Taylor (1992), những độc tố gây bệnh chủ yếu
do Cl.perfringens bao gồm độc tố α, β, δ. Dựa vào hầu hết các đặc điểm mô tả thì
Cl.perfringens typ C gây ra viêm ruột hoại tử.
Đào Trọng Đạt và cộng sự, 1996 cho rằng Clostridium Perfringens được
phân thành 6 serotyp A, B, C, D, E, F. Có 3 loài C. perfringens A, B và C là mầm
gây bệnh đường ruột quan trọng đối với heo. C. perfringens type C là vi khuẩn
gram dương, tạo nha bào, vi khuẩn yếm khí không di động, có kích thước 1-1,5

x
4-8

. Chúng tạo thành bào tử có hình trứng cân xứng hoặc lệch tâm.
Cl.perfringens typ C sản sinh ra độc tố α, β chủ yếu là độc tố β, nhân tố quan
trọng nhất trong sinh bệnh học của bệnh viêm ruột hoại tử do Cl.perfringens typ C
gây ra. Bệnh xảy ra chủ yếu trên heo con ở giai đoạn theo mẹ, lứa tuổi mắc phổ biến
nhất là 12 giờ sau khi sinh ra đến 7 ngày tuổi, hay gặp nhất ở 1 đến 3 ngày tuổi.
Ngoài ra bệnh cũng có thể xảy ra đối với heo con từ 2 đến 4 tuần tuổi và cả khi cai
sữa, heo mắc bệnh thường bị chết ở những ổ heo mẹ không được tiêm phòng, tỷ lệ
khỏi rất thấp, tỷ lệ chết có thể lên tới 100% (Bergeland, Taylor, 1992).
Vi khuẩn còn gây tác hại suốt chiều dài của không tràng, nên tiêu chảy
thường có máu và niêm mạc hoại tử trong phân. Tỷ lệ chết và còi cao ở heo sơ sinh,
heo 3-4 tuần tuổi thì bệnh khó bình phục, tốc độ tăng trưởng chậm.


 Do ký sinh trùng
Các bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hoá cũng là nguyên nhân dẫn đến tiêu
chảy ở heo con cũng như ở một số gia súc khác. Nguyên nhân này xảy ra chủ yếu ở
heo lứa tuổi sau cai sữa, còn heo con theo mẹ ít gặp hơn vì đa số tỷ lệ nhiễm ký
sinh trùng tăng theo độ tuổi của heo.

Trích đoạn Phương tiện khảo sát Khảo sát tình hình chăm sóc nuôi dưỡng nái mang thai TÌNH HÌNH TIÊU CHẢY CỦA HEO THEO MẸ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status